TRUNG TÂM TƯ VẤN NHÂN MỆNH HỌC

CÁC DỊCH VỤ TƯ VẤN SỐ MỆNH VÀ CẢI MỆNH TOÀN DIỆN:

+ XEM SỐ MỆNH VÀ TV PHÁP CẢI MỆNH CÁT TƯỜNG - VUN BỒI HY VỌNG: Xem tại đây

+ MỞ LỚP HỌC DỰ ĐOÁN TỨ TRỤ VÀ QUẺ DỊCH THƯỜNG XUYÊN: Xem tại đây

+ PHÁP TU PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ TOÀN DIỆN - THÀNH BẬC THIÊN TÀI. Xem tại đây

+ NHẬN XEM PHONG THỦY VĂN PHÒNG VÀ NHÀ Ở HỢP MỆNH VẬN.

    * MIỄN PHÍ TƯ VẤN vào Sáng thứ bảy hàng tuần: Xem tại đây

+ Mời đọc: Hướng dẫn Dịch vụ

 Kính chúc quí vị luôn sống với niềm hy vọng vinh quang, vạn sự cát tường như ý!

Luận Về Chánh Thuật

LUẬN VỀ CHÁNH THUẬT
(Luận về Huyền Linh Thuật)
(A TREATISE ON WHITE MAGIC)

HAY

CON ĐƯỜNG CỦA NGƯỜI ĐỆ TỬ
(The way of the Disciple)

Của
ALICE A. BAILEY

Người dịch ....

"Sách Minh Triết Mới rất khó dịch, các bản dịch có thể khác nhau, đề nghị xem thêm: Bản tiếng Anh"

A- GIỚI THIỂU VỀ CHÂN SƯ D.K VÀ BẢN QUYỀN SÁCH: Mời xem tại đây

"Kế đến là Luận về Chánh thuật. Quyển này đã được viết cách đây nhiều năm, và khi viết nó đã được đưa ra từng chương cho các sinh viên cao cấp của Trường Arcane chỉ để dùng làm bài đọc mà thôi. Nó là cuốn sách đầu tiên được đưa ra bàn về việc huấn luyện và kiểm soát thể tinh tú hay là thể cảm dục. Nhiều cuốn sách nội môn đã viết về thể xác, cách thanh luyện nó, và về thể dĩ thái hay là thể sinh lực. Hầu hết chúng là tuyển tập của các sách khác, cả xưa và nay. Tuy nhiên, quyển sách này của tôi thì nhằm huấn luyện người chí nguyện thời nay trong việc kiểm soát thể cảm dục của mình, với sự trợ giúp của thể trí, vì đến lượt thể trí ấy lại được linh hồn soi sáng (Nguồn: Các sách của Chân Sư Tây Tạng)

Đã sửa lỗi đến trang 101
ĐÃ XEM và Làm thích nghĩa ĐẾN TRANG 443 (TỨC TRANG 276 KHỔ A 4)
Quyển này giành cho người chí nguyện, cần xem trước khi xem Luận về lửa càn khôn, vì nói chi tiết về tiểu vũ trụ - Cấu tạo con người

MỤC LỤC NỘI DUNG                                              SÁCH THAM KHẢO

Trang Bản Anh Việt
Các Qui Luật dành cho Huyền Thuật ................................ 10
Các Nhận xét dẫn nhập ....................................................... 3 14
Ba Trạng Thái của Con Người ........................................... 18 32
Qui Luật Một
Vài giả thuyết căn bản ......................................................... 53 74
Con Đường của người đệ tử .............................................. 60 83
Qui Luật Hai
Các chướng ngại đối với việc khảo cứu huyền bí học .... 73 98
Việc khắc phục các trở ngại ................................................ 84 112
Qui Luật Ba
Ánh sáng linh hồnánh sáng thể xác ............................ 93 122
Các nguyên lý và các phàm ngã ........................................ 109 142
Qui Luật Bốn
Công việc sáng tạo của âm thanh ...................................... 125 159
Khoa học về hơi thở ............................................................. 149 188
Qui Luật Năm
Linh hồn và các hình-tư-tưởng của nó ............................. 157 196
Tim, Cổ Họng và Mắt .......................................................... 189 235
Việc khơi hoạt các bí huyệt ................................................ 200 248
Qui Luật Sáu
Hoạt động của Mắt .............................................................. 211 260
Qui Luật Bảy
Bãi chiến trường của cõi cảm dục ...................................... 219 269
Hai con đường ...................................................................... 226 277
Qui Luật Tám
Các loại lực cảm dục ............................................................ 235 287
Sự thăng trầm theo chu kỳ ................................................. 242 296
Qui Luật Chín
Sự cần thiết của thanh khiết ............................................... 257 311
Các hình thức căn bản ......................................................... 261 317
Qui Luật Mười
Việc kiến tạo hình tư tưởng ................................................ 273 328
Các bí huyệt , các năng lượng và các cung ....................... 281 338
Năng lượng cảm dục và sự sợ hãi ..................................... 293 352
Việc sử dụng đúng đắn năng lượng ................................. 311 374
Kỷ nguyên hiện tại và tương lai ........................................ 321 386
Việc thành lập Thánh Đoàn ................................................ 374 452
Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian .............................. 398 481
Chiêm Tinh Học và các Năng Lượng ............................... 434 525
Qui Luật Mười Một
Phân tích ba câu ................................................................... 447 539
Việc giải cứu khỏi các hình tư tưởng của chúng ta ......... 481 580
Việc giải cứu khỏi sự chết ................................................... 492 594
Qui Luật Mười Hai
Buổi Giao thời và các chu kỳ .............................................. 511 614
Các tù nhân của hành tinh .................................................. 521 626
Qui Luật Mười Ba
Các Tứ Nguyên được nhận biết ......................................... 541 649
Sự kết tụ của các hình tư tưởng ......................................... 552 663
Qui Luật Mười Bốn
Các Trung Tâm LựcPrana ............................................ 565 676
Công dụng của đôi tay ........................................................ 575 687
Việc đặt chân lên Thánh Đạo ............................................. 581 695
Việc khơi hoạt các bí huyệt ................................................ 587 702
Qui Luật Mười Lăm
Ý nghĩa huyền bí .................................................................. 601 716
Sự phủ định đại hão huyền ................................................ 611 729
Một lời kêu gọi phụng sự ................................................... 618 737
Các nhóm và việc huấn luyện trong Kỷ Nguyên Mới..... 632 754

Các Qui Luật dành cho Huyền Thuật
(Rules for Magic)
XII
Qui luật 1
Thái Dương Thiên Thần (Solar Angel) bình tĩnh lại, không phân tán thần lực của mình, trong cơn thiền định thâm sâu, giao tiếp với hình ảnh của mình.
Qui luật 2
Khi cái bóng đã đáp ứng, trong cơn thiền định thâm sâu, công việc vẫn tiếp tục. Ánh sáng dưới thấp được ném lên; ánh sáng vĩ đại soi sáng bộ ba, và công việc của bốn được tiếp tục.
Qui luật 3
Năng lượng lưu chuyển. Điểm ánh sáng, sản phẩm do công sức của bốn, hưng thịnh và tăng trưởng. Rất nhiều người tập hợp chung quanh hơi ấm sinh động của nó, cho đến khi ánh sáng của nó mờ dần. Ngọn lửa của nó trở nên lu mờ. Kế đó, âm thanh thứ hai sẽ phát ra.
Qui luật 4
Âm thanh, ánh sáng, sự rung động, và hình tướng phối hợp và hòa nhập; và như thế công việc hợp nhất. Nó diễn tiến theo thiên luật và giờ đây không gì có thể cản trở công việc đang xúc tiến. Con người hít thở sâu. Y tập trung các sức mạnh của mình lại và xua hình tư tưởng ra khỏi y.
Qui luật 5
Ba sự việc lôi cuốn Thái Dương Thiên Thần (Solar Angel) trước khi lớp vỏ (sheath) được tạo ra chuyển xuống phía dưới; tình trạng của nước, sự an toàn của người sáng tạo như thế, và sự nhập định kiên định. Như thế, tim, cổ họng và mắt, được kết hợp cho việc phụng sự tam phân.
xiii Qui luật 6
Chư thiên của bốn cõi thấp cảm nhận được thần lực khi con mắt mở ra; họ được thôi thúc tới trước và đánh mất vị chủ nhân của mình.
Qui luật 7
Các mãnh lực kép trên cõi giới (nơi mà quyền năng quan trọng phải được tìm kiếm) được nhìn thấy; vị Thái Dương Thiên Thần đứng trước hai con đường; các cực rung động. Người đang thiền định phải đương đầu với một sự lựa chọn.
Qui luật 8
Các Hỏa Thần (Agnisuryans) đáp ứng với âm thanh. Nước xuống và lên. Nhà huyền thuật hãy tự bảo vệ mình khỏi chết đuối, vào thời điểm mà đất và nước gặp nhau. Nơi ở giữa, không khô mà cũng không ướt, phải cung cấp chỗ đứng cho y đặt đôi chân lên. Khi nước, đất và không khí gặp nhau, thì huyền thuật có chỗ để thể hiện.
Qui luật 9
Tiếp theo là sự cô đọng xảy ra. Lửa và nước gặp nhau, hình tướng phồng lên và phát triển. Nhà huyền thuật hãy đặt hình tướng của mình vào con đường thích hợp.
Qui luật 10
Khi nước bao phủ hình hài được tạo ra, chúng được hấp thu và được sử dụng. Hình hài tăng thêm sức mạnh của nó; nhà huyền thuật hãy tiếp tục như thế cho đến khi công việc đầy đủ. Bấy giờ các vị kiến tạo bên ngoài hãy ngưng công việc của các ngài, và những vị phụng sự bên trong hãy bắt đầu chu kỳ của họ.
Qui luật 11
Ba điều mà người phụng-sự theo thiên-luật hiện nay phải hoàn tất. Thứ nhất, xác định công thức vốn sẽ giới hạn các sự sống bên trong bức tường bao quanh hình cầu; kế tiếp, phát ra các linh từ vốn sẽ bảo cho chúng biết những gì phải làm và mang những gì xiv đã làm được đi đâu; và cuối cùng, phát ra tập ngữ thần bí vốn sẽ cứu y khỏi hoạt động của chúng.
Qui luật 12
Mạng lưới rung động theo nhịp. Nó co lại và phồng ra. Nhà huyền thuật hãy nắm lấy điểm giữa và nhờ thế giải thoát “các tù nhân của hành tinh” nào mà nốt (note) của họ thích hợp và được điều hợp một cách chính xác với những gì phải được thực hiện.
Qui luật 13
Nhà huyền thuật phải nhận ra cái bốn; hãy chú ý trong công việc của y cái hình bóng màu tím mà chúng chứng tỏ, và cái bóng được tạo ra như thế. Khi điều này là như vậy, cái bóng bao phủ chính nó, và bốn trở thành bảy.
Qui luật 14
Âm thanh nổi lên. Giờ nguy hiểm cho linh hồn dũng cảm đến gần. Khối nước đã không gây tổn thương cho vị sáng tạo trên bạch đạo, và không gì có thể dìm chết cũng không thể làm sũng ướt y. Sự nguy hiểm từ lửa và bây giờ ngọn lửa đang đe dọa, và, người ta thấy cuộn khói bốc lên mờ mờ. Sau chu kỳ bình an, y hãy kêu gọi đến Thái Dương Thiên Thần lần nữa.
Qui luật 15
Các luồng hỏa đến gần cái bóng, nhưng không thiêu đốt nó. Vỏ lửa được hoàn tất. Nhà huyền thuật hãy ngân lên các từ vốn pha trộn lửa và nước.
(Trích từ “Luận Về Lửa Càn Khôn”)
Luận về Huyền Linh Thuật
Các quy luật dành cho Huyền Thuật

CÁC NHẬN XÉT DẪN NHẬP

3 Khi nghiên cứu các ý tưởng được phác thảo trong sách này và xem xét chúng một cách cẩn thận, vài khái niệm căn bản được nảy sinh trong trí :
Thứ nhất, vấn đề vô cùng quan trọng đối với mỗi đạo sinh không phải là sự kiện về phàm ngã của một huấn sư đặc biệt nào, mà là mức độ của chân lý mà vị đó đại diện, và năng lực của đạo sinh đó để phân biệt giữa chân lý, chân lý phiến diện (partial truth, chân lý cục bộ) và sự giả dối (falsity).
Thứ hai, với giáo huấn nội môn ngày càng tăng, đưa đến trách nhiệm thuộc ngoại môn ngày càng nhiều. Do đó, mỗi đạo sinh hãy tự đánh giá về mình một cách sáng suốt, nhớ rằng sự hiểu biết có được thông qua việc áp dụng mức độ chân lý đã được lĩnh hội đối với vấn đề và hoàn cảnh trước mắt, và rằng tâm thức mở rộng nhờ việc vận dụng chân lý đã được truyền đạt.
Thứ ba, một sự gắn bó năng động với con đường đã chọn, và một sự kiên trì bền bĩ để vượt qua và vẫn thản nhiên trước điều gì có thể xảy đến, đó là một điều kiện cần thiết quan trọng nhất và dẫn đến cánh cổng nhập vào một giới, một chiều đo (dimension), và một trạng thái hiện tồn chắc chắn là hướng nội hay chủ quan. Chính trạng thái nhận thức này tạo ra các thay đổi trong hình tướng và môi trường xứng đáng với năng lực của nó.
Ba đề xuất này sẽ đáng được mọi người xem xét cẩn thận, và ý nghĩa của chúng phải được thấu triệt phần nào trước khi có thể có thêm sự tiến bộ thực sự. Nhiệm vụ của Tôi không phải là bắt buộc cá nhân áp dụng giáo huấn được đưa ra. Việc đó phải được mỗi đạo sinh thi hành cho chính mình.

Bạn đã khôn ngoan bảo vệ giáo huấn khỏi sự bại hoại do việc đưa thêm quyền lực vào, và không có nguyên lý nội môn nào thuộc về thẩm quyền hay sự hậu thuẫn của Thánh
4 Đoàn nằm sau các sách của bạn, giống như việc đó đã tạo ra các giới hạn hẹp hòi của một số các nhóm và các đoàn thể thuộc giáo hội, cũng khác nhau nhiều như Giáo Hội Thiên Chúa, Khoa Học Cơ Đốc, những người đó tin vào sự linh hứng theo từng chữ một (verbal inspiration) của các Kinh Thánh (Scriptures), và vô số tổ chức (được gọi là) huyền bí. Tai họa (curse) của nhiều nhóm là lời thì thầm rằng “Các Đấng hiểu biết muốn…”, “Chân Sư nói…”, “Các Đấng Cao Cả ra lệnh…”, và bầy cừu khờ khạo, một cách yếu ớt và mù quáng, chạy xô lên nhau để tuân theo. Do sự tôn sùng bị đặt sai chỗ của họ, vì vậy họ trông mong tiếp xúc với một vài nhân vật có thẩm quyền, và đi vào thiên giới bằng một đường tắt nào đó.
Bạn đã bảo vệ một cách khôn ngoan các sách của bạn khỏi sự phản ứng được ban cho những ai tự cho mình là các bậc thầy, bậc thánhđiểm đạo đồ. Sự nặc danh và trạng thái của Tôi phải được duy trì, và đẳng cấp của Tôi phải được xem như chỉ là đẳng cấp của một đạo sinh già dặn, và của một người khát khao mở rộng tâm thức mà đối với Tôi là bước tiến kế tiếp. Những gì Tôi nói chỉ riêng về chân lý thì rất quan trọng; sự linh hứng và sự trợ giúp mà Tôi có thể ban ra cho bất kỳ người hành hương nào trên thánh đạo thì độc đáo, sinh động; những gì mà Tôi đã học qua kinh nghiệm thì để toàn quyền sử dụng đối với người tìm đạo nhiệt tình; và sự mở rộng linh thị mà Tôi có thể truyền đạt (nhờ Tôi đã trèo cao hơn lên ngọn núi so với một số người khác) là sự đóng góp chính của Tôi. Dựa vào các điểm này, các đạo sinh được tự do để suy tư, bỏ đi sự suy xét vô bổ đối với các chi tiết chính xác về những phàm ngã không quan trọng và các tình trạng đang vây quanh.
Chủ đề của chúng ta sẽ là chủ đề về Huyền Thuật của Linh Hồn (Magic of the Soul), và tư tưởng then chốt, nằm dưới tất cả những gì có thể xuất hiện trong bộ sách này, sẽ được tìm thấy trong các từ ngữ của Chí Tôn Ca (Bhagavad Gita) được viết như sau:
“Mặc dù Tôi không được sinh ra, Linh Hồn vẫn không chết đi, mặc dù Tôi là Chúa Tễ của Muôn Loài (Lord of Beings), nhưng vì Đức Chúa ở trên bản thể của Tôi (My nature), nên Tôi bắt đầu biểu lộ, nhờ sức mạnh huyền diệu của Linh Hồn”. Gita IV. 6.
5 Việc nghiên cứu về thống kê và học thuật là một nền tảng cần thiết và một giai đoạn khởi đầu đối với hầu hết sự khảo cứu khoa học, nhưng trong sách này chúng ta sẽ tập trung sự chú ý của chúng ta vào khía cạnh sự sống, và việc áp dụng thực tế chân lý vào cuộc sống hằng ngày của người tìm đạo. Chúng ta hãy nghiên cứu xem làm thế nào chúng ta có thể trở nên các nhà huyền thuật thực hành; và theo cách nào mà chúng ta có thể sống cuộc đời tốt đẹp nhất của một con người tinh thần, và của một người mong mỏi địa vị đệ tử nhập môn, theo các thời kỳ, trạng thái và môi trường đặc biệt riêng của chúng ta.
Để làm điều này, chúng ta sẽ chọn Mười Lăm Qui Luật về Huyền Thuật có trong quyển sách trước đây của Tôi, tựa đề Luận Về Lửa Càn Khôn. Tôi sẽ dẫn giải về chúng, không đề cập đến ý nghĩa vũ trụ của chúng, hoặc đến các tương ứngcác tương đồng về thái dương hay về điều gì khác, nhưng áp dụng chúng vào công việc của người tìm đạo, và đưa ra các gợi ý thực hành đối với việc phát triển tốt hơn sự tiếp xúc với linh hồn và sự biểu lộ của linh hồn. Tôi sẽ cho một số kiến thức là đúng, và giả định các đạo sinh có thể noi theo và hiểu được một vài thuật ngữ chuyên môn mà Tôi có thể bị đưa đến sử dụng chúng. Tôi không đề cập đến người non nớt, mà là đến những người nam và nữ già dặn, tức là những người đã chọn một đường lối nào đó, và cam kết “bước đi trong ánh sáng”.
Trong sách này, Tôi tìm cách làm bốn điều, và tìm cách kêu gọi đến ba hạng người. Về giáo huấn của nó, sách này được dựa vào bốn định đề căn bản (fundamental postulates). Các định đề này được dự định để:
1. Giảng dạy các định luật về tâm lý học tinh thần khi được phân biệt với tâm lý học trí tuệ và tình cảm.
2. Làm rõ bản chất của linh hồn con người và các mối liên hệ của linh hồn với thái dương hệvũ trụ. Điều này sẽ bao gồm cả các mối quan hệ tập thể của nó như là một giai đoạn mở đầu.
3. Chứng minh các mối liên hệ giữa Chân Ngã (self) với các thể thấp (sheaths, lớp vỏ) mà Chân Ngã đó có thể sử dụng, và nhờ đó làm sáng tỏ ý tưởng chung (public thought) về cấu tạo của con người.
4. Giải thích vấn đề về các năng lực phi thường (super-
6 normal powers), và đưa ra các qui luật đối với sự phát triển an toàn và hữu ích của chúng.
Giờ đây chúng ta hướng đến việc kết thúc một thời kỳ chuyển tiếp lớn lao, và các lĩnh vực tinh anh hơn của sự sống lại gần gũi hơn bao giờ hết trước đây. Các hiện tượng khác thường và các biến cố không thể giải thích trở nên thông thường hơn bất cứ lúc nào từ trước tới nay, trong khi các vấn đề thuộc về viễn cảm (telepathic), về tâm thông (psychic), và có tính chất kỳ dị chiếm lĩnh sự quan tâm ngay cả của những kẻ hoài nghi, các nhà khoa học và các chức sắc tôn giáo. Các lý do đối với việc xuất hiện của các hiện tượng này đang được tìm kiếm ở khắp nơi, còn các hội đoàn được thành lập cho việc điều tra và giải thích chúng. Nhiều người đang lạc lối trong cố gắng đem lại trong chính họ các tình trạng thông linh và các nhân tố tạo năng lượng, các điều vốn gây ra sự biểu lộ của các quyền năng đặc biệt. Quyển sách này sẽ cố gắng để thích ứng thông tin được đưa ra với cơ cấu của đời sống, theo như chúng ta nhận biết về nó ngày nay, và sẽ cho thấy tất cả những gì được gọi là bí ẩn, về cơ bản là trung thực và tự nhiên đến thế nào. Tất cả đều theo thiên luật, và bây giờ các định luật đều cần sự giải thích, vì sự phát triển của con người đã đạt đến trình độ của một sự thẩm định chính xác hơn về vẻ đẹp và tính chân thực của chúng.
Ba hạng người sẽ đáp ứng với sách này. Họ là:
1. Những người tìm hiểu có trí tuệ cởi mở, họ đang quyết tâm chấp nhận các nguyên tắc cơ bản của nó như là một giả thuyết căn bản, cho đến khi nào các giả thuyết đó được chứng minh là sai lầm. Họ sẽ là người chân thành theo thuyết bất khả tri, nhưng trong việc tìm kiếm chân lý của họ, tạm thời họ muốn thử nghiệm các phương pháp và noi theo các đề xuất được đặt ra cho họ xem xét.
2. Những người tìm đạo và các đệ tử. Họ sẽ nghiên cứu bộ luận này để tự hiểu chính họ rõ hơn, và vì họ muốn giúp đỡ người huynh đệ của họ. Họ sẽ không chấp nhận lời quả quyết của nó một cách mù quáng, mà sẽ thực nghiệm, kiểm tra và
7 chứng thực một cách thận trọng các giai đoạn và các bước được đề ra cho họ trong đoạn này của các giáo lý về Minh Triết Muôn Thuở (Ageless Wisdom).
3. Các điểm đạo đồ. Những người này sẽ đạt đến một ý nghĩa vốn sẽ không hiển hiện đối với những người thuộc nhóm thứ nhất, và vốn sẽ chỉ được hoài nghi bởi những người tiến hóa hơn của nhóm thứ hai. Tự trong thâm tâm họ, họ biết rõ chân lý của nhiều phát biểu của bộ sách, và sẽ nhận biết sự phát triển bên trong (the subjective working out) của nhiều định luật. Các định luật thiên nhiên này có các ảnh hưởng trong ba lĩnh vực rõ rệt:
a/ Về mặt hồng trần, nơi mà chúng thể hiện như là các tác động trong hình hài trọng trược.
b/ Về mặt dĩ thái (etherically), nơi mà chúng thể hiện dưới hình thức năng lượng nằm sau các tác động này.
c/ Về mặt trí tuệ (mentally), nơi mà chúng liên quan với các xung lực vốn tạo ra hai lĩnh vực kia.
Bộ “Luận Về Lửa Càn Khôn” chủ yếu đề cập đến thái dương-hệ, và chỉ bàn về các khía cạnh và các tương ứng của con người ở mức độ mà chúng biểu hiện mối quan hệ của thành phần đối với tổng thể, và của đơn vị đối với toàn thể.
Còn bộ sách này sẽ đề cập đặc biệt hơn đến sự phát triển và khai mở của nhân loại, giải thích các nguyên nhân chịu trách nhiệm đối với các kết quả hiện nay, và chỉ ra tương lai và các triển vọng của nó, đồng thời nêu ra bản chất của các tiềm năng đang khai mở.
Bộ sách này cũng sẽ được dựa vào bốn định đề căn bản, chúng phải được thừa nhận bởi môn sinh của các trang kế tiếp với vai trò cung cấp một giả thuyết thích hợp cho việc xem xét và thử nghiệm của y. Không một nhà sưu khảo chân thật nào của Minh Triết Muôn Thuở bị đòi hỏi phải tuân thủ mù quáng theo bất kỳ sự trình bày chân lý nào; tuy nhiên, y được đòi hỏi phải có một tâm trí cởi mở, và nghiêm chỉnh cân nhắc và xem xét các lý thuyết và các ý tưởng, các định luật và các chân lý, vốn đã hướng dẫn rất nhiều người ra khỏi bóng 8 tối, đi vào ánh sáng của tri thức và kinh nghiệm. Các định đề
( ) có thể được liệt kê như sau, và được đưa ra theo thứ tự quan trọng của chúng.
I. Định đề thứ nhất: Trong vũ trụ biểu lộ của chúng ta, đang tồn tại sự biểu hiện của một Năng Lượng (Energy) hay Sự Sống (Life), vốn là nguyên nhân chịu trách nhiệm về các hình thức (forms) khác nhau và hệ cấp (hierarchy) rộng lớn các sinh linh hữu tình (sentient beings) vốn hợp thành tổng thể của tất cả những gì hiện tồn. Đây là cái được gọi là thuyết vật-hoạt-luận (hylozoistic theory, thuyết này chủ trương rằng vật chất nào cũng có sự sống. – Từ Điển Oxford 1994), mặc dù thuật ngữ đó chỉ làm cho rối trí mà thôi.
Sự Sống vĩ đại này là căn bản của Nhất-Nguyên-Thuyết (Monism − Thuyết này chủ trương vạn vật chỉ có một bản thể, hay do một nguyên tố mà thôi. Thí dụ: Thuyết duy vật là một nhất nguyên thuyết. Trích: Từ Điển và Danh Từ Triết Học, 1969, của Tiến Sĩ Triết Học Trần Văn Hiến Minh), và tất cả những người giác ngộ đều là người theo Nhất Nguyên Thuyết (Monists). “Thượng Đế là Đấng Duy Nhất” (“God is One”) là lời phát biểu về chân lý. Một sự sống thấm nhuần mọi hình hài và các hình hài này là các biểu lộ, trong thời giankhông gian, của năng lượng vũ trụ trung ương. Sự sống đang biểu lộ tạo ra sự hiện tồn (existence) và bản thể (being). Vì vậy, đó là nguyên nhân gốc của nhị-nguyên-tính (duality). Nhị-nguyên-tính này, vốn được nhìn thấy khi tính-khách quan hiện hữu, và biến mất khi khía cạnh hình tướng tan biến, được bao hàm bởi nhiều tên gọi, mà để cho sáng tỏ, các tên gọi thông dụng nhất có thể được liệt kê ở đây:
Tinh Thần (Spirit) Vật chất (Matter)
Sự Sống (Life) ......................... Sắc tướng (Form)
Cha ........................................... Mẹ
Dương/Tích cực ..................... Âm/Tiêu cực
Bóng tối ................................... Ánh sáng
Các đạo sinh phải có sự đồng nhất căn bản (essential unity) này một cách rõ ràng trong trí ngay cả khi họ nói (như chúng cần phải có) theo thuật ngữ hữu hạn về nhị-nguyên tính đó, nó vốn hiển hiện ở khắp nơi, theo chu kỳ.
II. Định đề thứ hai nảy sinh từ định đề thứ nhất và phát biểu rằng Sự Sống duy nhất, biểu lộ qua vật chất, tạo ra yếu tố thứ ba, đó là tâm thức. Tâm thức này, nguyên là kết quả của sự hợp nhất của hai cực tinh thần và vật chất, là linh hồn của vạn vật; nó thấm nhuần mọi chất liệu hay là năng-lượng khách-quan; nó nằm dưới mọi hình hài, dù cho đó là hình hài của loại đơn vị năng lượng mà chúng ta gọi là một nguyên tử, hay là hình hài của con người, một hành tinh, hoặc là một thái-dương-hệ. Đây là Lý Thuyết Về Quyền Tự Quyết (Theory of
9 Self-determination) hay là giáo lý chủ trương rằng tất cả sự sống mà trong đó sự sống duy nhất được tạo thành, trong phạm vi của chúng và trong trạng thái hiện tồn của chúng, có thể nói là đang trở thành có cơ sở trong vật chất, và khoác lấy các hình thức mà nhờ đó trạng thái tâm thức đặc biệt riêng biệt của chúng có thể được nhận ra, và rung động của chúng được ổn định; như thế chúng có thể tự biết chính mình như là các sự sống (existences). Thế là, lần nữa Sự Sống duy nhất trở thành một thực thể ổn định và hữu thức qua trung gian của thái-dương-hệ, và do đó, về thực chất là toàn thể các năng lượng của mọi trạng thái tâm thức, và của mọi hình tướng trong sự hiện tồn. Tính thuần nhất (the homogeneous) trở thành tính không thuần nhất (the heterogeneous), tuy thế vẫn là một cái đơn nhất (a unity); cái duy nhất (the one) biểu lộ thành thiên hình vạn trạng (diversity) và tuy thế vẫn bất biến. Cái đơn nhất trung ương được nhận biết trong thời giankhông gian như là kết hợp (composite) và bị phân hóa (differentiated), tuy thế, khi thời giankhông gian không hiện hữu (vốn chỉ là các trạng thái tâm thức), thì chỉ có cái đơn nhất sẽ còn lại, và chỉ có tinh thần sẽ tồn tại, cộng với một tác động rung động ngày càng tăng, cộng thêm khả năng tăng cường ánh sáng khi chu kỳ biểu lộ trở lại lần nữa.
Bên trong nhịp rung động của Sự Sống duy nhất đang biểu lộ, mọi sự sống thứ yếu lặp lại tiến trình hiện tồn, − các Thượng Đế, các thiên thần, con người và vô số sự sống đang tự biểu lộ qua các hình hài của các giới trong thiên nhiên và các hoạt động của diễn trình tiến hóa. Vạn vật trở nên tự cho mình là trung tâm (self - centered) và có tính tự-quyết.
III. Định đề cơ bản thứ ba chính là mục tiêu mà vì đó sự sống khoác lấy hình tướng, và mục đích của thực thể biểu lộ (manifested being) là sự khai mở tâm thức, hay là sự thiên khải (revelation) của linh hồn. Đây có thể được gọi là Thuyết Tiến Hóa của Ánh Sáng (Theory of the Evolution of Light). Khi ta nhận thức rằng ngay cả nhà khoa học hiện đại cũng nói rằng ánh sángvật chất là các tên gọi đồng nghĩa, như thế là đang lặp lại giáo huấn của Đông Phương, điều trở nên hiển nhiên là qua sự tương tác của các cực, và qua sự ma sát của các cặp đối ứng (pairs of opposites), ánh sáng lóe lên. Mục tiêu của tiến hóa được nhận thấy là một loạt các biểu hiện 10 từng chút một của ánh sáng. Ánh sáng bị che đậy và bị ẩn giấu bởi mọi hình tướng. Khi sự tiến hóa tiếp tục, vật chất ngày càng trở thành một tác nhân dẫn truyền ánh sáng tốt hơn, như thế chứng minh sự chính xác của câu nói của Đức Christ “Ta tượng trưng cho Ánh Sáng của Thế Gian” (“I am the Light of the World”).
IV. Định đề thứ tư bao gồm phát biểu rằng mọi sự sống đều biểu lộ theo chu kỳ. Đây là Thuyết Tái Sinh hay Thuyết Luân Hồi (Theory of Rebirth or of re-incarnation), sự minh chứng của định luật tuần hoàn (law of periodicity).
Đó là các chân lý cơ bản vĩ đại, chúng tạo thành nền tảng của Minh Triết Muôn Thuở − sự hiện tồn của sự sống và sự phát triển của tâm thức qua việc khoác lấy hình tướng theo chu kỳ.
Tuy nhiên, trong sách này, tầm quan trọng sẽ được đặt vào sự sống nhỏ bé; vào con người “được tạo ra theo hình ảnh của Thượng Đế”, kẻ mà nhờ phương pháp luân hồi sẽ khai mở tâm thức của mình cho đến khi nó bừng nở như linh hồn hoàn thiện, mà bản chất của nó là ánh sáng và nhận thức của nó là nhận thức của một chủ thể hữu ngã thức. Đơn vị đã phát triển này sau rốt phải được hòa nhập, với sự tham gia sáng suốt hoàn toàn, vào trong tâm thức vĩ đại hơn mà nó là một thành phần trong đó.
Trước khi đề cập tới chủ đề của chúng ta, có thể là hữu ích nếu chúng ta định nghĩa một vài thuật ngữ vốn sẽ luôn luôn được dùng đến, nhờ đó chúng ta sẽ biết rõ điều mà chúng ta đang nói tới, và ý nghĩa của các thuật ngữ mà chúng ta dùng.
1. Huyền bí (Occult). Thuật ngữ này liên quan đến các lực ẩn tàng của sự hiện tồn và các lực này xuất phát từ hành vi vốn tạo ra biểu lộ ngoại cảnh. Từ ngữ “hành vi”
(“conduct”) ở đây được dùng một cách có cân nhắc, vì tất cả mọi biểu lộ trong mọi giới của thiên nhiên, đều là biểu hiện của sự sống, mục tiêu và kiểu mẫu hoạt động của một thực thể hay sự hiện tồn nào đó, và như vậy, theo sát nghĩa là hành vi (hay bản chất hay tính chất bên ngoài) của một sự sống. Các động cơ của hành động này nằm ẩn trong mục tiêu của bất cứ sự sống nào, dù cho đó là một sự sống thái dương, một thực thể hành tinh, một con người, hoặc Đấng Cao Cả (Being) vốn là tổng thể các trạng thái tâm thức và của các hình hài của bất cứ giới nào trong thiên nhiên.
2. Các định luật (Laws). Một định luật giả định trước
11 (presupposes) một thực thể siêu việt (superior being), được phú cho mục tiêu và được trợ giúp bằng trí thông minh, đang phối hợp các thần lực của mình sao cho một kế hoạch được hoàn thiện một cách tuần tự và vững vàng. Nhờ một hiểu biết rõ rệt về mục tiêu, thực thể đó đưa vào hoạt động các bước và các giai đoạn mà khi được xúc tiến theo trình tự, sẽ đưa kế hoạch đến hoàn thiện. Từ ngữ “law” (“định luật”), như thường được hiểu, sẽ gợi ra ý tưởng về sự lệ thuộc vào một hoạt động vốn được nhận thức như là không thể lay chuyển và không lệch hướng, nhưng lại không được hiểu bởi kẻ bị lệ thuộc vào nó; theo một quan điểm, nó bao hàm thái độ của đơn vị chìm đắm trong xung lực tập thể, và sự thiếu khả năng của đơn vị đó để làm thay đổi xung lực hoặc là né tránh vấn đề; hiển nhiên là nó mang lại trong tâm thức của con người, tức là kẻ đang xem xét các định luật này, một cảm giác là một nạn nhân – bị đẩy tới trước giống như một chiếc lá trước cơn gió nhẹ hướng tới một mục tiêu mà sự suy đoán về mục tiêu đó chỉ là có thể xảy ra, và bị chi phối bởi một lực tác động một cách rõ rệt với một sức ép không thể tránh khỏi, và như thế tạo ra các kết quả tập thể, với sự thiệt hại của đơn vị. Thái độ tâm trí này không thể tránh khỏi, cho đến khi tâm thức của con người có thể được mở rộng đến mức y bắt đầu ý thức về các vấn đề to tát hơn. Khi nào, qua sự tiếp xúc với Chân Ngã của riêng mình, y tham dự vào sự hiểu biết về mục tiêu, và khi nào, qua việc leo lên núi của linh thị, cách nhìn của y thay đổi và chân trời của y mở rộng, y đi đến nhận thức rằng một định luật chỉ là xung lực tâm linh, là sự biểu lộ động cơ và sự sống của Đấng mà trong Ngài y sống và hoạt động. Y học được rằng xung lực đó biểu hiện một mục đích sáng suốt, được hướng dẫn một cách khôn ngoan, và được căn cứ trên tình thương. Kế đó, chính y bắt đầu vận dụng định luật hay là bắt đầu vượt qua một cách khôn ngoan, một cách đầy tình thương và một cách sáng suốt thông qua chính y, như thể cơ cấu đặc biệt của y có thể đáp ứng với, truyền chuyển và sử dụng xung lực sự sống tâm linh đó. Y ngừng cản trở và bắt đầu chuyển đổi. Y kết thúc chu kỳ của sự sống ích kỷ khép kín, và mở rộng các cánh cửa cho năng lượng tâm
12 linh. Khi làm thế, y nhận ra rằng định luật mà y đã căm ghét và ngờ vực lại là tác nhân truyền sinh lực và thanh lọc, nó lôi cuốn y và mọi tạo vật của Thượng Đế vào một sự hoàn thiện huy hoàng.
3. Tâm thông (Psychic). Có hai loại lực ở trên đang biểu lộ ở mức độ có liên quan tới con người, và các loại lực này cần được hiểu rõ. Có loại thần lực làm sinh động các giới dưới nhân loại trong thiên nhiên, − năng lượng phú cho sự sống (ensouling energy), được kết hợp với năng lượng của vật chấtbản ngã, tạo ra mọi hình tướng. Hiệu quả của sự kết hợp này là đưa thêm vào sự thông minh còn phôi thai của chính vật chất một khả năng cảm thụ tiềm tàng (latent sentiency), và sự đáp ứng vốn tạo ra một điều gì đó thuộc nội tâm mà chúng ta gọi là sinh hồn (animal soul). Điều này tồn tại theo bốn mức độ hay trạng thái hiểu biết do cảm thức (sentient awaness):
a/ Tâm thức của giới khoáng vật.
b/ Tâm thức của giới thực vật.
c/ Tâm thức của giới động vật.
d/ Tâm thức của hình hài động vật (animal form) mà qua đó con người tâm linh (spiritual man) hoạt động, và sau rốt tất cả chỉ là một bộ phận của nhóm trước dưới hình thức cao nhất của nó.
Thứ hai là có loại lực tâm thông (psychic force) vốn là kết quả của sự hợp nhất của tinh thần với vật chất có khả năng cảm thụ (sentient matter) trong giới nhân loại, và vốn tạo ra một trung tâm thông linh (psychic centre) mà chúng ta gọi là linh hồn con người. Trung tâm thông linh này là một trung tâm lực (force centre), và lực mà trung tâm này gìn giữ (the custodian) hay biểu hiện, phát huy một sự đáp ứng và một sự hiểu biết vốn là sự hiểu biết của linh hồn của sự sống hành tinh, một tâm thức tập thể vốn mang theo với nó các khả năng và kiến thức của một phẩm cấp khác hơn phẩm cấp trong sinh hồn (animal soul). Sau rốt các điều này thay thế cho các năng lực của sinh hồn vốn hạn chế, gây lệch lạc, và trói buộc, và cung cấp cho con người một phạm vi các sự tiếp xúc và một hiểu biết vốn không thể sai lầm, tránh khỏi sự sai sót, và chấp nhận y vào “đặc quyền của các cõi trời”. Hiệu
13 quả của hoạt động tự do của linh hồn con người dùng để chứng minh tính có thể sai lầm và sự vô ích tương đối của các năng lực của sinh hồn. Tất cả những gì mà Tôi muốn làm ở đây là cho thấy hai nghĩa mà trong đó thuật ngữ “tâm thông” được dùng. Sau này, chúng ta sẽ đề cập đến sự tăng trưởng và phát triển của bản chất tâm thông thấp, hay là linh hồn của các vận thể (vehicles) mà nhờ đó con người hoạt động trong ba cõi thấp, và kế đó sẽ tìm cách làm sáng tỏ bản chất thực sự của linh hồn con người và bản chất của các năng lực có thể được đưa vào hoạt động, một khi một người có thể tiếp xúc với trung tâm tâm linh (spiritual centre), tức linh hồn, của chính mình và sinh hoạt trong linh hồn thức đó.
4. Sự khai mở (unfoldment). Sự sống ở tâm của thái dương-hệ đang tạo ra một sự khai mở các năng lượng của vũ trụ từ sự tiến hóa, mà cho đến nay, con người hữu hạn không thể hình dung được. Tương tự, trung tâm năng lượng mà chúng ta gọi là khía cạnh tâm linh trong con người (qua việc sử dụng vật chất hoặc chất liệu) đang tạo ra một phát triển tiến hóa của cái mà chúng ta gọi là linh hồn, và nó là sự biểu lộ cao nhất của các biểu lộ thuộc sắc tướng – giới nhân loại. Con người là sản phẩm cao nhất của sự hiện tồn trong ba cõi thấp. Bằng thuật ngữ con người (man), Tôi ám chỉ con người tâm linh, tức một con của Thượng Đế đang lâm phàm. Các hình tướng của mọi giới trong thiên nhiên – nhân loại, động vật, thực vật và khoáng vật − góp phần vào sự biểu lộ đó. Năng lượng của Ngôi Ba của thánh linh hướng tới sự thiên khải của linh hồn, hay là Ngôi Hai, mà đến lượt nó tiết lộ trạng thái cao nhất. Phải luôn nhớ rằng bộ Giáo Lý Bí Nhiệm của H.P. Blavatsky diễn tả điều này một cách chính xác bằng các từ “Sự Sống mà chúng ta xem như là một hình thức hiện tồn, đang biểu lộ trong cái được gọi là Vật Chất; hay những gì mà, phân biệt chúng một cách không chính xác, chúng ta gọi là tinh thần, linh hồnvật chất trong con người. Vật chất là vận thể cho sự biểu lộ của linh hồn trên cõi hiện tồn này, còn linh hồn là vận thể trên cõi cao hơn cho sự biểu lộ của tinh thần, và ba hình thức này là
14 một tam bộ (trinity) được sự sống tổng hợp, sự sống này thấm nhuần cả ba”. (GLBN, 79 – 80, quyển I).
Nhờ sử dụng vật chất, linh hồn khai mở và tìm thấy sự tột đỉnh của nó trong linh hồn con người, và bộ luận này sẽ quan tâm đến sự khai mở của linh hồn đó và việc con người khám phá ra nó.
5. Tri thức (knowledge) có thể được chia thành ba loại:
Thứ nhất, có loại tri thức lý thuyết (theoretical knowledge). Tri thức này bao gồm mọi tri thức mà con người biết về nó, nhưng được con người chấp nhận dựa trên các phát biểu của người khác, và bởi các chuyên gia trong các ngành tri thức khác nhau. Nó được dựa trên các phát biểu có thẩm quyền, và có trong nó yếu tố tín nhiệm vào người viết và người nói, và vào các trí thông minh lão luyện của những người hoạt động trong bất cứ lĩnh vực nào của nhiều lĩnh vực tư tưởng khác nhau. Các chân lý được chấp nhận như thế đã không được trình bày rõ ràng hoặc được xác minh bởi người chấp nhận chúng, vì y thiếu sự huấn luyện và thiết bị cần thiết. Các quả quyết của khoa học, các thần học của tôn giáo, và các khám phá của các triết gia và các tư tưởng gia ở khắp nơi, đều bóp méo quan điểm và đáp ứng với một sự sẵn sàng chấp nhận từ thể trí thiếu luyện tập, và đó là thể trí của kẻ bậc trung.
Kế đó, thứ hai, chúng ta có tri thức phân biện (discriminative knowledge) vốn có trong nó một tính chất chọn lọc và vốn thừa nhận sự hiểu biết sáng suốt, và sự áp dụng thực tế của phương pháp khoa học chuyên biệt hơn, và việc sử dụng cách thử nghiệm, loại bỏ những gì không thể được chứng minh, và việc cách ly các yếu tố sẽ chịu sự thẩm tra và tuân theo những gì được hiểu như là định luật. Thể trí thuần lý, thích tranh cãi, thiên về sách vở và thích cụ-thể-hóa, được phát huy với kết quả là nhiều điều vốn ngây ngô, không thể có và không thể kiểm chứng, đều bị bác bỏ và một sự gạn lọc tương ứng của các lĩnh vực của các kết quả tư duy. Tiến trình phân biệnkhoa học này đã giúp con người đạt đến nhiều
15 chân lý liên quan đến ba cõi thấp. Liên quan đến thể trí của nhân loại, phương pháp khoa học đang vận hành cùng chức năng như phương pháp của huyền môn về thiền định (trong hai giai đoạn định trí ban đầu của nó và sự định trí hoặc thiền định kéo dài) vận hành liên quan tới cá nhân. Nhờ nó, các tiến trình đúng đắn của tư tưởng được sản sinh ra, những yếu tố không cần thiết và các trình bày không chính xác về chân lý cuối cùng bị loại bỏ hoặc được chỉnh sửa, và việc tập trung sự chú ý đều đặn hoặc là vào một tư tưởng mầm mống, một vấn đề khoa học, một triết học, hoặc là vào một tình trạng thế giới dẫn đến một sự gạn lọc cuối cùng, và việc thấm vào từ từ của các ý tưởng đúng đắn và các kết luận hợp lý. Các tư tưởng gia hàng đầu trong bất cứ trường phái nào trong các trường phái tư tưởng lớn cũng chỉ là những nhân vật tiêu biểu của tham thiền huyền linh, và các khám phá lỗi lạc về khoa học, các lý giải chính xác về các định luật của thiên nhiên, và các trình bày về những kết luận chính xác dù là trong các lĩnh vực của khoa học, của kinh tế, của triết học, tâm lý học hoặc của nơi nào khác chỉ là sự biểu lộ của thể trí (và tiếp theo sau là của bộ óc) về các chân lý muôn đời, và là dấu hiệu cho thấy rằng nhân loại cũng đang bắt đầu lấp chỗ trống giữa cảnh (objective, ngoại giới) với tâm (subjective, nội giới), giữa thế giới sắc tướng với thế giới ý tưởng.
Điều này chắc chắn dẫn đến sự xuất hiện của nhánh tri thức thứ ba, tức là tri thức về trực giác. Trực giác trong thực tế chỉ là sự nhận thức bằng trí tuệ về một yếu tố nào đó trong sự sáng tạo, một định luật biểu lộ nào đó, và một khía cạnh chân lý nào đó, được linh hồn nhận biết, phát xuất từ thế giới ý tưởng, và có bản chất của các năng lượng tạo ra tất cả những gì được biết và được thấy. Các chân lý này luôn luôn hiện hữu, và các định luật này bao giờ cũng hoạt động, nhưng chỉ khi nào thể trí được huấn luyện và được phát triển, được tập trung và sẵn sàng tiếp thu thì chúng mới có thể được nhận biết, sau đó được hiểu rõ, và cuối cùng được điều chỉnh theo các nhu cầu và các đòi hỏi của chu kỳ và thời đại. Do đó, những người, vốn đã tập luyện thể trí theo nghệ thuật suy tư rõ ràng, tập trung chú ý, và cảm thụ hợp lý đối với chân lý, đã luôn luôn ở cùng thời với chúng ta, nhưng từ trước đến
16 nay còn ít và không thường xuyên. Họ là những trí tuệ nổi bật của các thời đại. Nhưng hiện nay họ trở nên nhiều và ngày càng tăng lên. Trí tuệ nhân loại đang trong tiến trình luyện tập, và có nhiều trí tuệ như thế đang lượn lờ trên các ranh giới của một kiến thức mới. Trực giác, vốn hướng dẫn mọi nhà tư tưởng tiến bộ đi vào các lĩnh vực học hỏi mới mẻ hơn, chỉ là nhân tố đầu tiên của sự toàn tri (omniscience), vốn là đặc điểm của linh hồn. Chân lý về vạn vật hiện tồn, và chúng ta gọi nó là sự toàn tri, tính không thể sai lầm, “tri thức đúng đắn” của triết học Ấn Độ. Khi con người nắm bắt được một phần nhỏ của tri thức này và hấp thu nó vào tâm thức nhân loại, chúng ta gọi đó là sự trình bày (formulation) về một định luật, một khám phá về một trong các diễn trình của thiên nhiên. Từ trước đến giờ điều này đã là một công việc chậm chạp và được làm từng chút một. Về sau và chẳng bao lâu sau, ánh sáng sẽ tuôn đổ vào, chân lý sẽ được tiết lộ và nhân loại sẽ bước vào di sản của mình – di sản của linh hồn.
Trong một số xem xét của chúng ta, việc suy xét tất nhiên phải đưa vào. Những người thấy được một hình ảnh mà những người khác không thấy do thiếu thiết bị cần thiết cho việc nhận biết hình ảnh đó, lại bị xem là hoang tưởng (fanciful) và không đáng tin. Khi nhiều người thấy được hình ảnh đó thì khả năng nhìn thấy đó được thừa nhận, nhưng khi chính nhân loại có thị giác được đánh thức và mở rộng, việc nhìn thấy đó không còn được nhấn mạnh nữa, mà là một sự thật được trình bày và một định luật được đưa ra. Lịch sử của quá khứ đã như thế và diễn tiến trong tương lai cũng sẽ như thế.
Quá khứ được suy xét hoàn toàn theo quan điểm của người bình thường và tương lai thì cũng thế, nhưng chính y là kết quả của quá khứ đó, còn tương lai sẽ thể hiện toàn bộ các đặc điểm và các tính chất hiện tại của y. Nếu điều này là đúng đối với cá nhân, thì bấy giờ nó cũng đúng đối với nhân loại nói chung. Đơn vị đó (unit) trong thiên nhiên, mà chúng ta gọi là giới thứ tư hay giới nhân loại, tiêu biểu cho những gì vốn là sản phẩm của di sản vật chất (physical heritage) của nó; các đặc điểm của nó là toàn bộ các khai mở tình cảm và trí tuệ của nó, đồng thời các kỹ năng (assets) của nó là các kỹ năng mà nó đã thành công trong việc tích lũy trong các chu kỳ
17 trong đó nó đã đấu tranh với các yếu tố tác động bên ngoài của nó – tức toàn bộ các giới khác trong thiên nhiên. Bên trong giới nhân loại có các tiềm năng và các hoạt động tiềm tàng (latencies), các đặc điểm và các kỹ năng mà tương lai sẽ tiết lộ, và khi đến lượt, chúng sẽ định đoạt tương lai đó.
Tôi đã chủ tâm chọn bắt đầu với cái không thể xác định được và cái không nhận biết được. Cho đến nay, linh hồn vẫn còn là một ẩn số (unknown quantity). Nó không có vị trí thực sự trong các lý thuyết của các nhà sưu khảo về khoa học và học thuật (academic). Nó chưa được chứng minh và được xem như một giả thuyết có thể có, nhưng thiếu sự chứng minh, bởi ngay cả người có trí tuệ cởi mở hơn cả trong số các viện sĩ hàn lâm (academicians). Nó không được chấp nhận như một sự thực trong ý thức nhân loại. Chỉ có hai nhóm người công nhận nó là một sự thật. Một là những người cả tin, kém phát triển, thật thà như trẻ con, họ viện dẫn dựa vào một thánh kinh trên thế giới, và có khuynh hướng về tôn giáo, chấp nhận các nguyên lý cơ bản (postulates) của tôn giáo – như là linh hồn, Thượng Đế và sự bất tử − mà không thắc mắc. Nhóm kia là nhóm nhỏ nhưng đang tăng lên đều đặn, nhóm của Những Người Hiểu Biết về Thượng Đế, và về thực tại, họ biết linh hồn là một sự thực theo kinh nghiệm riêng của họ, nhưng không thể chứng minh sự tồn tại của nó một cách thỏa đáng cho người nào chỉ thừa nhận những gì mà trí cụ thể có thể hiểu, phân tích, phê phán và thử nghiệm.
Người vô minh và người thông thái gặp nhau ở một điểm chung giống như các thái cực luôn luôn là như vậy. Ở giữa là những người vốn không hoàn toàn vô minh, mà cũng không phải là người sáng suốt về mặt trực giác. Họ là đa số người có giáo dục, có kiến thức nhưng không có hiểu biết, và họ phải học cách phân biệt giữa những gì có thể hiểu bằng lý trí (rational mind), tức những gì có thể được nhìn thấy bằng con mắt của thể trí (the mind’s eye), với những gì mà chỉ có thượng trí hay trí trừu tượng mới có thể diễn giải và hiểu biết. Cuối cùng trí trừu tượng này hòa nhập vào trong trực giác, vốn là ”quan năng hiểu biết” (“knowing faculty”) của nhà thần bí thực tế và sáng suốt, người này – nhờ biết chuyển bản chất tình cảm và xúc cảm đến vị trí riêng của nó – dùng thể
18 trí như là một điểm tập trung và nhìn ra xuyên qua thấu kính đó, vào thế giới của linh hồn.
BA TRẠNG THÁI CỦA CON NGƯỜI
Một trong các phương tiện chính mà nhờ đó con người đạt tới một hiểu biết về cái tổng thể vĩ đại mà chúng ta gọi là Đại Thiên Địa (Macrocosm) – tức Thượng Đế, đang hoạt động qua một thái-dương-hệ − là bằng một sự hiểu biết về chính mình, và huấn lệnh ở đền Delphi “Con Người, hãy tự biết chính mình” đã là một câu nói đầy cảm hứng, có dụng ý trao cho con người manh mối đưa đến cái huyền vi của Thượng Đế. Qua Định Luật Tương Đồng hay tương ứng, các tiến trình vũ trụ và bản chất của các nguyên khí vũ trụ được biểu thị trong các chức năng, cấu tạo và các đặc điểm của một con người. Chúng được biểu thị nhưng không được giải thích hoặc nói gì thêm. Chúng chỉ được dùng như các biển chỉ đường, hướng cho con người đi dọc theo con đường mà trên đó y có thể tìm thấy các biển chỉ đường sau này, và ghi nhận các dấu hiệu rõ ràng hơn.
Sự hiểu biết về bộ ba tinh thần, linh hồnxác thân cho đến nay nằm ngoài sự thành tựu của con người, nhưng một ý tưởng về mối liên hệ của chúng với chức năng được phối hợp chung của chúng, có thể được biểu thị bằng việc xem xét về con người theo khía cạnh vật chất và sự hoạt động khách quan của y.
Có ba khía cạnh của cơ cấu con người vốn là các biểu tượng, và chỉ là các biểu tượng mà thôi, của ba trạng thái hiện tồn.
1. Năng lượng, hay là nguyên khí kích hoạt (activating principle), nó triệt thoái một cách huyền bí vào lúc chết, triệt thoái một phần trong các giờ ngủ hoặc bất tỉnh, và dường như nó sử dụng bộ óc như là trung tâm hoạt động chính của nó và từ đó điều khiển hoạt động của cơ thể. Năng lượng này có mối liên hệ trực tiếp quan trọng nhất với ba phần của cơ thể mà chúng ta gọi là bộ óc, tim và bộ máy hô hấp. Đây là biểu tượng tiểu thiên địa của tinh thần.
2. Hệ thần kinh, với tính chất phức tạp của các dây thần kinh, các trung tâm thần kinh và vô số các phần nhạy cảm và
19 có liên hệ với nhau vốn dùng để phối kết cơ thể, để tạo ra sự đáp ứng bén nhạy đang tồn tại giữa nhiều cơ quan và thành phần hợp thành cơ thể nói chung, và cũng dùng để làm cho con người có ý thức và nhạy cảm với môi trường chung quanh mình. Toàn thể bộ máy cảm giác này là những gì vốn tạo ra ý thức có tổ chức và sự nhạy bén có mạch lạc của toàn bộ con người, thứ nhất là trong chính nó như một đơn vị, và thứ hai là sự đáp ứng và phản ứng bén nhạy của nó với thế giới mà trong đó nó đang thực hiện vai trò của nó. Cấu trúc thần kinh này, đang phối hợp, liên kết và tạo ra một hoạt động tập thể bên ngoài lẫn bên trong, biểu lộ trước tiên qua ba phần của thần kinh hệ.
a/ Hệ não tủy (cerebro-spinal system).
b/ Hệ thần kinh cảm giác (sensory system of nerves).
c/ Hệ thần kinh ngoại vi (peripheral system of nerves).
Nó được liên kết chặt chẽ với trạng thái năng lượng, là bộ máy được năng lượng đó sử dụng để làm linh hoạt xác thân, để tạo ra sự hoạt động và sự vận hành có phối hợp của nó, và để mang lại một sự hòa hợp khôn ngoan với thế giới mà trong đó nó phải thực hiện phần vụ của nó. Nó nằm sau, nếu người ta có thể dùng cách diễn đạt như thế, của chính bản chất xác thân; đàng sau của khối thịt, xương và cơ bắp. Đến lượt nó, nó được kích hoạt và được kiểm soát bởi hai yếu tố:
a/ Toàn bộ năng lượng vốn là hạn mức của cá nhân về năng lượng thiết yếu.
b/ Năng lượng của môi trường mà cá nhân thuộc vào đó, và y phải hoạt động và thực hiện vai trò của mình trong đó.
Hệ thần kinh phối kết này, mạng lưới thần kinh liên quan với nhau và nhạy cảm này là biểu tượng của linh hồn nơi con người, và là một hình thức hữu hình bên ngoài của một thực tại tâm linh bên trong.
3. Cuối cùng có những điều có thể được mô tả như là
20 xác thân (body), tức là toàn thể thịt, cơ bắp và xương mà con người mang theo bên mình, được liên kết bởi hệ thần kinh và được truyền năng lượng bởi cái mà chúng ta gọi một cách mơ hồ là “sự sống” (“life”) của y.
Trong ba cái này, tức sự sống, hệ thần kinh và toàn bộ cơ thể (body mass), chúng ta tìm thấy hình ảnh và biểu tượng của cái tổng thể vĩ đại, và bằng một sự nghiên cứu kỹ về các điều này, và một sự thông hiểu về các chức năng và mối quan hệ tập thể của chúng, chúng ta có thể đạt đến một hiểu biết về một số định luật và nguyên tắc, vốn điều khiển các hoạt động của “Thượng Đế trong thiên nhiên” – một cụm từ, cực kỳ đúng và cũng có sai lầm phần nào (finitely false).
Ba trạng thái của thánh linh (divinity, ngôi thánh thần), gồm năng lượng trung ương (central energy) hay tinh thần, thần lực phối kết hay linh hồn, và những gì mà hai trạng thái này sử dụng và hợp nhất lại, thực ra là một nguyên khí sinh động biểu lộ thành thiên hình vạn trạng. Các trạng thái này là Ba trong Một, Một trong Ba, Thượng Đế trong thiên nhiên, và chính thiên nhiên trong Thượng Đế.
Để minh họa, khi đưa ý niệm này vào các lĩnh vực tư tưởng khác, ba ngôi trạng thái (trinity of aspects) này có thể được thấy đang vận hành trong giới tôn giáo dưới hình thức giáo huấn nội môn, biểu tượng học căn bản và các giáo lý của các tôn giáo lớn trên thế gian và các tổ chức ngoại môn;
trong địa hạt cai trị, đó là toàn thể ý muốn của dân chúng, dù cho ý muốn đó có thể là gì đi nữa, các luật lệ được thể chế (the formulated laws) và chính quyền bên ngoài (exoteric administration);
trong địa hạt giáo dục, đó là ý muốn học hỏi, các nghệ thuật và các khoa học, và các hệ thống giáo dục công truyền lớn;
trong địa hạt triết học, đó là sự thúc đẩy đến minh triết, các trường phái tư tưởng có liên quan với nhau, và cách trình bày bên ngoài của các giáo lý.
Như thế tam bộ vĩnh hằng (eternal triplicity) này hoạt động xuyên qua mọi bộ môn của thế giới biểu lộ, dù được xem như là những gì hữu hình, hoặc như là những gì nhạy cảm và cố kết, hoặc những gì đang hoạt động mạnh mẽ. Đó là hoạt động sáng suốt, mà đã được gọi một cách vụng về là “tri thức” (“awareness”, tên gọi hiện nay của consciousness – tâm thức – là awareness. Trích Khảo Cứu Về Tâm Thức, trang 26, của bà A. Besant. − ND);
đó là khả năng của chính tri thức, nó bao hàm sự đáp ứng nhạy bén với môi trường chung quanh và bộ máy của sự đáp ứng đó, tức là nhị nguyên thiêng liêng (divine duality) của linh hồn; sau cùng đó là toàn thể những gì được tiếp xúc và được
21 hiểu biết; đó là cái mà bộ máy nhạy cảm bắt đầu ý thức. Như chúng ta sẽ thấy sau này, đây là một sự nhận thức đang tăng trưởng từ từ, luôn luôn dịch chuyển vào các lĩnh vực nội tâm và huyền bí hơn.
Cả ba trạng thái này được nhìn thấy trong con người, đơn vị thiêng liêng của sự sống. Trước tiên con người nhận ra chúng nơi y; kế đến, y thấy chúng trong mọi hình tướng, trong môi trường quanh y, và cuối cùng y học cách liên kết các trạng thái này của chính y với các trạng thái tương tự trong các hình tướng khác của sự biểu lộ thiêng liêng. Mối quan hệ đúng đắn giữa các hình tướng sẽ đưa đến sự hiệu chỉnh đúng mức và hòa hợp của sự sống ở cõi trần. Sự đáp ứng đúng đắn với môi trường của con người, sẽ đưa đến mối quan hệ đúng đắn với trạng thái linh hồn, ẩn trong mọi hình tướng, và sẽ tạo ra các quan hệ tốt đẹp giữa các phần khác nhau của cấu trúc thần kinh bên trong ở trong mọi giới của thiên nhiên, dưới nhân loại và siêu nhân loại. Cho đến nay điều này thực tế không được biết đến, nhưng đang nhanh chóng được nhận ra, và khi nó được chứng minh và nhận biết, người ta sẽ khám phá rằng trong đó có căn bản của tình huynh đệ và của sự hợp nhất. Giống như gan, tim, phổi, bao tử và các cơ quan khác trong cơ thể đều riêng biệt trong sự sống và trong chức năng, và tuy vậy lại được thống nhất và được đưa vào mối quan hệ qua trung gian của hệ thần kinh khắp cơ thể, cũng thế người ta sẽ nhận thấy rằng trên thế gian, những tổ chức như là các giới trong thiên nhiên, đều có sự sống và các chức năng riêng biệt của chúng, tuy vậy vẫn được liên kết và phối hợp bằng một hệ thống cảm giác phức tạp rộng lớn, mà đôi khi được gọi là linh hồn của vạn vật, tức anima mundi, tâm thức ẩn bên dưới.
Khi đề cập đến các tam bộ rất thường được dùng khi nói đến Thượng Đế tính (deity), như là tinh thần, linh hồnxác thân, − sự sống, tâm thức và sắc tướng – thật là hữu ích mà nhớ rằng chúng có liên quan đến các biến phân
(differentiations) của sự sống duy nhất, và rằng người ta có thể làm quen càng nhiều với các tam bộ này, thì người ta sẽ càng có quan hệ với một nhóm người rộng lớn hơn. Nhưng khi người ta đang đề cập đến các sự việc huyền bí và chủ
22 quan, và khi vấn đề mà người ta viết về nó có liên quan đến điều không thể xác định, thì khi đó người ta giáp mặt với khó khăn. Đó không phải là vấn đề khó khăn khi mô tả vẻ ngoài có tính cá nhân của một người, về trang phục của y, hình thức của y, và những thứ mà y mang theo quanh mình. Ngôn ngữ đủ thỏa đáng để đề cập đến cái cụ thể và đến thế giới sắc tướng. Nhưng khi người ta cố gắng để truyền đạt một ý tưởng về tính chất, đặc tính và bản chất, thì ngay lập tức người ta đối mặt với sự khó khăn về cái không biết, với phần vô hình không thể xác định được mà chúng ta cảm nhận, nhưng vẫn còn chưa được tiết lộ theo một ý nghĩa rộng lớn, và ngay cả chính con người cũng không nhận thức được. Bấy giờ, chúng ta sẽ mô tả y như thế nào qua phương tiện ngôn ngữ?
Nếu đối với con người, việc này còn như thế, thì sự khó khăn còn lớn hơn biết bao nhiêu khi chúng ta tìm cách, qua lời lẽ, để diễn tả cái toàn thể không thể diễn tả của điều mà các thuật ngữ tinh thần, linh hồnxác thân được xem như là các biến phân cấu thành chính của nó? Chúng ta sẽ định nghĩa như thế nào sự sống không thể xác định đó, mà con người (vì lý do tìm hiểu) đã giới hạn và phân lập thành một tam bộ gồm các trạng thái (aspects), hay các ngôi (persons), gọi cái tổng thể bằng danh xưng Thượng Đế ?
Tuy nhiên khi nào sự biến phân này của Thượng Đế thành một tam vị nhất thể, được phổ biến và sử dụng trong thời gian dài, khi nào mọi người – xưa và nay – sử dụng cùng nhóm ba ý niệm để diễn đạt một nhận thức do trực giác, thì có lý do xác đáng cho việc sử dụng đó. Thế thì một ngày nào đó chúng ta có thể suy tưởng và diễn đạt chân lý một cách khác hẳn như nó có lẽ thực sự là thế, nhưng đối với người suy tư bậc trung của thời nay, các thuật ngữ tinh thần, linh hồnxác thân đại diện cho tập hợp của biểu lộ thiêng liêng, cả trong Thượng Đế tính (deity) của vũ trụ, lẫn trong đấng thánh linh nhỏ bé hơn, tức là chính con người. Vì bộ luận này dự định dành cho người biết suy tư, chứ không dành cho các nhà thần học cố chấp hoặc các nhà khoa học có thành kiến về lý thuyết, chúng ta sẽ gắn bó với thuật ngữ thường dùng, và tìm cách hiểu những gì đã ở đàng sau các câu mà trong đó con người đã tìm cách giải thích chính Thượng Đế.
“Thượng Đế là Tinh Thần và những ai thờ phụng Ngài,
23 tất phải phụng thờ Ngài nơi Tinh Thần và nơi Chân Lý”, một trong các Thánh Kinh của thế gian phát biểu như thế. “Con người đã trở thành một linh hồn sống động” được tìm thấy ở nơi khác trong cùng kinh sách trên. “Con cầu xin Thượng Đế cho toàn bộ tinh thần, linh hồnthể xác của Người có thể được giữ cho trong sạch”, một đại điểm đạo đồ của Huyền Môn đã nói như thế; và vị vĩ đại nhất trong tất cả các Ngài vẫn hiện diện với chúng ta trong thể xác trên cõi trần, đã lặp lại các lời của một nhà hiền triết trước đây khi Ngài nói: “Ta đã nói các ngươi là các vì Thượng Đế, và tất cả các ngươi đều là con của Đấng Tối Cao”. Trong các lời này, tam bộ của con người, thiên tính của y và mối liên quan của y với sự sống mà trong Ngài y sống, hoạt động và hiện tồn, được đề cập đến theo quan điểm Cơ Đốc Giáo, và tất cả các tôn giáo lớn đều quan tâm đến các diễn đạt tương tự với mối liên quan đó.
a/ Tinh Thần, Sự Sống, Năng Lượng.
Thuật ngữ tinh thần (spirit) được áp dụng cho xung lực (impulse, lực thôi thúc) thiết yếu, khó hiểu, không thể xác định, hay Sự Sống vốn là nguyên nhân của mọi biểu lộ. Đó là linh-khí (breath) của Sự Sống và là dòng lưu nhập nhịp nhàng (rhythmic inflow) của năng lượng sinh động (sinh năng, vital energy), mà đến phiên nó, sinh năng này biểu lộ dưới hình thức lực hút, tâm thức, hoặc linh hồn, và là toàn bộ chất liệu nguyên tử. Đó là sự tương ứng trong Sự Hiện Tồn vĩ đại (great Existence) hay là Đại Thiên Địa (Macrocosm) của những gì vốn là yếu tố thôi thúc sinh động mà chúng ta gọi là sự sống của con người trong sự sống bé nhỏ hay tiểu thiên địa (microcosm); điều này được biểu thị bằng hơi thở (breath) trong cơ thể con người, hơi thở này bị tách ra hoặc triệt thoái khi dòng sự sống bị cạn kiệt.
Ai sẽ nói điều-gì-đó (something) này là gì? Chúng ta truy nguyên nó đến tận linh hồn hay trạng thái tâm thức, và từ linh hồn đến tinh thần (như chúng ta có thể gọi ba trạng thái của linh khí duy nhất), nhưng ai có can đảm tuyên bố các từ ngữ này thực sự có ý nghĩa gì? Chúng ta gọi cái không biết này bằng các tên gọi khác nhau, tùy theo trường phái tư tưởng đặc biệt của chúng ta; chúng ta tìm cách diễn tả nó bằng nhiều thuật ngữ, và kết thúc bằng cách gọi nó là Tinh Thần, Sự Sống Duy Nhất, Chân Thần, Năng Lượng. Một lần
24 nữa chúng ta phải nhớ rằng sự hiểu biết về bản chất của Sự Sống duy nhất này là hoàn toàn tương đối. Những ai bị thu hút vào khía cạnh hình tướng của sự sống, đều suy tưởng theo các thuật ngữ về sức sống vật chất (physical vitality) về cảm xúc, sức thôi thúc hoặc là về trí lực (mental force) chứ không vượt ra ngoài tâm thức-sự sống hợp nhất (unified lifeconsciousness) mà tất cả mọi cái kể trên chỉ là các biến phân của nó. Lại nữa, những ai quan tâm vào việc tiếp cận với khía cạnh siêu hình học hơn (metaphysical approach) và vào sự sống linh hồn (soul-life) nhiều hơn là quan tâm vào khía cạnh sắc tướng, sẽ thể hiện quan niệm của họ theo sự biểu lộ của linh hồn và – vượt qua các phản ứng ích kỷ cá nhân của phàm ngã (body nature) – suy tưởng về mặt sự sống, về mặt tính chất, của ý muốn hoặc sức mạnh tập thể, sự kết hợp tập thể hay bác-ái - minh-triết, và của sự thông tuệ tập thể hay tri thức, bao gồm vạn vật bằng thuật ngữ chung về tình huynh đệ.
Nhưng ngay cả khi điều đó được thấy là có tính chia rẻ đi nữa, qua sự tách rời thành các đơn vị lớn hơn, thì đơn vị thấp kém cũng có khả năng hiểu được. Do đó, điểm đạo đồ, đặc biệt là sau cuộc điểm đạo thứ ba, bắt đầu suy tưởng thậm chí một cách tổng hợp hơn và diễn tả chân lý cho chính mình dưới dạng Tinh Thần, Sự Sống, Đấng Duy Nhất. Đối với vị điểm đạo đồ, các thuật ngữ này hàm ý một điều gì đó đầy ý nghĩa, nhưng là một điều gì đó rất khác xa với quan niệm của nhân loại suy tư thông thường, đến nỗi Tôi không cần bàn rộng thêm về điều đó.
Điều này đưa Tôi đến một điểm, vốn cần được bàn đến ở đây, trước khi có bất cứ sự mở rộng thêm nào về đề tài của chúng ta. Trong bộ Luận Về Lửa Càn Khôn và trong đoạn trên, dường như thường thường giáo lý được đưa đến một điểm nào đó, và kế đó được ngưng lại với phát biểu rằng, do bởi trình độ tiến hóa của người bình thường, phản ứng của y với chân lý và phản ứng của môn sinh vốn là đệ tử (the disciplestudent) hay điểm đạo đồ sẽ khác nhau. Điều này tất nhiên là thế; mỗi người sẽ hiểu ra thành lời lẽ của trạng thái tâm thức riêng của mình; mỗi người không thể diễn giải theo phản ứng tiến hóa hơn của những người ở trên một giai đoạn cao hơn của thang tiến hóa. Tuy nhiên, độc giả bình thường không thích bị bắt buộc thừa nhận các quan điểm rộng rãi hơn quan điểm của riêng y, và câu nói rằng : “Không cần quảng diễn về
25 điều này vì chỉ vị điểm đạo đồ mới có thể hiểu được nó”, chỉ dùng để chọc tức y, có khuynh hướng làm cho y tin rằng có dụng ý lảng tránh, và rằng người viết (vì đã vượt khỏi trình độ của mình) đang tìm cách giữ thể diện của mình bằng một phát biểu nào đó như thế. Cũng như một luận đề khoa học thường tỏ ra vô nghĩa và chỉ là một mớ lộn xộn các từ ngữ đối với đứa trẻ tiểu học thông thường, nhưng sẽ mang một định nghĩa và ý nghĩa rõ ràng đối với những chuyên viên về chủ đề do bởi sự phát triển trí tuệ và có rèn luyện, thế nên có những người mà đối với họ, chủ đề về linh hồn và bản chất của linh hồn như được đề cập trong một huấn thị như thế này thì cũng rõ ràng và dễ hiểu giống như văn chương đang thịnh hành đối với độc giả bậc trung, và những sách bán chạy nhất, theo cách gọi của bạn, đối với quảng đại quần chúng. Hơn nữa, dù thuộc thiểu số, có các linh hồn tiến hóa mà đối với họ, tinh thần và bản chất của tinh thần cũng là một vấn đề hợp lý và dễ hiểu, được hiểu rõ giá trị và được nhận thức qua trung gian của linh hồn và các quyền năng của nó, cũng như có thể đạt đến một sự hiểu biết về linh hồn qua trung gian của thể trí, được vận dụng một cách đúng đắn. Ở một mức độ thấp nói chung, chúng ta biết rằng thật dễ dàng để hiểu bản chất của xác thân nhờ một sự nghiên cứu và sử dụng đúng bản chất dục vọng. Chính một hình thức của tính tự cao, và một sự từ chối thừa nhận các giới hạn tạm thời của con người, điều đó khơi dậy trong các độc giả một mối ác cảm đối với các diễn đạt được nói một cách thích hợp và chân thật: “Khi bạn phát triển hơn, bạn sẽ hiểu được điều nói trên”.
Điều này sẽ được minh giải.
Đối với vị Chân Sư Minh Triết, bản chất của tinh thần hay là trung tâm tích cực (positive) của sự sống mà mỗi hình hài đang che giấu thì không còn là một bí ẩn, cũng như bản chất của linh hồn đối với nhà tâm lý học nội môn. Cội nguồn của sự sống duy nhất, tức cảnh giới, hay trạng thái mà từ đó sự sống ấy xuất phát là Bí Mật Ẩn Giấu vĩ đại đối với các thành viên của Huyền Giai các vị adepts. Bản chất của tinh thần, tính chất và loại năng lượng vũ trụ của nó, tốc độ rung động của nó và các biến phân vũ trụ căn bản của nó là sự nghiên cứu của các điểm đạo đồ trên mức độ thứ ba, và là
26 chủ đề của các nghiên cứu của họ. Các Ngài mang đến việc nghiên cứu đó một trực giác được phát triển đầy đủ, cộng với năng lực giải thích của thể tríchu kỳ lâm phàm của các ngài đã phát triển được. Các ngài dùng ánh sáng nội tâm đã được thức tỉnh và phát triển của linh hồn mình để giải thích, và hiểu rằng sự sống đó (tách khỏi thế giới sắc tướng) vẫn tồn tại trên các mức độ tâm thức cao siêu, và thâm nhập vào tháidương-hệ chúng ta từ một trung tâm hiện tồn nào đó ở bên ngoài. Do đó, các ngài chiếu rọi ánh sáng này (vốn ở trong các ngài và các ngài điều khiển và sử dụng nó) theo hai hướng, khi làm vậy, các ngài đứng ở trạng thái chính giữa và hành động khi các ngài chọn để hoạt động trên cõi trực giác, tức cõi bồ đề. Các ngài đưa ánh sáng đó vào cõi sắc tướng, và biết hết mọi vật, giải thích mọi vật một cách chính xác; các ngài phóng chiếu ánh sáng đó vào các lĩnh vực sắc tướng của ba cõi cao (sắc tướng theo quan điểm của con người trong ba cõi giới dưới cõi trực giác), và tìm cách để hiểu, nhờ sự tăng trưởng luôn luôn mở rộng, bản chất và mục tiêu của những gì vốn không phải là xác thân, cũng không phải là linh hồn, không phải là lực (force), cũng không phải là vật chất (matter), nhưng lại là nguyên nhân của cả hai trong vũ trụ.
Sau rốt, khi điểm đạo đồ đã trải qua các cuộc điểm đạo cao trong thái dương hệ, và có thể hoạt động trong tâm thức đầy đủ của Chân Thần, sự hiểu biết về những gì vốn được tách biệt thậm chí ra khỏi hình tướng tập thể, và ra khỏi các lớp vỏ (thể thấp, sheaths) mù mịt đang che khuất Đấng Duy Nhất (the One) trở thành có thể xảy ra. Các loại tâm thức cao nhất tác động từ cõi của Chân Thần trong khi điểm đạo đồ thuộc cấp thấp hoạt động từ cõi của linh hồn, và sử dụng các cơ quan nhận thức (giá mà cách diễn đạt thiếu thỏa đáng như thế là hợp lý) và các phương tiện tri thức mà con người bậc trung không hề có ý tưởng nào về nó; các tâm thức này thấu nhập hay là bao hàm trong phạm vi hiểu biết của chúng toàn thể sự sống, tâm thức và hình tướng mà chúng ta định rõ là Thượng Đế (God). Lúc bấy giờ, các điểm đạo đồ cao cấp này bắt đầu biết đến một rung động, một ánh sáng hiện ra, một nốt hay âm thanh chỉ hướng xuất phát từ bên ngoài toàn bộ
27 thái-dương-hệ chúng ta. Cách duy nhất mà trong đó chúng ta có thể có một sự nhận thức về diễn trình tiếp theo trong việc mở rộng tâm thức thiêng liêng trong con người, là nghiên cứu mối quan hệ của thể trí với não bộ và lưu ý những gì đi theo khi não bộ (brain) trở thành dụng cụ sáng suốt của thể trí (mind); kế đó nghiên cứu sự liên quan của linh hồn với thể trí và những gì xảy đến khi con người được linh hồn mình hướng dẫn, và sử dụng thể trí để kiểm soát các hoạt động ở cõi trần qua trung gian của bộ óc. Trong ba cái này – linh hồn, thể trí và bộ óc – chúng ta có sự tương đồng và manh mối cho sự hiểu biết về tinh thần, linh hồnxác thân, và các chức năng hỗ tương của chúng. Điều này đã là chủ đề (subject matter) của quyển Ánh Sáng của Linh Hồn. Dựa trên sự hoàn thiện của các điều kiện được đề cập trong sách đó, vẫn còn một mở rộng khác nữa tiếp theo, khi trạng thái tinh thần, tức cội nguồn năng lượng phát ra của con người, bắt đầu sử dụng linh hồn (xuyên qua trực giác) và bắt đầu tạo ấn tượng lên linh-hồn-thức các định luật, các tri thức, các mãnh lực và các linh hứng vốn sẽ làm cho linh hồn thành dụng cụ của tinh thần hay Chân Thần, giống như con người cá biệt, ở một giai đoạn trước đó (xuyên qua thể trí), đã trở thành dụng cụ của linh hồn. Trong giai đoạn trước đó, sự phát triển có hai mặt. Khi linh hồn đảm trách việc kiểm soát, xuyên qua thể trí, nhờ thế mà bộ óc đã trở nên đáp ứng với linh hồn. Con người đã được thức tỉnh trước sự hiểu biết về chính mình như y đã thực sự thức tỉnh và hiểu biết đối với ba cõi tiến hóa bình thường của y; về sau y đã trở nên có tập thể thức và không còn là một cá thể tách biệt nữa. Khi linh hồn được đưa vào dưới sự chi phối của tinh thần, hai giai đoạn tương tự cũng được nhìn thấy:
Thứ nhất, vị đệ tử bắt đầu ý thức không chỉ nhóm và các nhóm liên minh của mình, mà tâm thức của y được mở rộng cho tới khi nó có thể được gọi là tâm thức hành tinh.
Thứ hai, y bắt đầu phối hợp ý thức hành tinh đó vào một cái gì đó có tính tổng hợp hơn nữa, và dần dần phát triển tâm
28 thức của sự sống vĩ đại hơn, nó bao gồm sự sống hành tinh, giống như con người bao hàm trong biểu hiện thể chất của mình những cơ quan sống động như là tim hoặc bộ óc của y. Khi điều này xảy ra, y bắt đầu hiểu được ý nghĩa của tinh thần, tức là sự sống duy nhất ở sau mọi hình hài, năng lượng trung ương vốn là nguyên nhân của mọi biểu lộ.
Phản ứng đầu tiên của môn sinh bậc trung khi đọc thấy đoạn nói trên là nghĩ ngay đến phàm ngã (body nature, bản chất xác thân) khi nó biểu lộ loại năng lượng này hoặc năng lượng khác. Do đó tính lưỡng nguyên (duality) là việc được chú ý, và những gì vận dụng việc đó hiện diện trong trí y. Tuy thế, một trong các điều thiết yếu chính trước mắt những người tìm đạo huyền bí vào lúc này là cố gắng nghĩ về thực tại duy nhất, là chính năng lượng chớ không có gì khác. Do đó, thật đáng để nhấn mạnh trong việc thảo luận của chúng ta về đề tài sâu sắc này, sự thật rằng tinh thần (spirit) và năng lượng (energy) là các thuật ngữ đồng nghĩa và có thể thay thế lẫn nhau. Chỉ bằng việc nhận thức về điều này, chúng ta mới có thể đi đến sự hòa giải của khoa học với tôn giáo, và đạt đến một hiểu biết chân thật về thế giới hiện tượng năng động mà chúng ta bị nó bao quanh và chúng ta hoạt động trong đó.
Các thuật ngữ, hữu cơ (organic) và vô cơ (inorganic) (theo bộ GLBN: inorganic tức là dead matter hay vật chất chết. GLBN 2, trang 232), chịu trách nhiệm phần lớn cho nhiều sự lầm lẫn (confusion) và sự phân biệt rõ ràng đang tồn tại trong trí của nhiều người giữa thể xác (body) với tinh thần (spirit), giữa sự sống (life) với hình tướng (form), và đã dẫn đến việc khước từ thừa nhận sự đồng nhất (identity) căn bản trong thiên nhiên của hai phân chia này. Trái đất mà chúng ta sống trong đó được đa số người xem như thực sự rắn đặc và hữu hình, tuy nhiên đang sở hữu một sức mạnh huyền bí nào đó (ẩn giấu bên trong nó) vốn tạo ra sự chuyển động, hoạt động và thay đổi. Dĩ nhiên điều này được diễn đạt một cách đại khái, nhưng cũng đủ để kết luận cho thái độ thiếu sáng suốt.
Nhà khoa học chính thống bận tâm phần lớn với các kết cấu và các mối quan hệ, với các thành phần cấu thành của hình tướng và với hoạt động được tạo ra bởi các phần hợp thành của hình tướng đó, và các liên hệ hỗ tương cùng các
29 phần phụ thuộc của chúng. Các hóa chất và các nguyên tố, các chức năng và các vai trò mà chúng tham gia, và các tác động hỗ tương của chúng khi chúng tạo thành mọi hình tướng trong mọi giới của thiên nhiên, là chủ đề tìm hiểu của họ. Bản chất của nguyên tử, của phân tử và tế bào, các chức năng của chúng, các tính chất của các biểu lộ sức mạnh và các loại hoạt động khác nhau của chúng, cách giải quyết vấn đề đối với tính chất và bản thể của các năng lượng – được tập trung hoặc được khu biệt trong các hình hài khác nhau của thế giới thiên nhiên hay thế giới vật chất – đòi hỏi sự suy xét của các trí tuệ có năng lực nhất trong thế giới tư tưởng. Tuy nhiên, các vấn đề : Sự Sống là gì; hoặc Năng Lượng là gì; hay tiến trình Biến Dịch (process of Becoming) và bản chất của Sự Hiện Tồn (Being) là gì? vẫn không được trả lời. Vấn đề về Nguyên Nhân (the Why) và Lý Do (the Wherefore) được xem như không có kết quả, có tính cách suy đoán và hầu như không giải thích được.
Tuy nhiên, nhờ lý trí thuần túy và nhờ sự hoạt động chính xác của trực giác, các vấn đề này có thể được giải quyết và các câu hỏi này được giải đáp. Giải pháp của chúng là một trong những sự mặc khải thông thường và các thành tựu của điểm đạo. Các nhà sinh vật học chân chính duy nhất là các điểm đạo đồ thuộc các bí pháp, vì họ có một hiểu biết về sự sống và mục tiêu của sự sống đó, và trở nên đồng nhất hóa với nguyên khí sự sống đến nỗi họ suy tưởng và nói năng dưới dạng năng lượng và các hiệu quả của nó, và tất cả hoạt động của họ có liên quan với công việc của huyền giai hành tinh được dựa vào một vài cách thức căn bản có liên quan tới sự sống, vì sự sống làm cho chính nó được cảm nhận qua ba biến phân hay trạng thái của nó: − năng lượng, lực, vật chất.
Ở đây nên lưu ý rằng, chỉ khi nào một người hiểu được chính mình thì y mới có thể đạt đến một sự hiểu biết cái vốn là tổng thể mà chúng ta gọi là Thượng Đế. Đây là một sự thực hiển nhiên (a truism) và là một câu nói tầm thường nhưng huyền bí (occult platitude), nhưng khi được tuân theo, sẽ dẫn đến một sự mặc khải làm cho “Vị Thượng Đế Bất Khả Tri” hiện nay trở thành một thực tại được nhận biết. Hãy để Tôi minh họa:
Con người tự biết mình là một thực thể sống động (living being), và gọi sự chết là tiến trình huyền bí mà trong
30 đó có một cái gì đó mà y thường gọi là hơi thở của sự sống bị rút ra. Do sự rút ra của hơi thở đó, hình hài tan rã. Lực sinh động cố kết ra đi, và điều này tạo ra một sự phân hủy thành các yếu tố căn bản của nó, của cái mà từ trước đến giờ đã được xem là cơ thể.
Nguyên khí sự sống này, điều cốt yếu căn bản này của Bản Thể, và yếu tố khó hiểu huyền nhiệm này là sự tương ứng trong con người của điều mà chúng ta gọi là tinh thần hay sự sống trong đại thiên địa. Giống như sự sống trong con người duy trì, làm sinh động, truyền sinh lực và thúc đẩy hình tướng vào hoạt động, và nhờ thế làm cho con người thành một thực thể sinh động (living being), cũng thế, sự sống của Thượng Đế − theo cách gọi của người Cơ Đốc giáo – thực hiện cùng mục tiêu trong vũ trụ và tạo ra một tổng thể năng động, cố kết, sinh động, mà chúng ta gọi là một tháidương-hệ.
Nguyên khí sự sống này trong con người biểu lộ theo ba cách:
1. Dưới hình thức ý chí, mục tiêu, động cơ căn bản có định hướng. Đây là năng lượng năng động, năng lượng này làm vận hành sự tồn tại của y, mang y vào cuộc sống, ấn định kỳ hạn sự sống của y, dẫn dắt y vượt qua các năm, dài hoặc ngắn, và tự rút ra vào cuối chu kỳ sống của y. Đây là tinh thần trong con người, biểu hiện dưới hình thức ý muốn sống, tồn tại, hành động, theo đuổi, tiến hóa. Ở trạng thái thấp nhất của nó, tinh thần tác động thông qua thể trí hay bản chất trí tuệ, và, trong sự liên kết với xác thân trọng trược, tinh thần làm cho nó được cảm nhận thông qua bộ óc.
2. Dưới hình thức mãnh lực cố kết (coherent force). Chính tính chất căn bản quan trọng đó làm cho mỗi người khác nhau, tạo ra sự biểu lộ phức tạp về các tính khí, các ham muốn, các tính chất, các mặc cảm (complexes), các ức chế, các cảm xúc, và các đặc điểm vốn tạo ra tính chất tâm lý đặc thù của một người. Đây là kết quả của sự tương tác giữa trạng thái tinh thần hay trạng thái năng lượng với bản thể vật chất hay phàm ngã (body nature). Đây là con người chủ quan đặc biệt, tức sắc thái, hay nốt (tính chất) cá biệt của y. Chính con
31 người này ấn định tốc độ của hoạt động rung động của xác thân y, tạo ra kiểu hình hài đặc biệt của y, chịu trách nhiệm cho tình trạng và bản chất của các cơ quan của y, các tuyến của y và các trạng thái bề ngoài của y. Đây là linh hồn và – ở trạng thái thấp nhất của nó – sẽ được thấy tác động thông qua bản chất xúc cảm hay cảm dục, và, trong sự liên kết với xác thân trọng trược, tác động thông qua tim.
3. Dưới hình thức hoạt động của các nguyên tử và các tế bào mà xác thân được tạo thành từ đó. Đó là toàn bộ các sinh linh nhỏ bé mà các cơ quan của con người, bao gồm toàn bộ con người, được tạo thành với chúng. Các sinh linh này có sự sống riêng của chúng, và một tâm thức hoàn toàn có cá tính và được đồng nhất hóa. Trạng thái này của nguyên khí sự sống tác động qua thể dĩ thái hay thể sinh lực; và, trong sự liên kết với cơ cấu rắn đặc của hình hài hữu hình, tác động qua lá lách.
Do đó, chúng ta nên nhớ rằng định nghĩa về tinh thần không thể thực hiện được, cũng như không thể có được định nghĩa về Thượng Đế. Khi người ta nói rằng tinh thần là nguyên nhân không thể diễn tả, không thể xác định, là năng lượng đang phát tỏa, là sự sống duy nhất và cội nguồn của hiện tồn, là toàn bộ mọi thần lực, mọi trạng thái tâm thức và mọi hình hài, là tập hợp của sự sống và những gì được biểu lộ tích cực của sự sống đó, là ngã và phi ngã, là lực và tất cả những gì mà lực đó là động cơ thúc đẩy (motivates), thực ra, người ta đang lảng tránh vấn đề, cố làm những điều không thể làm được, và che giấu sự thật đằng sau một hình thức các ngôn từ. Tuy nhiên, điều này không thể tránh được cho đến khi linh hồn thức được tiếp xúc và được hiểu biết, và Cái Duy Nhất sắc tướng có thể được nhận thức qua ánh sáng trong trẻo của trực giác.
Một trong các bài học đầu tiên mà chúng ta cần học là thể trí chúng ta, cho đến nay chưa đáp ứng với các trực giác ẩn tàng, làm cho chúng ta không thể nói một cách chắc chắn rằng một tình huống như thế là điều này, điều kia hay điều nọ; rằng cho tới khi chúng ta có thể hoạt động trong linh hồn thức của chúng ta, thì chúng ta mới nói được cái nào là đúng,
32 cái nào không đúng; rằng cho tới khi chúng ta đã trải qua sự luyện tập cần thiết, thì chúng ta mới có thể phủ nhận hoặc xác nhận bất cứ điều gì. Thái độ của chúng ta, phải là thái độ của sự thẩm tra hợp lý, còn sự quan tâm của chúng ta là sự quan tâm của một triết gia đang tìm tòi, sẵn lòng chấp nhận một giả thuyết dựa trên cơ sở của tính khả hữu của nó, nhưng không sẵn lòng để chấp nhận như là chân lý đã được chứng minh bất cứ điều gì, cho đến khi tự chúng ta biết rõ về nó. Tôi, một người khao khát các bí nhiệm cao siêu, và là một người đã sục tìm vào các bí nhiệm đó trong một giai đoạn dài hơn là có thể xảy ra cho đến nay đối với nhiều người, có thể viết về những điều mà cho đến nay không thể chứng minh cho bạn hoặc cho công chúng, là những người có thể đọc các giáo huấn này. Đối với Tôi, chúng có thể là và là chân lý và sự thật đã được chứng minh, và đó có thể là đủ đối với Tôi. Đối với bạn, chúng nên được xem như là những điều khả hữu có ý nghĩa và các gợi ý về hướng mà theo đó chân lý có thể được tìm kiếm, nhưng sau đó bạn không nên cho phép bạn vượt qua. Giá trị của các giáo huấn này nằm trong toàn thể của chúng và sẽ được tìm thấy trong cấu trúc cơ bản hay là bộ khung của các giải trình được phối kết và có tương quan, vốn phải được xem như một tổng thể chứ không phải theo chi tiết, và điều này có hai lý do:
1. Như có nói ở trước, ngôn ngữ che đậy chân lý và không để lộ nó ra. Nếu chân lý được nhận biết, đó là vì môn sinh tìm tòi đã tìm thấy một điểm chân lý trong chính y, điểm này giúp soi sáng các giai đoạn của y trong khi y tiến tới một cách chậm rãi và tuần tự.
2. Có nhiều kiểu trí tuệ và không hy vọng rằng thông tin được đưa ra, chẳng hạn như trong bộ luận này, sẽ lôi cuốn được mọi người. Nên nhớ rằng tất cả mọi người đều là các đơn vị tâm thức được truyền sinh khí trên một trong bảy phân thân (emanations) của Thượng Đế. Do đó, ngay cả các Chân Thần của họ hoặc các trạng thái tâm linh bẩm sinh là khác nhau rồi, cũng như trong lăng kính (vốn là một) có tới bảy màu khác nhau. Ngay cả điều này là thế, chỉ bởi vì bản chất, quan điểm và bộ máy nhận thức của con người, mà con
33 mắt của họ ghi nhận và phân biệt các tốc độ ánh sáng rung động khác nhau. Bảy nhóm phụ này lại tạo ra một quan điểm khác, tâm trạng và lối tiếp cận khác, tất cả đều có lý, nhưng tất cả đều đưa ra một góc nhìn hơi khác nhau. Khi nhận thức nói trên được phối hợp với các yếu tố như là các trình độ khác nhau trong tiến hóa, các quốc tịch và các đặc điểm khác nhau, những bất đồng cố hữu được dẫn đến thông qua sự tương tác giữa xác thân có liên quan và môi trường chung quanh, sẽ hiển nhiên là không sự tiếp cận nào với các vấn đề khó hiểu như là bản thể của tinh thần và linh hồn có thể có một định nghĩa chung và chính chúng chịu tuân theo một thuật ngữ phổ biến.
b/ Linh hồn, Chủ Thể Trung Gian hay Nguyên Khí Giữa.
Có hai góc nhìn hay quan điểm mà theo đó bản chất của linh hồn phải được hiểu rõ: một là khía cạnh linh hồn liên quan với giới thứ tư trong thiên nhiên, tức là giới nhân loại, còn quan điểm kia là quan điểm về các giới dưới nhân loại trong thiên nhiên, cần phải nhớ, vốn là các hình ảnh của ba giới cao.
Nên ghi nhớ kỹ rằng chính linh hồn của vật chất (soul of matter) tức anima mundi, là yếu tố có tri giác (sentient factor) trong chính thực chất (subtance). Đó là sự đáp ứng của vật chất (matter) qua khắp vũ trụ và khả năng bẩm sinh đó trong mọi hình tướng, từ nguyên tử của nhà vật lý học, đến tháidương-hệ của nhà thiên văn học, vốn tạo ra hoạt động thông minh không thể chối cãi mà vạn vật đang chứng tỏ. Nó có thể được gọi là năng lượng thu hút, sự cố kết, khả năng tri giác (sentiency), tính sinh động (aliveness), sự hiểu biết hay là ý thức (awareness or consciousness), nhưng có lẽ thuật ngữ rõ ràng nhất là linh hồn là tính chất (quality) mà mọi hình tướng biểu lộ. Đó là một điều gì đó tinh tế để phân biệt một yếu tố này với yếu tố khác, một khoáng chất này với khoáng chất khác. Đó là bản chất căn bản vô hình của hình tướng mà trong giới thực vật, nó xác định đó là một hoa hồng hoặc là
34 bông cải, một cây du (elm) hay là xà lách xon (water cress) sẽ xuất hiện; đó là một loại năng lượng giúp phân biệt các chủng loại khác nhau của giới động vật, và làm cho một người khác với một người khác ở dáng vẻ (appearance), bản chất (nature) và đặc tính (character) của y. Nhà khoa học đã liệt kê, sưu tầm và phân tích các hình tướng; các tên gọi đã được chọn lựa và đặt cho các nguyên tố, các chất khoáng, các hình thức của đời sống thực vật và các chủng loại động vật khác nhau; cấu trúc của các hình tướnglịch sử của tiến trình tiến hóa của chúng đã được nghiên cứu, các suy diễn và các kết luận đã được đạt tới, nhưng giải pháp cho vấn đề của chính sự sống hãy còn vượt quá sự hiểu biết của người thông thái nhất, và cho đến khi sự hiểu biết về “mạng lưới sự sống” hoặc là về thể sinh lực, vốn nằm dưới mọi hình tướng, và liên kết mỗi phần của một hình tướng với mỗi phần khác, được nhận ra và được biết là một sự thực trong thiên nhiên, thì khi ấy vấn đề sẽ được giải quyết.
Định nghĩa về linh hồn có thể được xem như phần nào khả thi hơn là định nghĩa về tinh thần (spirit), nhờ bởi sự kiện là có nhiều người đã trải qua kinh nghiệm, vào lúc này hoặc lúc khác, một sự giác ngộ, một sự khai mở, một sự nâng cao, và một ân phước, vốn đã thuyết phục họ rằng có một trạng thái tâm thức rất khác xa với trạng thái tâm thức thường được kinh nghiệm, cốt để đưa họ vào một trạng thái hiện tồn mới và một trình độ hiểu biết mới. Chính một điều gì đó được cảm nhận và được kinh nghiệm, và bao hàm việc mở rộng tâm linh mà nhà thần bí học đã ghi nhận qua các thời đại, và Thánh Paul có ám chỉ đến khi ông nói về việc “bị lôi cuốn lên tới Cõi Trời thứ ba”, và về việc nghe được ở nơi đó những sự việc mà con người không được phép nói ra. Khi cả hai việc nghe và thấy trên các mức độ này đều tạo ra kinh nghiệm được nhận biết, thì chúng ta có nhà huyền linh học kiêm nhà thần bí.
1. Linh hồn, của đại thiên địatiểu thiên địa, của vũ trụ và con người, là thực thể được tạo ra khi trạng thái tinh thần và trạng thái vật chất được liên kết với nhau.
35 a/ Do đó linh hồn không phải là tinh thần, cũng không phải là vật chất mà là mối quan hệ (relation) giữa cả hai.
b/ Linh hồn là chủ thể trung gian (mediator) giữa nhị nguyên tính này; nó là nguyên khí giữa, khoen nối giữa Thượng Đế với sắc tướng của Ngài.
c/ Do đó, linh hồn là một tên gọi khác để chỉ nguyên khí Christ, dù là trong thiên nhiên hoặc trong con người.
2. Linh hồnlực hút của vũ trụ được sáng tạo và (khi hoạt động) giữ cho mọi hình thể (forms) kết lại nhau để cho sự sống của Thượng Đế có thể biểu lộ hay tự biểu hiện qua các hình thể đó.
a/ Do đó, linh hồntrạng thái kiến tạo hình hài, và là yếu tố thu hút trong mọi hình hài trong vũ trụ, trong hành tinh, trong các giới của thiên nhiên và trong con người (con người tổng kết trong chính mình mọi trạng thái) linh hồn tạo ra hình hài, nó giúp cho hình hài phát triển và tăng trưởng để cung cấp nơi trú ngụ thích hợp hơn cho sự sống nội tại, và thúc đẩy mọi tạo vật của Thượng Đế tiến tới theo con đường tiến hóa, qua hết giới này đến giới khác, hướng đến mục tiêu cuối cùng và một thành tựu huy hoàng.
b/ Linh hồn là chính mãnh lực tiến hóa và điều này đã ở trong trí Thánh Paul khi ngài nói đến “Đấng Christ trong bạn, niềm hy vọng vinh quang” (“Christ in you, the hope of glory”).
3. Linh hồn này biểu lộ khác nhau trong các giới khác nhau của thiên nhiên, nhưng chức năng của nó bao giờ cũng như nhau, cho dù chúng ta đang đề cập đến một nguyên tử của vật chất và sức mạnh của nó để gìn giữ sự đồng nhất của nó với hình tướng và xúc tiến hoạt động của nó theo đường lối riêng của nó, hoặc là chúng ta bàn đến một hình hài ở một trong ba giới của thiên nhiên, được giữ cố kết với nhau, thể hiện các đặc trưng, theo đuổi đời sống theo bản năng riêng của nó, và hoạt động thành một khối hướng đến một điều gì đó cao cả hơn và tốt đẹp hơn.
36 a/ Do đó, linh hồnnhân tố mang lại các đặc điểm riêng biệt và các biểu lộ sắc tướng khác nhau.
b/ Linh hồn tác động lên vật chất, thúc đẩy vật chất đảm nhận một số hình thức (shapes), để đáp ứng với một số rung động, và để tạo ra các hình tướng đặc biệt thuộc cõi hiện tượng mà chúng ta nhận biết trong thế giới của cõi hồng trần dưới hình thức khoáng chất, thực vật, động vật và con người, − và đối với điểm đạo đồ thì còn có một số hình thức khác nữa.
4. Các tính chất, các rung động, các màu sắc và các đặc điểm của tất cả các giới trong thiên nhiên là các tính chất của linh hồn, như là các năng lực tiềm tàng trong bất cứ hình hài nào đang tìm cách biểu lộ và chứng tỏ tiềm năng. Trong tổng thể của chúng vào cuối giai đoạn tiến hóa, chúng sẽ tiết lộ những gì là bản chất của sự sống thiêng liêng và của linh hồn thế giới, − linh hồn tối cao đó sẽ tiết lộ đặc tính (character) của Thượng Đế.
a/ Do đó, qua các tính chất và các đặc điểm này, linh hồn biểu lộ như là sự đáp ứng hữu thức đối với vật chất, vì các tính chất được xuất hiện thông qua sự tương tác của các cặp đối ứng, tinh thần và vật chất, và ảnh hưởng của chúng lên nhau. Đây là nền tảng của tâm thức.
b/ Linh hồnyếu tố hữu thức trong mọi hình hài, cội nguồn của tâm thức mà mọi hình hài biểu lộ và của sự đáp ứng với các điều kiện tập thể chung quanh mà các hình hài trong mọi giới của thiên nhiên thể hiện.
c/ Do đó linh hồn có thể được định nghĩa như là khía cạnh đầy ý nghĩa trong mọi hình hài (được tạo ra qua sự hợp nhất của tinh thần và vật chất), nó cảm nhận, biểu lộ sự hiểu biết, thu hút và xua đuổi, đáp ứng hoặc từ chối đáp ứng, và giữ mọi hình hài trong một tình trạng thường xuyên hoạt động rung động.
d/ Linh hồn là thực thể có tri giác được tạo ra qua sự hợp nhất của Cha−Tinh Thần và Mẹ−Vật Chất. Đó là cái mà
37 trong giới thực vật chẳng hạn, tạo ra sự đáp ứng với tia nắng mặt trời và việc nở ra của chồi búp; đó là cái mà trong giới động vật khiến cho nó thương yêu chủ của nó, đi săn mồi, và tuân theo cuộc sống bản năng của nó; đó là cái mà trong con người, nó làm cho y ý thức về môi trường chung quanh y và nhóm của y, nó khiến cho y sống cuộc đời của y trong ba cõi của sự tiến hóa bình thường của y như kẻ bàng quan, chủ thể nhận thức, diễn viên (actor). Sau rốt chính điều đó khiến cho y phát hiện rằng linh hồn này nơi y vốn có hai phần (dual), phần kia của y đáp ứng với sinh hồn (animal soul), còn phần của y thì nhận ra hồn thiêng (divine soul) của mình. Tuy nhiên, vào lúc này, đa số con người sẽ được nhận thấy là đang hoạt động một cách đầy đủ, không hoàn toàn là sinh hồn, cũng không hoàn toàn là hồn thiêng, mà có thể được xem như nhân hồn (human souls).
5. Linh hồn của vũ trụ − với mục đích làm sáng tỏ – có thể biến phân, hay đúng hơn là (do các giới hạn của hình hàilinh hồn phải hoạt động qua đó) có khả năng nhận biết ở các mức độ rung động khác nhau và các giai đoạn phát triển khác nhau. Do đó bản chất linh hồn trong vũ trụ biểu lộ trong một vài trạng thái hiểu biết lớn lao với nhiều điều kiện chuyển tiếp, mà đa số các trạng thái có thể được liệt kê như sau:
a/ Tâm thức (consciousness), hay trạng thái hiểu biết trong chính vật chất, do bởi sự kiện là Mẹ-Vật Chất đã được làm cho phong phú bởi Cha-Tinh Thần và như thế sự sống và vật chất được mang lại với nhau. Loại tâm thức này liên quan tới nguyên tử, phân tử và tế bào mà mọi hình hài được tạo nên từ đó. Theo đó, hình tướng của thái-dương-hệ, của một hành tinh và của tất cả những gì được tìm thấy ở trên hoặc ở trong một hành tinh được tạo nên.
b/ Tâm thức cảm thụ thông minh (Intelligent sentient consciousness), tức là tâm thức được biểu lộ (evidenced) trong giới khoáng chất và giới thực vật. Chính tâm thức này chịu trách nhiệm đối với tính chất, hình dạng (shape) và sắc thái (colouring) của hình hài thực vật và hình hài khoáng chất, và đối với các bản chất đặc thù của chúng nữa.
c/ Tâm thức động vật (Animal consciousness), việc ý thức
38 về sự đáp ứng của linh hồn của mọi hình hài trong giới động vật, tạo ra các sự khác nhau của chúng, tức là loài và bản tính của chúng.
d/ Tâm thức con người hay ngã thức (Human conscious-
ness or self-consciousness) mà sự phát triển của sự sống, sắc tướng và ý thức trong ba giới kia đã từ từ hướng đến đó. Thuật ngữ này liên quan đến tâm thức cá nhân của con người; và trong các giai đoạn ban đầu thiên về thú tính hơn là thiên tính, do bởi sự khống chế của thể xác động vật (animal body) với các bản năng và các khuynh hướng của nó. H.P.B. định nghĩa con người một cách chính xác là: “một con vật (an animal) cộng với một Thượng Đế”. Về sau nó mới có tính người nhiều hơn, không thuần túy con vật, cũng không hoàn toàn thiêng liêng, mà dao động giữa hai mức độ, do đó làm cho giới nhân loại thành bãi chiến trường lớn giữa các cặp đối ứng, giữa sự thôi thúc hay sự lôi kéo của tinh thần, và sự cám dỗ của vật chất hay mẹ-thiên nhiên (mother-nature), và giữa cái gọi là phàm ngã với con người tâm linh.
e/ Tập thể thức (group consciousness), vốn là tâm thức của các tổng thể vĩ đại, mà con người đạt tới qua sự phát triển, trước tiên là tâm thức cá nhân của y, tức là toàn bộ các kiếp sống của các bản chất động vật, tình cảm và trí tuệ của y, cộng với tia sáng thiêng liêng ngự trong hình hài mà các bản chất đó tạo ra. Rồi đến ý thức về nhóm của y, như được định rõ cho y trong nhóm các đệ tử, hoạt động dưới quyền một Đức Thầy nào đó, đại diện cho Thánh Đoàn đối với y. Thánh
Đoàn (Hierarchy) có thể được định nghĩa như là tổng thể những người con của nhân loại không còn bị tập trung vào ngã thức đã biệt ngã hóa nữa (individualised selfconsciousness), mà các Ngài đã nhập vào một sự nhận thức rộng lớn hơn, tức là nhận thức về sự sống tập thể của hành tinh. Có nhiều giai đoạn trong nhận thức này, tăng lên đủ mức độ, từ nhận thức tập thể nhỏ bé của đệ tử dự bị, lên đến nhận thức tập thể đã hoàn tất của sự sống mà trong Ngài mọi hình tướng đều hiện tồn, tức tâm thức của Hành Tinh
Thượng Đế, “vị Tinh Quân trước Thiên Tòa”, Đấng đang biểu
39 lộ qua hình tướng của một hành tinh, giống như con người biểu lộ qua hình hài của mình trong giới nhân loại.
Do đó linh hồn có thể được xem như khả năng tri giác hợp nhất (unified sentiency) và ý thức tương đối của những gì ẩn sau hình hài của một hành tinh và của một thái-dươnghệ. Những cái sau này (hành tinh và thái dương hệ) là toàn bộ của mọi hình hài, hữu cơ hoặc vô cơ (organic or inorganic, có tổ chức hoặc không tổ chức) như người theo thuyết duy vật phân biệt chúng. Mặc dù linh hồn tạo thành một tổng thể lớn, tuy thế nó vẫn bị giới hạn trong sự biểu lộ của nó, bởi bản thể và tính chất của hình tướng mà nó ngự trong đó, và do đó, có những hình hài có tính đáp ứng cao với linh hồnbiểu hiện cho linh hồn, còn các hình hài khác – do sự trọng trược của chúng và tính chất của các nguyên tử mà chúng được tạo thành từ đó – lại không thể nhận biết các trạng thái cao siêu của linh hồn, hoặc không thể diễn đạt nhiều hơn so với mức rung động thấp của nó, âm điệu hoặc sắc thái của nó. Cái vô cùng nhỏ được nhận biết, cái vô cùng lớn được thừa nhận; nhưng cho đến nay nó vẫn còn là một khái niệm, cho đến lúc mà tâm thức con người có tính bao gồm (inclusive), cũng như tính có chọn lọc (exclusive). Khái niệm này sẽ được hiểu rõ khi trạng thái thứ hai được tiếp xúc và con người hiểu được bản chất của linh hồn. Cũng cần phải nhớ rằng cũng như tam bộ căn bản của sự biểu lộ được thể hiện một cách tượng trưng trong con người dưới hình thức chỉ số năng lượng (năng lượng vật chất), hệ thần kinh và khối lượng cơ thể (body mass) của y, cũng thế, linh hồn cũng có thể được biết như là một tam bộ, tức là các tương ứng cao của tam bộ thấp.
Trước hết, có một điều có thể được gọi là ý chí tinh thần (spiritual will), − đó là một phần (quota) của ý chí đại đồng (universal will) mà bất cứ một linh hồn nào cũng có thể biểu hiện, và thích hợp với mục tiêu của việc khiến cho con người tâm linh (spiritual man, chân nhân) hợp tác theo kế hoạch và mục tiêu của sự sống vĩ đại mà trong đó chân nhân đang hiện hữu. Cũng có tính chất thứ hai của linh hồnbác ái tinh thần (spiritual love), tức là tính chất của tập thể thức, của tính bao gồm, của tình trạng trung gian, của sự thu hút và của sự hợp nhất. Đây là đặc tính cao nhất của linh hồn, vì chỉ linh hồn
40 mới có nó như là nhân tố năng động. Tinh thần hay Chân Thần trước tiên là biểu hiện của ý chí, với bác ái và sự thông tuệ như là các nguyên khí phụ, còn bản thể con người, tức phàm ngã, được phân biệt trước tiên bằng sự thông tuệ, nhưng linh hồn, một cách rất đặc biệt, có tính chất bác ái vốn cũng thể hiện dưới hình thức minh triết khi sự thông tuệ của phàm ngã được hòa nhập với bác ái của linh hồn. Bảng sau đây có thể giúp làm cho ý tưởng rõ ràng hơn.
Chân Thần ........ Ý Chí ............. Mục Tiêu
Ngôi Một ....... Ý Chí, giúp cho Chân Thần tham dự vào mục (1st Aspect) tiêu đại đồng (universal purpose).
Ngôi Hai ........ Bác Ái, năng lượng được tuôn đổ vào linh (2nd Aspect) hồn, làm cho linh hồn có bản chất riêng biệt.
Ngôi Ba .......... Sự Thông Tuệ, được truyền qua linh hồn và (3rd Aspect) được đưa vào biểu lộ qua trung gian xác thân.
Linh Hồn .......... Bác Ái .......... Phương Pháp

Ngôi Một .... Ý Chí, tạm thời chưa hoạt động nhưng tự biểu hiện qua trạng thái trí tuệ của phàm ngã và qua Kundalini, luồng hỏa này khi được đánh thức đúng đắn, sẽ làm cho các cuộc điểm đạo cuối cùng có thể đi vào tâm thức của Chân Thần.
Ngôi Hai .... Bác Ái, thần lực chủ đạo của sự sống linh hồn; qua việc sở hữu này và loại năng lượng này, linh hồn có thể đồng cảm với mọi linh hồn. Qua thể tình cảm, linh hồn có thể tiếp xúc với mọi linh hồn động vật hay mọi linh hồn dưới nhân loại (animal or subhuman souls); qua hoạt động của linh hồn trên cõi riêng của nó, linh hồn có thể tiếp xúc với các linh hồn của tất cả những người đang thiền định; và qua nguyên khí bồ đề, linh hồn có thể tiếp xúc với trạng thái thứ hai của Chân Thần.
Ngôi Ba .... Tri thức. Trạng thái này được đưa vào tiếp xúc với sự thông tuệ của mọi tế bào trong cơ cấu tam phân của cơ thể.
Nhờ nghiên cứu kỹ đoạn nói trên, sự việc trở nên rõ ràng là bằng cách nào linh hồn hoạt động như là tác nhân trung gian giữa Chân Thần với phàm ngã.
Phàm ngã che giấu trong chính nó, như cái hộp che giấu
41 viên ngọc, điểm ánh sáng đó của linh hồn mà chúng ta gọi là ánh sáng trong đầu. Điểm này nằm bên trong não bộ, và chỉ được khám phá và sau đó được sử dụng khi trạng thái cao nhất của phàm ngã, tức thể trí, được phát triển và hoạt động.
Kế đó sự hợp nhất với linh hồn được thực hiện và linh hồn hoạt động qua bản chất phàm ngã.
Linh hồn che giấu trong chính nó, giống như “bảo ngọc trong hoa sen” (“jewel in the lotus”) khả năng đó của năng lượng năng động (dynamic energy) vốn là thuộc tính được biểu lộ của Chân Thần, tức ý chí. Khi linh hồn đã khai mở tất cả mọi quyền năng của nó và đã học cách bao gồm trong tâm thức của nó tất cả những gì được hàm ý bởi câu “hằng hà sa số hình tướng mà Bản Thể khoác lấy” (the “myriad forms that Being takes”), kế đó đến lượt một trạng thái cao siêu hơn hoặc bao gồm hơn bắt đầu xảy ra và sự sống linh hồn được thay thế bằng sự sống Chân Thần. Việc này đòi hỏi một năng lực hiểu biết, yêu thương, và tham gia vào các kế hoạch của một sự sống, vốn có năng lực bao gồm bên trong phạm vi tâm thức của nó không chỉ toàn bộ các sự sống và tâm thức của sự sống của Thượng Đế của hành tinh chúng ta, mà còn gồm tất cả các sự sống và tâm thức bên trong thái-dương-hệ chúng ta nữa. Bản chất của sự hiểu biết này chỉ có thể hiểu được bởi người nào đã đạt tới tri thức-linh hồn (soulknowledge). Đối với những người tinh thông về sự sống của linh hồn, và đối với một nhóm người nam và nữ đang đảm trách công việc thử nghiệm và chuyển tiếp lớn lao, nhu cầu cấp thiết vào lúc này là đưa thêm bằng chứng của họ vào sự thật về các lời phát biểu (statements) của các nhà thần bí học (mystics) và nhà huyền linh học (occultists) của các thời đại.
c/ Phàm Ngã, Sự Xuất Hiện ở Cõi Hiện Tượng (The Body, the Phenomenal Appearance)
Không có nhiều điều cần thiết được viết ra ở đây về việc này, vì bản thể con người (phàm ngã) và khía cạnh sắc tướng đã là đối tượng sưu khảo và đề tài của tư tưởng và thảo luận của người biết suy tư từ nhiều thế kỷ. Nhiều điều mà họ đã đạt đến về căn bản là đúng. Nhà sưu khảo hiện đại sẽ thừa nhận Định Luật Tương Đồng như là nền tảng của các tiền đề, và đôi khi sẽ nhận ra lý thuyết Hermes cho rằng “Trên sao, dưới vậy” (“As above, so below”) có thể phóng chiếu nhiều
42 ánh sáng lên các vấn đề hiện tại. Các định đề sau đây có thể dùng để minh giải:
1. Trong bản thể con người của mình, con người là một tổng thể (sum total), một sự thống nhất (a unity).
2. Cái tổng thể này được chia nhỏ thành nhiều phần và nhiều cơ quan.
3. Tuy thế nhiều tế phân này hoạt động theo một cách thức thống nhất và cơ thể là một tổng thể được liên kết.
4. Mỗi một trong các phần của nó khác nhau về hình thể và về chức năng, nhưng tất cả đều tùy thuộc lẫn nhau.
5. Tuần tự, mỗi phần và mỗi cơ quan được cấu tạo bởi các phân tử, các tế bào và các nguyên tử, tất cả được giữ chung lại với nhau dưới hình thức của một cơ thể bởi sự sống của tổng thể.
6. Cái tổng thể được gọi là con người được chia đại khái thành năm phần, một số có tính quan trọng hơn một số khác, nhưng tất cả đều làm cho toàn vẹn cơ thể sống động mà chúng ta gọi là một con người.
a/ Đầu.
b/ Thân trên (upper torso), hay là phần nằm trên cách mô (diaphragm, cơ hoành).
c/ Thân dưới (lower torso) hay là phần nằm bên dưới cách mô.
d/ Tay.
e/ Chân.
7. Các cơ cấu này dùng cho các mục đích khác nhau, và sự tiện lợi của tổng thể (whole) tùy thuộc vào sự vận hành đúng đắn và sự hiệu chỉnh thích hợp của chúng.
8. Mỗi một trong các cơ cấu này đều có sự sống riêng của nó, vốn là toàn bộ sự sống của cấu trúc nguyên tử của nó, và cũng được làm cho sinh động bởi sự sống thống nhất của tổng thể, được điều khiển từ đầu bằng ý chí hay năng lượng thông tuệ của chân nhân (spiritual man).
9. Phần quan trọng của cơ thể chính là bộ phận gồm ba phần, tức là đầu, thân trên và thân dưới. Con người có thể hoạt động và sống mà không có tay và chân.
10. Mỗi một trong ba phần này cũng chia làm ba theo
43 khía cạnh vật chất, tạo ra sự tương đồng với ba phần của bản chất con người và chín phần của sự sống hoàn thiện của Chân Thần. Có các cơ quan khác, nhưng các cơ quan được liệt kê này là các cơ quan có một ý nghĩa huyền bí có giá trị lớn hơn các phần khác.
a/ Bên trong đầu là:
- Năm não thất (five ventricles of the brain) hay là cái mà chúng ta có thể gọi là não bộ, như là một cơ quan thống nhất.
- Ba tuyến (glandes), gồm tuyến động mạch cảnh (carotid), tuyến tùng quả (pineal) và tuyến yên (pituitary).
- Hai mắt.
b/ Trong thân trên là:
- Cổ họng.
- Hai phổi.
- Tim.
c/ Trong thân dưới có:
- Lá lách.
- Bao tử.
- Các cơ quan sinh dục.
11. Toàn bộ cơ thể cũng có ba phần:
a/ Da và cấu trúc xương.
b/ Mạch máu hay hệ tuần hoàn.
c/ Hệ thần kinh tam phân.
12. Mỗi một trong các tam bộ này tương ứng với ba phần của bản chất con người:
a/ Bản chất vật chất (physical nature): da và cấu trúc xương là sự tương đồng với nhục thân và thể dĩ thái của con người.
b/ Bản chất linh hồn (soul nature): Các mạch máu và hệ tuần hoàn là sự tương đồng với cái linh hồn lan tỏa khắp nơi đó, linh hồn đó xâm nhập vào mọi phần của thái-dươnghệ, như máu đi đến mọi phần của cơ thể.
c/ Bản chất tinh thần (spirit nature): Hệ thần kinh, vì nó truyền năng lượng và tác động khắp con người vật chất, là sự tương ứng với năng lượng của tinh thần.
13. Trong đầu, chúng ta có sự tương đồng với trạng thái tinh thần, tức là ý chí điều khiển, Chân Thần, Đấng Duy Nhất:
44 a/ Bộ óc với năm não thất của nó là sự tương đồng với hình hài vật chất, mà tinh thần làm sinh động liên quan với con người, cái toàn bộ gồm năm phần đó vốn là phương tiện mà qua đó tinh thần phải tự biểu lộ trên cõi trần.
b/ Ba tuyến ở trong đầu có liên quan mật thiết với linh
hồn hay bản chất tâm linh (psychic nature) (cao và thấp). c/ Hai mắt là các tương ứng thuộc cõi trần với Chân Thần, mà Chân Thần lại là ý chí và bác ái−minh triết hay là atma-buddhi, theo thuật ngữ huyền linh học.
14. Trong thân trên (upper body) chúng ta có một tương đồng với bản chất linh hồn tam phân.
a/ Cổ họng (throat), tương ứng với trạng thái sáng tạo thứ ba hay là bản thể con người, sự thông tuệ linh hoạt của linh hồn.
b/ Tim, bác ái-minh triết của linh hồn, thể bồ đề (buddhi) hay nguyên khí Christ. c/ Hai lá phổi, tương đồng với hơi thở của sự sống, là
sự tương ứng của tinh thần.
15. Trong thân dưới, chúng ta lại có hệ thống tam bộ này được thể hiện:
a/ Các cơ quan tính dục, khía cạnh sáng tạo, tác nhân tạo ra thân thể.
b/ Bao tử, với vai trò là biểu lộ hồng trần của bí huyệt đan điền (solar plexus), là sự tương đồng với bản chất linh hồn.
c/ Lá lách, nơi nhận năng lượng và do đó là biểu hiện ở cõi trần của trung tâm lực đang nhận năng lượng này, là sự tương đồng với tinh thần truyền năng lượng.
Thể sinh lực (vital body) là sự biểu lộ của năng lượng linh hồn và có chức năng sau:
1. Nó hợp nhất và liên kết toàn thể mọi hình tướng thành một tổng thể.
45 2. Nó cung cấp cho mỗi hình tướng tính chất riêng biệt của hình tướng đó, và điều này là do bởi:
a/ Loại vật chất được cuốn hút vào phần cụ thể đó của mạng lưới sự sống (web of life, sinh-võng).
b/ Vị trí (position) trong cơ thể của Hành Tinh Thượng Đế, chẳng hạn, của một hình hài đặc biệt nào đó.
c/ Giới cụ thể (particular kingdom) trong thiên nhiên đang được truyền sinh khí.
3. Đó là nguyên khí hội nhập và là lực biểu lộ cố kết, theo ý nghĩa hoàn toàn vật chất.
4. Mạng lưới sự sống này là sự tương đồng về mặt chủ quan đối với hệ thần kinh, và những kẻ bắt đầu tiến vào các khoa học nội môn có thể, nếu họ nhớ điều này, hình dung cho chính họ một mạng lưới thần kinh và đám rối (plexus, tùng, đám rối, búi) chạy khắp toàn bộ cơ thể, hay là toàn bộ mọi hình hài, phối hợp và liên kết, và tạo ra một sự hợp nhất cơ bản.
5. Bên trong sự hợp nhất đó là sự đa dạng. Giống như các cơ quan khác nhau của cơ thể con người được liên kết với nhau bằng sự phân nhánh của hệ thần kinh, cũng thế, bên trong cơ thể của Hành Tinh Thượng Đế là các giới khác nhau trong thiên nhiên và vô số các hình hài. Đàng sau vũ trụ khách quan là thể nhạy cảm tinh anh hơn – một cơ cấu, không phải nhiều, một hình tướng có tính cảm thụ, đáp ứng, liên kết chặt chẽ với nhau.
6. Hình hài nhạy cảm này không những chỉ là những gì đáp ứng với môi trường chung quanh, mà còn là tác nhân truyền chuyển (từ các cội nguồn bên trong) một vài loại năng lượng, và mục tiêu của Bộ Luận có thể được trình bày ở đây, là nhằm cứu xét các loại năng lượng khác nhau được truyền đến hình hài trong giới nhân loại, sự đáp ứng của hình hài đối với các loại thần lực, các ảnh hưởng của lực đó lên con người, và sự đáp ứng dần của y đối với lực đang phát ra:
46 a/ Từ môi trường chung quanh của y, cộng với thể xác bên ngoài của riêng y.
b/ Từ cõi tình cảm, hay lực cảm dục. c/ Cõi trí hay các luồng tư tưởng.
d/ Lực của Chân Ngã (Egoic force), một mãnh lực chỉ được con người nhận ra, và giới thứ tư trong thiên nhiên là tác nhân bảo quản của nó, và lực đó cũng có các ảnh hưởng huyền bí và đặc thù.
e/ Loại năng lượng vốn tạo ra ra sự gắn kết (concretion) các ý tưởng trên cõi trần. f/ Năng lượng hoàn toàn có tính chất tâm linh, hay thần lực từ cõi của Chân Thần.
Tất cả các loại lực khác nhau này có thể được biểu lộ trong giới nhân loại. Một số các lực đó có thể được biểu lộ trong các giới dưới nhân loại, và bộ máy của thể sinh lực trong con người được cấu tạo, sao cho thông qua ba biểu lộ ra ngoại cảnh của nó, hệ thần kinh tam phân, qua bảy đám rối chính (major plexi, các trung tâm lực chính), các hạch thần kinh (nerve ganglia) thứ yếu và hàng ngàn dây thần kinh, tức toàn bộ con người ngoại cảnh có thể đáp ứng với:
a/ Các loại thần lực được nói đến ở trên.
b/ Các năng lượng được tạo ra ở trong và phát ra từ bất cứ phần nào của lưới sự sống bằng chất dĩ thái của hành tinh. c/ Lưới sự sống của thái dương (solar web of life).
d/ Các chòm sao của Hoàng Đạo, chúng tỏ ra có một ảnh hưởng thực sự trên hành tinh chúng ta mà cho đến nay, chiêm tinh học là sự nghiên cứu còn non nớt về chúng.
e/ Một vài vũ trụ lực, vốn sẽ được nhận biết sau này, đang tác động lên và tạo ra các thay đổi trong thái-dương-hệ chúng ta, và tất nhiên trên hành tinh chúng ta, và trên mọi hình hài bên trên và bên trong sự sống hành tinh đó. Điều này đã được đề cập đến trong “Luận Về Lửa Càn Khôn”.
Lưới sự sống hành tinh đáp ứng với tất cả các lực này, và, khi các chiêm tinh gia hoạt động theo con đường huyền
47 linh và xem xét lá số tử vi hành tinh, họ sẽ đạt đến một sự hiểu biết nhanh chóng hơn về các ảnh hưởng của Hoàng Đạo và vũ trụ.
Anima mundi (Linh Hồn thế giới) là những gì nằm đàng sau lưới sự sống. Lưới sự sống chỉ là biểu tượng vật chất của linh hồn đại đồng (universal soul) đó; đó là dấu hiệu bên ngoài và hữu hình của thực tại bên trong, sự cụ thể hóa của thực thể đáp ứng nhạy bén đang liên kết tinh thần và vật chất lại với nhau. Chúng ta gọi thực thể này là Linh Hồn Đại Đồng (Universal Soul), tức nguyên khí trung gian theo quan điểm của sự sống hành tinh. Khi chúng ta thu hẹp ý niệm xuống đến gia đình nhân loại, và xem xét con người cá biệt, chúng ta gọi nó là nguyên khí trung gian, vì linh hồn của nhân loại không chỉ là một thực thể liên kết tinh thần với vật chất, và làm trung gian (mediate) giữa Chân Thần với phàm ngã, mà linh hồn nhân loại còn có một chức năng độc đáo là thực hiện vai trò trung gian giữa ba giới cao trong thiên nhiên với ba giới thấp. Ba giới cao là:
1. Huyền Giai Tinh thần (Spiritual Hierarchy) của hành tinh chúng ta, các tinh linh thiên nhiên (nature spirits, tinh linh ngũ hành) hay là các thiên thần (angels), và các tinh thần con người (human spirits), đang đứng ở một điểm đặc biệt trên thang tiến hóa. Trong số các vị này, Đức Sanat Kumara (Đức Ngọc Đế), hiện thân cho một nguyên khí của Hành Tinh Thượng Đế, ở vị trí cao nhất, và một điểm đạo đồ cấp thứ nhất ở vị trí thấp nhất, cùng với các thực thể tương ứng trong giới mà chúng ta gọi là giới thiên thần (angel or deva kingdom).
2. Huyền Giai của các Cung – một số tập hợp của bảy cung có liên quan với hành tinh chúng ta.
3. Một Huyền Giai các Đấng Cao Cả, được tập hợp lại bởi một diễn trình tiến hóa, bắt nguồn từ sự tiến hóa hành tinh chúng ta và từ bốn hành tinh khác, các Ngài tiêu biểu trong chính các Ngài mục tiêu và kế hoạch của Thái Dương Thượng Đế liên quan với năm hành tinh có liên can.
Khi thu hẹp ý niệm xuống tới tiểu thiên địa, Chân Ngã hay Linh Hồn tác động thực sự với vai trò là nguyên khí
48 trung gian, liên kết Huyền Giai của các Chân Thần với các hình hài đa dạng bên ngoài mà chúng sử dụng một cách tuần tự trong tiến trình: a/ Thu thập một vài kinh nghiệm, đưa đến việc hoạch đắc các thuộc tính. b/ Triển khai một số ảnh hưởng được bắt đầu trong một thái-dương-hệ trước.
c/ Hợp tác trong kế hoạch của Thái Dương Thượng Đế liên quan với Nghiệp Quả (Karma) của Ngài (nếu người ta có thể dùng một đại danh từ khi nói về một sự sống vốn là một sự hiện tồn và lại còn là một ý niệm được mở rộng) – một điểm thường bị bỏ qua. Karma này của Ngài phải được thể hiện qua phương pháp lâm phàm (incarnation), và kết quả theo sau của năng lượng lâm phàm đó dựa vào chất liệu của hình hài. Điều này được biểu tượng hóa cho chúng ta, nếu chúng ta có thể chỉ hiểu nó, trong mối tương quan của mặt trời đối với mặt trăng. “Thái Dương Tinh Quân (Solar Lord) với hơi ấm và ánh sáng của Ngài kích thích các Thái Âm Tinh Quân (Lunar Lords) đang tàn tạ vào một sự sống giả tạo. Đây là sự dối trá lớn; và là Maya (hão huyền) của Bản Lai Diện Mục (Presence) của Ngài”. Cổ Luận viết như thế, và thường được Tôi dẫn chứng trong các sách trước kia. Quan niệm nói trên cũng có trong nó chân lý cho linh hồn cá biệt.
Nguyên khí trung gian (middle principle) này hiện đang ở trong tiến trình hiển lộ. Trạng thái thấp đang hoạt động. Trạng thái cao vẫn chưa được biết tới, nhưng những gì liên kết chúng (và cùng lúc tiết lộ bản chất của trạng thái cao) đang sắp được khám phá. Cấu trúc, cơ cấu, hiện đang sẵn sàng và được phát triển đến mức hữu dụng của nó; sự sống thiết yếu có thể dẫn dắt và kích hoạt bộ máy cũng đang hiện hữu, và hiện con người có thể sử dụng và kiểm soát một cách khôn ngoan, không chỉ bộ máy, mà còn cả nguyên khí linh hoạt nữa.
Biểu tượng lớn của linh hồn trong con người là thể sinh lực hay thể dĩ thái của y, và vì các lý do sau đây:
1. Đó là tương ứng vật chất đối với thể ánh sáng bên trong (inner light body) mà chúng ta gọi là thể linh hồn (soul
49 body) tức thể tinh thần (spiritual body). Nó được gọi là “chén vàng” (“golden bowl”) trong Thánh Kinh (Bible) và được nhận ra bởi:
a/ Tính chất ánh sáng của nó.
b/ Tốc độ rung động của nó, tốc độ này luôn luôn đồng bộ với sự phát triển của linh hồn.
c/ Lực cố kết của nó, đang liên kết và kết nối mọi phần của cấu trúc cơ thể.
2. Đó là “mạng lưới sự sống” (“web of life”) của tiểu thiên địa vì nó nằm dưới mọi phần của cấu trúc vật chất và có ba mục tiêu:
a/ Truyền nguyên khí sự sống, năng lượng vốn tạo ra hoạt động, đi khắp cơ thể. Nó làm được điều này nhờ dòng máu, điểm tập trung cho sự phân phối này là tim. Đó là tác nhân vận chuyển sinh lực cho thể xác.
b/ Làm cho linh hồn, hay con người, chưa phải là con người tâm linh, đồng cảm với môi trường chung quanh của y. Việc này được tiến triển qua trung gian của toàn bộ hệ thần kinh, điểm tập trung của hoạt động đó là não bộ. Đây là trung tâm của sự tiếp nhận hữu thức.
c/ Sau rốt, qua sự sống và tâm thức, tạo ra một hoạt động tỏa chiếu, tức là sự biểu lộ của vinh quang, vốn sẽ làm cho mỗi người thành một trung tâm hoạt động để phân phối ánh sángnăng lượng thu hút đến những kẻ khác trong giới nhân loại, và qua giới nhân loại, đến các giới dưới nhân loại. Đây là một phần của kế hoạch của Hành Tinh Thượng Đế để truyền sinh lựcphục hồi lại rung động của các hình hài mà chúng ta gọi là dưới nhân loại.
3. Biểu tượng tiểu thiên địa này của linh hồn chẳng những nằm dưới toàn bộ cấu trúc vật chất, và như thế là một biểu tượng của anima mundi, hay là linh hồn thế giới (world soul), mà còn là một thực thể thống nhất, cố kết và không thể phân chia được, do đó tượng trưng cho sự thống nhất (unity)
50 và sự thuần trạng (homogeneity) của Thượng Đế. Không có các cơ cấu riêng biệt trong đó, mà chỉ là một cơ thểthần lực đang tuôn chảy tự do, thần lực đó chính là một sự phối hợp hay sự hợp nhất của hai loại năng lượng với số lượng thay đổi, năng lượng năng động và năng lượng thu hút hay từ lực. Hai loại năng lượng này cũng tiêu biểu cho linh hồn đại đồng – thần lực của ý chí, và của bác ái, hay của atma và buddhi, và chính sự tác động của hai lực này lên vật chất mới thu hút vào thể dĩ thái của mọi hình hài các nguyên tử vật chất cần thiết, và – khi đã thu hút chúng như thế − bằng mãnh lực của ý chí, thôi thúc chúng vào một số hoạt động.
4. Thể ánh sángnăng lượng cố-kết, thống-nhất này là biểu tượng của linh hồn, nơi đó nó có bên trong nó bảy điểm tập trung, mà trong đó sự ngưng tụ (condensation), nếu nó phải được gọi thế, của hai năng lượng phối hợp được tăng cường. Các điểm tập trung này tương ứng với bảy điểm tập trung trong thái-dương-hệ, trong đó Thái Dương Thượng Đế, thông qua bảy Hành Tinh Thượng Đế, tập trung các năng lượng của Ngài. Điều này sẽ được thảo luận chi tiết sau. Điểm cần được lưu ý ở đây chỉ là bản chất có tính chất biểu tượng của thể dĩ-thái hay thể sinh-lực, vì chính bằng việc tìm hiểu bản chất của các năng lượng được hiển lộ, và bản chất thống nhất của hình tướng và sự hoạt động, mà một ý tưởng nào đó về hoạt động của linh hồn, tức nguyên khí trung gian trong thiên nhiên, mới có thể được hiểu rõ.
5. Tính tượng trưng cũng được đưa ra khi người ta nhớ rằng thể dĩ thái liên kết thể xác thuần túy, tức nhục thân (dense body) với thể tinh anh thuần khiết, tức thể cảm dục hoặc thể tình cảm (the astral or emotional body). Trong thể này, người ta thấy hình ảnh (reflection) của linh hồn trong con người liên kết ba cõi thấp (tương ứng với các trạng thái đặc, lỏng và khí của thể thuần vật chất của con người) với các cõi cao trong thái-dương-hệ, như vậy liên kết cõi trí với cõi bồ đề và liên kết thể trí với các trạng thái trực giác của tâm thức.

51 Qui Luật Một

Thái Dương Thiên Thần (Solar Angel) bình tĩnh lại, không phân tán sức mạnh của mình, trong cơn thiền định thâm sâu, giao tiếp với hình ảnh của mình.

Vài Giả Thuyết Căn Bản.
Con Đường của Người Đệ Tử.

53 Qui Luật Một
VÀI GIẢ THUYẾT CĂN BẢN
Chúng ta đang bắt đầu một tiến trình nghiên cứu, mà trong đó toàn bộ khuynh hướng sẽ là đưa người nghiên cứu trở lại với chính mình, và như thế trở lại với đại-ngã (larger self) mà trong hầu hết các trường hợp, đại ngã đó chỉ làm cho sự hiện hữu của nó được cảm nhận ở những khoảnh khắc hiếm hoi và tình cảm dâng cao. Khi bản ngã (self) được biết rõ (is known) chớ không chỉ được cảm thấy (felt), và, khi sự nhận thức thuộc về trí tuệ cũng như thuộc về giác quan, thì lúc bấy giờ người tìm đạo mới có thể thực sự sẵn sàng cho cuộc điểm đạo.
Tôi muốn lưu ý rằng các lời của Tôi được dựa vào một vài giả thuyết căn bản, mà để minh giải, Tôi muốn phát biểu một cách vắn tắt mà thôi.
Thứ nhất, người môn sinh chân thành trong hoài bão của mình, và nhất quyết tiến tới bất kể phản ứng gì có thể xảy ra của phàm ngã và cho phàm ngã. Chỉ những ai có thể phân biệt rõ ràng giữa hai trạng thái của bản chất họ, tức chân ngã và huyễn ngã (illusory self, phàm ngã), thì mới có thể hành động một cách sáng suốt. Điều này đã được diễn tả rõ ràng trong Yoga Điển Tắc của Patanjali (Yoga Sutras of Patanjali).
“Kinh nghiệm (về các cặp đối ứng) xuất phát từ việc linh hồn không thể phân biệt giữa phàm ngã với purusa (hay tinh thần). Các hình tướng bên ngoài (objective forms) tồn tại để cho con người tâm linh sử dụng và học hỏi kinh nghiệm. Nhờ tham thiền về việc này, nhận thức trực giác của con người tâm linh mới phát sinh”.
Quyển III. 35.
Câu Kinh (Sutra) thứ 48 trong cùng quyển nói trên, đưa ra một phát biểu bao gồm giai đoạn sau của sự nhận thức có tính phân biện này. Tính chất nhận thức này được thúc đẩy bằng một thái độ hồi tưởng của thể trí, và bằng sự quan tâm chu đáo đến phương pháp thường xuyên xem xét lại cuộc sống.
54 Thứ hai, Tôi đang hành động dựa theo giả định rằng tất cả mọi người đều đã sống đủ lâu, và đã đấu tranh đầy đủ với các mãnh lực gây cản trở của sự sống để giúp cho họ phát triển một ý thức khá đúng về các giá trị. Tôi cho rằng họ đang nỗ lực để sống như những người hiểu biết một điều gì đó về các giá trị vĩnh cửu chân thực của linh hồn. Họ sẽ không bị ngăn lại bởi bất cứ những việc nào xảy ra với phàm ngã, hoặc bởi sức ép của thời gian và hoàn cảnh, bởi tuổi tác hoặc bởi khuyết tật của thân xác. Họ đã khôn ngoan học hỏi rằng sự xông xáo nhiệt tình và một sự tiến bộ mãnh liệt đều có các mặt hạn chế (drawbacks) của nó, còn một sự cố gắng bền bĩ, đều đặn, vững chắc, cuối cùng sẽ đưa họ tiến xa hơn. Các sự bộc phát không đều của nỗ lực và áp lực nhất thời sẽ tàn dần thành nỗi thất vọng và một cảm giác thất bại nặng nề. Chính là con rùa, chứ không phải con thỏ đến đích trước tiên, mặc dù cuối cùng thì cả hai đều đến đích.
Thứ ba, Tôi cho rằng những ai thật sự tự mình lợi dụng các chỉ dẫn trong sách này đều sẵn sàng thực hiện các yêu cầu đơn giản, để đọc những gì được viết ra một cách có suy nghĩ, để cố gắng cấu tạo thể trí của họ và giữ vững công việc thiền định của họ. Việc cấu tạo thể trí là một công việc làm suốt ngày, và việc ứng dụng thể trí vào việc sẵn có xuyên suốt các công việc nhỏ nhặt hằng ngày, là cách tốt nhất để làm cho các giai đoạn học hỏi và thiền định có kết quả, và thích hợp với tâm nguyện (vocation) của vị đệ tử.
Với các giả định được hiểu biết thông suốt này, các lời của Tôi được dành cho những ai đang tìm cách đạt đến tiêu chuẩn dành cho những người phụng sự lão luyện. Bạn nên chú ý, Tôi không nói đến những ai đủ tiêu chuẩn. Ý định và nỗ lực được chúng tôi xem là quan trọng hàng đầu, và là hai điều kiện tất yếu chính cho tất cả các đệ tử, điểm đạo đồ và các Đức Thầy, cộng với sức mạnh của sự kiên trì.
Trong việc xem xét của chúng ta về các qui luật này, Tôi không quá quan tâm về cách áp dụng của chúng vào chính công tác huyền thuật như trong việc huấn luyện nhà huyền
55 thuật (magician), và trong việc phát triển người này theo quan điểm về cá tính riêng của y. Sau này chúng ta có thể đưa xuống việc áp dụng kiến thức đối với sự biểu lộ bên ngoài của các lực trên thế gian, nhưng hiện giờ mục tiêu của chúng ta thì khác; Tôi tìm cách làm cho thể trí và bộ óc (và do đó phàm ngã) của các môn sinh chú trọng đến chân ngã, qua đó nâng cao sự quan tâm tinh thần của họ ngõ hầu phát sinh sự thúc đẩy đầy đủ để khiến cho họ tiến tới.
Cũng vậy, phải đừng quên rằng một khi sự kỳ diệu (magic) của linh hồn được phàm ngã hiểu thấu, linh hồn ấy sẽ chế ngự một cách vững vàng, và có thể được tin cậy để tiến hành việc luyện tập của con người đến kết quả, không bị trở ngại (như bạn tất nhiên đang bị) bởi các tư tưởng về thời giankhông gian, và bởi việc thiếu hiểu biết về quá trình phát triển đã qua của linh hồn có liên quan. Cần phải luôn luôn ghi nhớ rằng, khi đề cập đến các cá nhân, công việc được đòi hỏi có hai phần:
1 . Chỉ dạy cho các cá nhân đó cách thức để liên kết cái ngã thấp kém của cá nhân với linh hồn đang ứng linh (overshadowing soul), sao cho trong bộ óc xác thân có một ý thức chắc chắn (assured consciousness) về thực tại của sự thật thiêng liêng đó. Tri thức này làm cho thực tại giả tạo từ trước đến giờ về ba cõi thấp không còn hiệu quả thu hút và lôi cuốn, và là bước đầu tiên, ra khỏi giới thứ tư, nhập vào giới thứ năm.
2 . Đưa ra một giáo huấn thực tiễn như thế, sẽ giúp cho người tìm đạo (aspirant) :
a/ Thông hiểu bản chất riêng của mình. Điều này bao hàm một kiến thức nào đó của giáo huấn trong quá khứ về cấu tạo của con người, và một nhận thức về các giải thích của các nhà sưu khảo hiện đại, cả Đông Phương lẫn Tây Phương.
b/ Kiểm soát các sức mạnh của chính bản chất của mình, và học được điều gì đó về các lực đang bao quanh y.
c/ Cho phép y khai mở các năng lực tiềm tàng của mình, sao cho y có thể giải quyết các vấn đề đặc biệt riêng của mình, đứng trên đôi chân của mình, vận dụng sự sống riêng
56 của mình, giải quyết các khó khăn riêng của mình, và trở nên mạnh mẽ và ở tư thế sẵn sàng về mặt tinh thần, đến nỗi y thúc đẩy việc công nhận về sự thích hợp của y để được nhìn nhận như một người hoạt động trong cơ tiến hóa, như một nhà huyền linh thuật, và như một người trong nhóm các đệ tử hữu thệ, mà chúng ta gọi là “huyền giai của hành tinh chúng ta”.
Do đó, các đạo sinh của các đề tài này được yêu cầu mở rộng quan niệm của họ về huyền giai các linh hồn đó, để họ bao gồm mọi lĩnh vực bên ngoài của sự sống con người (về chính trị, xã hội, kinh tế, và về tôn giáo). Họ được yêu cầu không hạn chế quan niệm, như rất nhiều người làm thế, chỉ với những người đã sinh ra tổ chức bé nhỏ đặc biệt riêng của họ, hoặc với những người đang hoạt động hoàn toàn trên khía cạnh bên trong của sự sống, và theo những đường lối được công nhận bởi những người bảo thủ như cái gọi là các đường lối tôn giáo hoặc tinh thần. Tất cả những gì hướng tới nâng cao tình trạng nhân loại trên bất cứ bình diện biểu lộ nào đều là hoạt động tôn giáo và có một mục tiêu tâm linh, vì vật chất chỉ là tinh thần trên cảnh giới thấp nhất, và, chúng ta được dạy, tinh thần chỉ là vật chất trên cảnh giới cao nhất. Tất cả đều là tinh thần và các sự phân biệt này chỉ là sản phẩm của cái trí hữu hạn. Do đó, tất cả những người phụng sự và những người nhận biết Thượng Đế đang ở trong hoặc ở ngoài nhục thể, và đang hoạt động trong bất cứ lĩnh vực biểu lộ thiêng liêng nào đều tạo thành một phần của Huyền Giai hành tinh, và là các đơn vị không thể thiếu trong đoàn thể vĩ đại của các nhân chứng, họ là “những khán giả và những quan sát viên”. Họ sở hữu năng lực nội quan tâm linh hay sự tri giác tâm linh, cũng như có tầm nhìn rộng ở cõi khách quan hay cõi trần.
Khi nghiên cứu Qui Luật I, chúng ta có thể tóm tắt nó một cách đơn giản nhưng sâu sắc bằng các lời sau đây:
1. Sự Giao tiếp với Chân Ngã (Egoic Communication).
2. Sự Thiền định có chu kỳ (cyclic Meditation).
3. Sự Phối kết hay Sự Nhất-quán (At-one-ment).
Các qui luật mở đầu trong Luận Về Lửa Càn Khôn với một bản tóm tắt ngắn về tiến trình và một trình bày về bản chất của nhà huyền linh thuật.
57 Trong phần xem xét đầu tiên này về đề tài của chúng ta, Tôi muốn liệt kê vắn tắt các sự kiện được đưa ra trong phần bình luận, để giải thích cho người tìm đạo biết bao nhiêu điều được đưa ra cho y xem xét và giúp đỡ, nếu y biết cách đọc và suy nghiệm (ponder upon) về những gì mà y đọc. Bình luận vắn tắt về Qui luật I đưa ra các trình bày sau:
1. Nhà huyền linh thuật là người đang tiếp xúc với linh hồn của mình.
2. Y dễ tiếp thu với và có ý thức về mục tiêu và kế hoạch của linh hồn mình.
3. Y có khả năng tiếp nhận các ấn tượng từ lĩnh vực tinh thần, và ghi nhận các ấn tượng đó trong bộ óc hồng trần của mình.
4. Cũng có thể nói rằng huyền linh thuật − - Tác động từ trên hướng xuống dưới.
- Là kết quả của rung động thái dương (solar vibration) và do đó của năng lượng Chân Ngã.
- Không phải là kết quả của rung động của khía cạnh sắc tướng của sự sống, được tách khỏi xung lực tình cảm và trí tuệ.
5. Dòng giáng lưu (the downflow) của năng lượng từ linh hồn là kết quả của :
- Sự bình tĩnh nội tại (internal re-collectedness) thường xuyên.
- Sự giao tiếp nhất tâm được tập trung bởi linh hồn với thể trí và bộ óc.
- Sự tham thiền đều dặn về cơ tiến hóa.
6. Do đó, linh hồntrạng thái thiền định sâu xa trong toàn bộ chu kỳ lâm phàm ở cõi trần, đó là tất cả những gì liên quan đến môn sinh ở đây.
7. Việc thiền định này có tính chất nhịp nhàng và theo chu kỳ trong thiên nhiên, giống như mọi hiện tượng khác trong vũ trụ. Linh hồn truyền sinh khí (breathes) và hình hài của nó sống nhờ đó.
8. Khi sự giao tiếp giữa linh hồn với khí cụ của nó trở nên hữu thức và đều đặn, con người trở thành nhà huyền linh thuật.
9. Do đó, một cách bất biến và thông qua chính bản chất các sự việc, các hành giả trong huyền linh thuật đều là những người tiến hóa, vì phải mất nhiều chu kỳ sống để đào tạo một nhà huyền thuật.
10. Linh hồn chế ngự hình tướng của nó qua trung gian của sutratma hay sinh mệnh tuyến (life thread), và (thông qua tuyến này) truyền sinh khí cho ba khí cụ của nó (thể trí, thể tình cảm và xác thân), và do đó thiết lập một sự liên lạc
58 với não bộ. Thông qua não bộ được kiểm soát một cách có ý thức, con người được kích hoạt vào hoạt động sáng suốt trên cõi trần.
Trên đây là một bản phân tích vắn tắt về qui luật thứ nhất dành cho huyền thuật, và Tôi muốn đề nghị rằng trong tương lai, khi các môn sinh thiền định về các qui luật thì họ sẽ tự làm một bản phân tích như thế. Nếu họ thực hiện điều này trong khi xem xét từng qui luật thì họ sẽ tiếp cận toàn bộ vấn đề với sự quan tâm sâu sắc hơn và sự hiểu biết tường tận hơn.
Chúng cũng sẽ đỡ cho họ rất nhiều việc xem lại và tra cứu.
Do việc xem xét bản phân tích trên, người ta sẽ thấy rằng một bản tóm lược rất rõ ràng được đưa ra, và môn sinh được khởi đầu sự nghiên cứu về huyền thuật của mình, với một sự hiểu biết vắn tắt về tình huống đã qua, dụng cụ và phương pháp tiếp cận của y. Chúng ta hãy nhận ra từ lúc đầu tính đơn giản của ý tưởng dự định mà các nhận xét của Tôi truyền đạt từ trước đến giờ. Giống như trong quá khứ, khí cụ và mối quan hệ của nó với thế giới bên ngoài đã là sự kiện tối quan trọng trong kinh nghiệm của Chân Nhân, thế nên giờ đây một sự tái điều chỉnh có thể xảy ra, trong đó sự kiện nổi bật sẽ là con người tinh thần (spiritual man), tức Thái Dương Thiên Thần (solar angel) hay linh hồn. Ta cũng sẽ nhận ra rằng mối quan hệ của linh hồn (qua khía cạnh sắc tướng) sẽ tồn tại đối với các cõi giới bên trong cũng như bên ngoài. Con người đã chỉ bao gồm vào trong mối quan hệ của y khía cạnh hình tướng của lĩnh vực tiến hóa của người bậc trung.
Y đã lợi dụng khía cạnh hình tướng và đã bị nó chế ngự. Y cũng đã đau khổ vì nó, và do đó cuối cùng đã ghê tởm, qua sự chán ngấy hoàn toàn, tất cả những gì gắn liền với thế giới vật chất. Sự bất mãn, ghê tởm, chán ghét, và một sự mệt mỏi sâu xa là đặc điểm rất thường gặp của những người sắp trở thành đệ tử. Vì một đệ tử là gì? Đệ tử là kẻ muốn học hỏi một nhịp điệu mới, muốn tiến vào một lĩnh vực kinh nghiệm mới, và muốn theo bước chân của nhân loại tiến bộ, những người đã đi trước y trên con đường đạo, dẫn từ bóng tối đến ánh sáng, từ cái giả đến cái chân. Y đã nếm trải các thú vui của sự
59 sống trong thế giới hão huyền và đã được biết sự bất lực (powerlessness) của chúng để làm thỏa mãn và lôi cuốn y. Giờ đây, y đang ở trong một tình trạng chuyển tiếp giữa tình trạng hiện tồn mới và cũ. Y đang rung động giữa trạng thái hiểu biết của linh hồntrạng thái hiểu biết của sắc tướng (soul awareness and form awareness). Y đang “thấy hai bên” (“seeing double”).
Tri giác tinh thần của y phát triển dần dần và chắc chắn vì bộ óc bắt đầu có thể được soi sáng từ linh hồn xuyên qua thể trí. Khi trực giác phát triển, thì phạm vi hiểu biết tăng lên và các lĩnh vực tri thức mới mẻ khai mở.
Lĩnh vực tri thức thứ nhất đang nhận được sự giác ngộ, có thể được mô tả như là bao gồm toàn thể các hình hài được tìm thấy trong ba cõi nỗ lực của nhân loại, cõi dĩ thái, cõi cảm dụccõi trí. Qua tiến trình này, vị đệ tử tương lai (the would-be disciple) trở nên ý thức về bản chất thấp của mình, và bắt đầu nhận ra được mức độ bị giam hãm của y và (như Patanjali diễn tả) “các biến thái của bản chất thông linh hay thay đổi”. Các chướng ngại đối với sự thành tựu, và các trở lực đối với sự tiến bộ được tiết lộ cho y, và vấn đề của y trở nên rõ ràng. Thường thường lúc bấy giờ y đạt đến một tình thế mà trong đó Arjuna (một nhân vật trong Kinh Bhagavad Gita – ND) nhận thấy chính mình, đang đương đầu với những kẻ thù, vốn là những người trong gia đình (household) của y, bối rối trước bổn phận của mình, và nản lòng khi y tìm cách tự quân bình giữa các cặp đối ứng. Lời khấn nguyện của y khi đó là lời khấn nguyện nổi tiếng nhất của Ấn Độ được thốt ra từ tim, được lĩnh hội bằng đầu, và được bổ sung bằng một cuộc sống nhiệt tâm trong việc phụng sự nhân loại.
“Hãy tiết lộ cho chúng con diện mạo của mặt trời tinh thần chân chính,
Được che kín bởi một đĩa ánh sáng vàng,
Để cho chúng con có thể hiểu biết chân lý và làm tròn nhiệm vụ của chúng con,
Khi chúng con lên đường đến với bàn chân linh thánh của Ngài”.
Khi con người kiên trì và đấu tranh, vượt qua các khó khăn của mình và kiểm soát các ham muốn và các tư tưởng của mình, lĩnh vực thứ hai của tri thức được tiết lộ − tri thức về bản ngã (self) trong thể tâm linh (spiritual body), tri thức về Chân Ngã (ego) khi nó tự biểu hiện qua trung gian của thể
60 nguyên nhân (causal body), tức Karana Sarira, và ý thức về cội nguồn đó của năng lượng tinh thần, vốn là động lực thúc đẩy đằng sau biểu lộ thấp. “Đĩa ánh sáng vàng” bị xuyên thủng; mặt trời đích thực được nhìn thấy; con đường được tìm ra và người tìm đạo cố gắng tiến vào ánh sáng càng ngày càng tỏ rạng.
Khi tri thức về cái ngã và khi ý thức về những điều mà cái ngã đó thấy, nghe và tiếp xúc được ổn định, thì Chân Sư được nhận biết; nhóm đệ tử của Ngài được tiếp xúc; kế hoạch đối với việc chia sẻ công việc trước mắt mà y phải gánh vác được hiểu rõ và được thể hiện dần dần trên cõi trần. Như vậy hoạt động của bản chất thấp giảm xuống, và dần dần con người tiến vào sự tiếp xúc hữu thức với Chân Sư và nhóm của y. Nhưng việc này đi theo với việc “thắp sáng ngọn đèn” – sự chỉnh hợp thể thấp với thể cao, và dòng chảy của sự giác ngộ xuống đến não bộ.
Điều cốt yếu là các điểm này nên được những người tìm đạo hiểu rõ, và nghiên cứu sao cho họ có thể tiến hành các bước cần thiết và phát triển ý thức mong muốn. Chỉ cho đến khi điều này được thực hiện, nếu không thì bất kể Chân Sư có thể có thiện ý như thế nào, Ngài vẫn bất lực và không thể thực hiện các bước để thu nhận một người vào nhóm của Ngài, và do đó đem y vào phạm vi hào quang của Ngài, làm cho y trở thành một tiền đồn của tâm thức Ngài. Mọi bước của con đường phải được tiến hành bởi chính con người, và không có con đường tắt hoặc con đường dễ dàng nào để ra khỏi bóng tối, đi vào ánh sáng cả.
CON ĐƯỜNG CỦA NGƯỜI ĐỆ TỬ
Nhà huyền linh học luôn luôn là người, nhờ sự chỉnh hợp hữu thức với Chân Ngã của mình, tức là với “thiên thần” (“angel”) của mình, nên dễ lĩnh hội các kế hoạch và các mục tiêu của mình, và do đó có khả năng tiếp nhận ấn tượng cao siêu. Chúng ta phải nhớ rằng trong khi huyền thuật (magic) tác động từ trên xuống dưới và là kết quả của sự rung động thái dương, mà không phải là các xung lực phát ra từ một trong các nguyệt tinh quân (lunar pitris), luồng giáng lưu của năng lượng-gây-ấn-tượng từ Chân Ngã (solar pitri) là kết quả của sự an tĩnh nội tại của người, của việc thu các lực của người vào trong, trước khi làm cho chúng tập trung vào cái bóng (shadow) của người, tức con người, và của sự tham thiền kiên định của người vào thiên ý và thiên cơ. Có thể là hữu ích cho đạo sinh, nếu ở đây y nhớ lại rằng Chân Ngã (ego) (cũng như Thượng Đế − Logos) ở trong cơn thiền định thâm sâu trong toàn bộ chu kỳ lâm phàm ở cõi trần. Sự thiền định này có tính chu kỳ, Chân Ngã (the pitri) có liên quan gởi ra cho “hình ảnh” (“reflection”) của người các dòng năng lượng nhịp nhàng, các dòng này được con người có liên quan nhận biết như là “các xung lực cao siêu” của y, tức là các ước mơ (dreams) và các hoài bão (aspiration) của y. Do đó, điều sẽ hiển nhiên là tại sao những người phụng sự (workers) trong huyền linh thuật bao giờ cũng là những người tâm linhtiến hóa, vì “hình ảnh” ít khi đáp ứng với Chân Ngã hay solar angel, cho tới khi nhiều chu kỳ lâm phàm đã xảy ra. Chân Ngã (solar pitri) giao tiếp với “cái bóng” (“shadow”) hay hình ảnh (reflection) của mình nhờ kim quang tuyến (sutratma), tuyến này chạy xuống qua các thể, đến một điểm ở lối vào trong bộ óc xác thân, Tôi tạm diễn tả như thế, nhưng cho đến nay, con người không thể tập trung hoặc nhìn thấy rõ ràng theo bất cứ hướng nào.
Khi nhìn về phía sau, y có thể chỉ thấy sương mù và chướng khí của các cõi hão huyền, và không còn thấy thích thú nữa. Nếu nhìn về phía trước, y thấy một ánh sáng xa xa đang thu hút y, nhưng cho đến giờ, y không thể thấy được những gì mà ánh sáng đó tiết lộ. Nếu nhìn sang chung quanh, y chỉ thấy các hình tướng đang di chuyển và cái máy chiếu phim (cinematograph) về khía cạnh hình tướng của sự sống. Nếu nhìn vào bên trong, y thấy các hình bóng mà ánh sáng đó hắt ra, và bắt đầu biết có nhiều đồ đạc (impedimenta) phải được loại bỏ, trước khi ánh sáng mà y thấy ở xa xa có thể đến gần, và rồi nhập vào trong y. Bấy giờ y có thể tự biết mình chính là ánh sáng đó, và bước đi trong ánh sáng đó, và đồng thời truyền ánh sáng đó cho những kẻ khác.
Có lẽ là tốt khi nhớ rằng giai đoạn đệ tử, về nhiều mặt, là phần khó khăn nhất của toàn bộ thang tiến hóa. Chân Ngã (solar angel) không ngừng ở trong trạng thái thiền định sâu xa. Các xung lực của năng lượng, phát ra từ y, đang gia tăng tốc độ rung động và đang trở nên ngày càng mạnh hơn.
62 Năng lượng đang tác động ngày càng nhiều lên các hình tướnglinh hồn đang tìm cách biểu lộ qua đó và đang cố gắng kiềm chế.
Điều này đưa Tôi đến việc xem xét điểm thứ bảy mà Tôi đã đề cập trong phần phân tích trước đây của Tôi về Qui Luật I. Tôi đã nói : “Sự thiền định của linh hồn có bản chất nhịp nhàng và theo chu kỳ, giống như mọi hiện tượng khác trong vũ trụ. Linh hồn truyền sinh khí (breathes), còn hình tướng (form) của nó thì sống nhờ vào đó”. Bản chất nhịp nhàng của sự thiền định của linh hồn phải không bị bỏ qua trong đời sống của người tìm đạo. Có sự dao động lên xuống (ebb and flow) trong khắp thiên nhiên, và trong các đợt thủy triều của đại dương, chúng ta có một sự hình dung tuyệt diệu về một định luật vĩnh cửu. Khi người tìm đạo tự mình hiệu chỉnh với các triều lưu của sự sống linh hồn, y bắt đầu nhận ra rằng luôn luôn có một luồng tuôn chảy vào, một luồng truyền sinh lực và một luồng kích thích, vốn được theo sau bằng một luồng tuôn chảy ra cũng chắc chắn và không thể tránh khỏi như các định luật bất biến của lực. Sự dao động lên xuống này có thể được nhìn thấy đang tác động trong các diễn biến của sự chết và sự lâm phàm. Nó cũng có thể được nhìn thấy khắp toàn bộ diễn trình các kiếp sống của một người, vì một số kiếp sống có thể được thấy là có vẻ tĩnh tại và yên ổn (uneventful), chậm chạp và trì trệ (inert) theo góc độ về kinh nghiệm của linh hồn, trong khi những kiếp sống khác thì sôi nổi (vibrant), tràn đầy kinh nghiệm và sự tăng trưởng. Tất cả các bạn, tức là những người phụng sự, nên ghi nhớ điều này khi các bạn đang tìm cách giúp những người khác sống một cách chính đáng. Có phải họ đang ở vào lúc triều xuống (ebb), hay có phải họ đang bị lệ thuộc vào dòng năng lượng linh hồn (soul energy)? Có phải họ đang trải qua một giai đoạn bất động tạm thời, chuẩn bị cho sự thôi thúc và nỗ lực to tát hơn, sao cho công việc cần làm phải là công việc củng cố, và làm ổn định ngõ hầu giúp cho họ “đứng vững trong bản thể tinh thần” (“stand in spiritual being”), hoặc là có phải họ đang chịu lệ thuộc vào một dòng chảy vào theo chu kỳ (a cyclic inflow) của các thần lực? Trong trường hợp này, hành giả phải tìm cách trợ giúp đúng hướng và sử dụng năng lượng mà (nếu bị điều khiển sai) sẽ đưa đến kết quả là các kiếp sống bị làm hỏng, nhưng khi được sử dụng một cách khôn khéo sẽ tạo ra một cơ hội phụng sự đầy đủ và có kết quả.
Các tư tưởng trên cũng có thể được áp dụng bởi nhà nghiên cứu về nhân loại đối với các chu kỳ lớn của giống dân, và nhiều điều lý thú sẽ được khám phá. Hơn nữa, và có tầm
63 quan trọng sống còn hơn đối với chúng ta, là các thôi thúc theo chu kỳ này trong kiếp sống của người đệ tử có một tần suất, một tốc độ, một sức mạnh lớn lao hơn là trong kiếp sống của một người bình thường. Chúng xảy ra xen kẽ với một mức nhanh chóng làm cho kiệt sức. Kinh nghiệm lên đồi và xuống thung lũng của nhà thần bí chỉ là một cách diễn tả hiện tượng lên xuống này. Đôi khi đệ tử bước đi trong ánh sáng, còn những lúc khác trong bóng tối; thỉnh thoảng y biết được niềm vui của sự hòa hợp hoàn toàn, và khi khác thì tất cả dường như buồn tẻ và vô bổ; công cuộc phụng sự của y đôi khi là một kinh nghiệm có kết quả và vừa ý, và y dường như có thể thực sự giúp ích; vào các lúc khác, y cảm thấy rằng mình đã không cống hiến được gì, và việc phụng sự của y trở nên vô vị và dường như không mang lại kết quả. Có những ngày mọi việc đều rõ ràng đối với y, và y dường như đứng trên đỉnh núi nhìn ra một phong cảnh tràn ngập ánh nắng, nơi mà vạn vật đều trong trẻo trước cái nhìn của y. Y biết và cảm nhận chính mình là một con của Thượng Đế. Tuy nhiên, sau đó, các đám mây mù dường như giáng xuống, và y không còn chắc chắn về điều gì cả, và dường như không biết gì cả. Y bước đi trong ánh nắng, và hầu như bị áp đảo bởi sự chói lọi và sức nóng của các tia sáng mặt trời, và tự hỏi không rõ cái kinh nghiệm thất thường này và sự luân phiên dữ dội của các đối nghịch này sẽ tiếp diễn trong bao lâu.
Tuy thế, một khi mà y hiểu được sự thật là y đang chứng kiến hiệu quả của các thôi thúc theo chu kỳ, và hiệu quả của việc thiền định của linh hồn trên bản chất hình tướng của y, ý nghĩa liền trở nên sáng tỏ hơn, và y nhận ra rằng chính khía cạnh hình hài đó đang thất bại trong sự đáp ứng của nó, và đang phản ứng lại với năng lượng một cách thất thường. Lúc bấy giờ y học được rằng một khi y có thể sống trong ý thức linh hồn (soul consciousness) và đạt đến “cao độ” đó (Tôi tạm diễn tả như thế) một cách tùy ý, thì các dao động (fluctuations) của sự sống sắc tướng sẽ không chạm đến y. Lúc bấy giờ y mới cảm nhận được nẻo đạo hẹp như lưỡi dao cạo đang dẫn từ cõi của sự sống hồng trần, đến lĩnh vực của linh hồn, và thấy rằng khi y có thể bước lên nẻo đạo một cách vững chãi, nó sẽ dẫn dắt y ra khỏi thế giới hằng thay đổi của các giác quan, đi vào ánh sáng trong trẻo ban ngày và đi vào thế giới của thực tại.
Đối với y, khía cạnh hình hài của sự sống khi đó trở nên
64 đơn giản là một môi trường dành cho phụng sự mà không còn là một lĩnh vực của nhận thức giác quan nữa. Môn sinh hãy suy ngẫm về câu cuối này. Y hãy cố gắng sống như một linh hồn. Khi đó các thôi thúc theo chu kỳ, xuất phát từ linh hồn, được biết như là các thôi thúc mà chính y có trách nhiệm đối với chúng, và là những gì mà y đã phát ra; lúc đó y tự biết mình là nguyên nhân khơi mào chứ không phải y lệ thuộc vào các kết quả.
Nhìn từ một góc cạnh khác, chúng ta có hai yếu tố, đó là sự sống (breath, hơi thở) ( ) và sắc tướng (form) mà sự sống truyền năng lượng (energises) và thôi thúc vào hoạt động. Dựa trên nghiên cứu cẩn thận đó, điều trở nên hiển nhiên là, trong biết bao thiên kỷ, chúng ta đã tự đồng hóa mình với hình tướng; chúng ta đã chú trọng đến các kết quả của hoạt động được phổ biến mà không hiểu bản chất của sự sống (breath), cũng không biết đến bản chất của Đấng ban sự sống (the One who breathes). Giờ đây, trong công việc của chúng ta, chúng ta đang quan tâm đến Đấng Duy Nhất đó, Đấng mà khi thở một cách nhịp nhàng, Ngài sẽ điều khiển hình tướng vào sự hoạt động thích hợp và sự kiểm soát đúng mức. Đây là đối tượng và mục tiêu của chúng ta. Tuy nhiên một sự hiểu biết đúng đắn là cần thiết nếu như chúng ta đánh giá một cách sáng suốt nhiệm vụ của chúng ta, và các kết quả của nó.
Còn nhiều điều nữa có thể được nói về qui luật này, nhưng những gì đã được đưa ra ở đây đủ cho ứng viên bậc trung của con đường đệ tử xem xét, và dựa vào đó mà hành động. Đa số chúng ta đều ở bậc trung, phải không nào? Nếu chúng ta tự đánh giá mình một cách cách khác đi, thì chúng ta tự tách mình ra khỏi những người khác và trở nên phạm vào tội chia rẻ − tức tội lỗi đích thực duy nhất.
Một sự hiểu rõ giá trị các tư tưởng trên sẽ tạo nên trong người tìm đạo một nhận thức về giá trị của công việc thiền định của y, trong khi ý tưởng về một sự đáp ứng theo chu kỳ đối với sự thôi thúc của linh hồn nằm phía sau các hoạt động của việc thiền định buổi sáng, một sự hồi niệm (recollection) giữa trưa, và một sự thẩm xét (review) buổi tối. Một dao động lên xuống lớn hơn cũng được chỉ ra trong hai trạng thái vào kỳ trăng tròn và kỳ trăng non. Hãy ghi nhớ kỹ điều này.
Có thể có một sự tác động đầy đủ và đều đặn của mãnh lựcchu kỳ từ giới tinh thần lên mỗi chúng ta, kêu gọi chúng ta tiến vào lĩnh vực ánh sáng, bác ái, và phụng sự, và
65 tạo ra một sự đáp ứng theo chu kỳ từ mỗi người ! Có thể có một điểm gặp gỡ thường xuyên giữa những người truyền đạt giáo huấn và người đệ tử đang mưu tìm giáo huấn !
Nhiều công việc sơ khởi sẽ phải được thực hiện. Vị đệ tử trên cõi trần và vị huấn sư nội môn (dù đó là một trong các Đấng Cao Cả hoặc là “vị Thầy (Master) trong Tâm”) cần biết nhau ít nhiều, và làm quen với rung động của nhau. Các huấn sư trên các nội cảnh giới có nhiều điều để đối phó do sự chậm chạp của các tiến trình trí tuệ của các đạo sinh trong các thể hồng trần. Nhưng sự tin cậy và tín nhiệm sẽ tạo nên sự rung động đúng đắn, vốn sau cùng sẽ tạo ra hoạt động chính xác. Việc thiếu đức tin, thiếu bình tĩnh, thiếu chuyên cần và sự hiện diện của sự xao động tình cảm sẽ gây cản trở.
Về mặt nội môn, nhiều người cần sự kiên nhẫn lâu dài trong việc giải quyết mọi thứ vốn phải được tận dụng đến, vì thiếu vật liệu khác tốt hơn. Một sự không thích hợp nào đó về thể chất có thể làm cho xác thân thành khó tiếp thu; sự ưu tư hay lo lắng nào đó có thể làm cho thể cảm dục rung động theo một nhịp điệu không thể tiếp thu đúng đắn mục tiêu bên trong; một thành kiến, một chỉ trích, một sự tự phụ nào đó có thể hiện diện sẽ làm cho thể trí thành vô dụng. Trước công việc khó khăn này, những người tìm đạo phải vô cùng chú ý trông chừng chính mình, giữ sự thanh thản và an bình trong nội tâm, và giữ được một sự mềm dẽo về trí tuệ, sao cho nó sẽ có khuynh hướng làm cho người tìm đạo có được một sự hữu dụng nào đó trong việc giữ gìn và dẫn dắt nhân loại.
Do đó, các qui luật sau đây có thể được đưa ra:
1. Điều thiết yếu là nên có một sự cố gắng để đạt đến một sự thanh khiết tuyệt đối trong động lực thúc đẩy.
2. Khả năng nhập vào cái thinh lặng của các chốn cao siêu sẽ nối tiếp sau đó. Sự tĩnh lặng của thể trí dựa vào định luật về sự nhịp nhàng. Nếu bạn đang rung động theo nhiều hướng và các tư tưởng đang ghi nhận từ mọi phía, định luật này sẽ không thể chạm tới bạn. Sự quân bình và cân bằng phải được phục hồi trước khi trạng thái thăng bằng có thể được đạt tới. Định luật rung động và việc nghiên cứu chất
66 liệu nguyên tử được quyện vào nhau chặt chẽ. Khi nhiều điều hơn nữa được hiểu rõ về các nguyên tử này và sự tác động, sự phản ứng và sự tương tác của chúng, lúc đó con người sẽ kiểm soát các thể của mình một cách khoa học, đồng bộ với luật rung động và luật nhịp nhàng. Chúng như nhau nhưng không giống nhau. Chúng là các trạng thái (phases) của định luật về trọng lực. Bản thân địa cầu là một thực thể (entity) mà, do sức mạnh của ý chí, đang giữ chặt mọi vật vào chính nó. Đây là một vấn đề khó hiểu, mà cho đến nay, ít người được biết về điều đó. Luồng nội-linh-khí (inbreathing) và ngoạilinh-khí (out-breathing) của thực thể địa cầu ảnh hưởng đến sự rung động một cách mạnh mẽ, − đó là sự rung động của vật chất cõi trần. Cũng có một liên kết giữa địa cầu với nguyệt cầu. Các thành viên nào của nhân loại, vốn đặc biệt chịu ảnh hưởng của nguyệt cầu, thì đáp ứng với sức hút này nhiều hơn bất cứ người nào khác, và họ khó được dùng như là các tác nhân truyền chuyển. Sự tĩnh lặng (silence) nào đến từ sự an tĩnh nội tâm (inner calm) chính là cái tĩnh-lặng cần vun bồi. Người tìm đạo được thuyết phục để nhớ rằng sẽ đến lúc mà họ cũng sẽ tạo thành một phần của nhóm các huấn sư ở mặt trong của bức màn ngụy trang. Nếu lúc đó họ đã không học được sự tĩnh lặng bắt nguồn từ sức mạnh và từ tri thức, thì làm thế nào mà họ sẽ chịu đựng được sự thiếu liên lạc rõ rệt, mà lúc đó họ sẽ thấy xảy ra giữa họ với những người ở bên ngoài? Do đó hãy học cách để giữ sự an tịnh (quiet), nếu không sự hữu dụng sẽ bị ngăn trở bởi sự bực dọc ở cõi cảm dục khi ở phía bên kia của sự tử-vong.
3. Hãy luôn luôn nhớ rằng việc thiếu an tĩnh (calm) trong đời sống hằng ngày ngăn cản các huấn sư trên các phân cảnh của chân ngã đến với bạn. Do đó, hãy cố gắng duy trì sự an tĩnh (quiescent) khi sự sống trải ra, hãy hoạt động, hãy miệt mài làm việc, hãy nỗ lực, hãy nuôi hoài bão và hãy giữ an tĩnh nội tâm. Một cách kiên định rút vào hoạt động bên trong, và như thế trau dồi một sự đáp ứng với các cõi cao. Một sự kiên định hoàn toàn đối với sự tự chủ nội tâm, là điều mà các Chân Sư cần có nơi những ai mà các Ngài muốn sử dụng. Chính một sự tự chủ nội tâm mới giữ cho thị giác tuy thực hiện công việc bên ngoài của nó trên cõi trần, với một sự chú ý của bộ óc được tập trung mà không hề bị lệch hướng do bởi sự tiếp thu ở bên trong. Nó bao hàm một hoạt động hai mặt.
67 4. Hãy học cách kiểm soát tư tưởng. Cần bảo vệ những gì mà bạn tư duy. Đây là lúc mà nhân loại nói chung đang trở nên nhạy cảm, có viễn cảm và đáp ứng với sự tương tác tư tưởng. Sắp đến lúc mà tư tưởng sẽ trở nên tài sản chung, và những người khác sẽ cảm nhận được những gì mà bạn nghĩ. Do đó tư tưởng phải được cẩn thận bảo vệ. Những ai đang tiếp xúc với các chân lý cao siêu, và đang trở nên nhạy cảm với Toàn Linh Trí (Universal Mind, Thiên Trí, Thượng Đế Ngôi Ba) đều phải bảo vệ một số tri thức của họ khỏi sự xâm nhập (intrusion) của những thể trí khác. Những người tìm đạo phải học cách ngăn chận một vài tư tưởng, và ngăn ngừa một số kiến thức không lọt ra ngoài vào tâm thức chung khi giao tiếp với các huynh đệ của họ.
Đương nhiên, việc đánh giá ý nghĩa của các lời “đừng phân tán sức mạnh của mình” (“scatters not his force”) là vô cùng quan trọng. Có quá nhiều đường lối hoạt động mà một đệ tử được linh hứng của linh hồn có thể lao vào đó. Sự đảm bảo về các đường lối hoạt động khác nhau không dễ gì có được và mỗi người tìm đạo đều biết sự rắc rối đó. Chúng ta hãy đặt vấn đề dưới hình thức một câu hỏi, đưa nó xuống bình diện sự nỗ lực mỗi ngày, khi chúng ta chưa ở vào một vị thế để hiểu được bằng cách nào mà một linh hồn có thể “phân tán các thần lực của nó” trên các cõi cao.
Tiêu chuẩn gì để nhờ đó một người có thể biết đường lối nào trong nhiều đường lối hoạt động là đúng để theo? Nói cách khác, có phải có một điều gì đó đang lộ ra, nó sẽ giúp một người không lầm lẫn khi chọn hành động đúng và đi đúng đường hay chăng? Câu hỏi này không có liên quan với một sự chọn lựa hiện có giữa con đường của nỗ lực tâm linh và con đường của con người thế gian. Nó đề cập đến việc hành động đúng khi đối diện với một sự lựa chọn.
Không có vấn đề nào trừ việc một người bị đối mặt, trong sự phát triển của mình, với các dị biệt ngày càng tinh tế. Sự phân biệt thô thiển giữa điều phải và điều trái vốn chiếm chỗ trong linh hồn trẻ con, được kế tiếp bằng các phân biệt tinh tế về điều phải hoặc điều phải hơn, về điều cao siêu hoặc
68 điều cao siêu hơn, và các giá trị đạo đức hoặc tâm linh phải bị đối mặt với tri thức tâm linh tinh vi nhất. Trong sự căng thẳng và sự vất vả của đời sống, và trong áp lực thường xuyên đặt lên mỗi người trong nhóm được cấu thành của họ, sự phức tạp của vấn đề trở nên rất lớn.
Khi giải quyết các khó khăn như thế, thì một số khả năng phân biện khái quát có thể đi trước các khả năng phân biện tinh tế hơn, và khi các quyết định này đã được thực hiện, thì các quyết định tế nhị hơn bấy giờ mới có thể xảy ra. Việc lựa chọn giữa hành động ích kỷ và hành động không ích kỷ là lựa chọn hiển nhiên nhất để theo dựa vào sự lựa chọn giữa điều phải và điều trái, và được giải quyết dễ dàng bởi linh hồn chính trực nhất. Sự chọn lựa vốn bao hàm sự phân biệt giữa lợi ích cá nhân với trách nhiệm tập thể nhanh chóng loại bỏ các yếu tố khác, và thật là dễ dàng cho người nào gánh vác trách nhiệm đúng đắn của mình. Hãy chú ý cách dùng các từ ngữ “trách nhiệm đúng đắn” (“just responsibility”). Chúng ta đang xem xét con người lành mạnh, bình thường chứ không phải con người bệnh hoạn cuồng tín tận tâm quá đáng. Kế đến, có sự phân biệt giữa tính thiết thực, bao hàm các yếu tố về các mối quan hệ ở cõi trần trong kinh doanh, và trong tài chính, dẫn đến một sự xem xét về lợi ích cao nhất cho tất cả các bên có liên quan. Nhưng qua tiến trình loại bỏ tam phân này, khi đã đạt đến một tình thế nào đó, các trường hợp nảy sinh khi mà sự chọn lựa vẫn còn lại mà trong đó không có lương tri cũng không có lý luận, thì lý trí sâu sắc hình như giúp ích hơn. Sự ham muốn chỉ là để làm điều chính đáng; ý định là để hành động theo cách thức cao nhất có thể có được, và để chọn đường lối hành động nào sẽ tạo ra lợi ích tốt nhất của tập thể hoàn toàn tách khỏi các lý do cá nhân. Tuy thế ánh sáng trên thánh đạo mà người ta phải bước lên lại không được nhìn thấy; cánh cửa mà người ta nên tiến vào lại không được nhận ra, và con người vẫn ở trong trạng thái lưỡng lự thường xuyên. Phải làm gì lúc đó? Theo một trong hai cách:
Thứ nhất, người tìm đạo có thể theo khuynh hướng của mình và chọn đường lối hành động trong số phần còn lại của các đường lối khả hữu, mà dường như đối với y là đường lối khôn ngoan nhất và tốt đẹp nhất. Điều này bao hàm niềm tin
69 vào sự hành động của luật Karma và cũng là một minh chứng của sự kiên quyết vững vàng, vốn là cách tốt nhất mà trong đó phàm ngã của y có thể học tuân theo các quyết định của chính linh hồn mình. Điều đó cũng bao hàm năng lực thẳng tiến dựa trên cơ sở quyết định đã được thực hiện, và như thế tuân theo các kết quả mà không có các sự dự báo hoặc ân hận.
Thứ hai, người tìm đạo có thể chờ đợi, dựa trên một nhận thức bên trong về chiều hướng, nhờ biết rằng vào thời điểm thích hợp, y sẽ xác định được, qua việc đóng mọi cánh cửa, trừ một cửa là lối mà y sẽ đi. Vì chỉ có một cánh cửa mở ra mà một người như thế có thể đi qua. Đối với việc nhận biết điều đó thì cần có trực giác. Trong trường hợp thứ nhất con người có thể phạm các lỗi lầm, và nhờ đó mà học hỏi và được phong phú thêm; trong trường hợp thứ nhì, lỗi lầm không thể xảy ra và chỉ hành động đúng mới có thể được chọn.
Do đó, hiển nhiên là tất cả đều tự chuyển thành một sự am hiểu về vị trí của một người trên thang tiến hóa. Chỉ có người nào tiến hóa cao mới có thể biết được các thời điểm và thời cơ, và mới có thể nhận thức đầy đủ sự khác nhau tinh vi giữa một khuynh hướng tâm thông với trực giác.
Trong việc xem xét hai cách thức này về quyết định tối hậu, đừng một người nào sẽ dùng tri giác thông thường và chọn đường lối hành động dựa trên việc sử dụng trí cụ thể (hạ trí), mà hãy tập luyện phương pháp cao hơn là chờ đợi cho một cánh cửa mở ra.
Y kỳ vọng quá nhiều vào địa vị mà y đang có. Y phải học cách thông qua quyết định đúng và vận dụng trí tuệ đúng để giải quyết các vấn đề của y. Nhờ phương pháp này, y sẽ tăng trưởng, vì các cội rễ của hiểu biết do trực giác được đặt sâu trong linh hồn, do đó linh hồn phải được tiếp xúc trước khi trực giác có thể hoạt động. Ở đây, một hàm ý có thể được đưa ra: trực giác bao giờ cũng bận tâm với hoạt động tập thể, chớ không quan tâm tới các sự việc cá nhân nhỏ nhặt. Nếu bạn vẫn còn là một người tập trung vào phàm ngã, thừa nhận nó và với sự trang bị hiện có, chi phối các hành động của bạn. Nếu bạn tự biết phải hoạt động với cương vị linh hồn và mải mê trong sự quan tâm đến những người khác,
70 không bị cản trở bởi ham muốn ích kỷ, lúc đó bổn phận chính đáng của bạn sẽ được đáp ứng, các trách nhiệm của bạn được gánh vác, công việc tập thể của bạn được xúc tiến, và con đường sẽ mở ra trước mắt bạn, trong khi đó bạn thi hành sự việc kế tiếp và làm tròn nhiệm vụ kế tiếp. Do bổn phận được thi hành một cách hoàn hảo, sẽ xuất hiện các bổn phận lớn hơn mà chúng ta gọi là công việc thế gian; do gánh vác các trách nhiệm gia đình, sẽ làm cho đôi vai chúng ta thêm vững chắc, chúng sẽ giúp chúng ta đảm đương các trách nhiệm của tập thể lớn hơn. Lúc bấy giờ tiêu chuẩn là gì?
Hãy để Tôi lặp lại, đối với người tìm đạo cao cấp, việc lựa chọn hành động tùy thuộc vào việc vận dụng đúng đắn thể hạ trí, việc sử dụng một lương tri lành mạnh và việc quên đi tiện nghi ích kỷ và tham vọng cá nhân. Điều này dẫn đến việc làm tròn nhiệm vụ. Đối với đệ tử sẽ có việc tiến hành tự động và không thể thiếu tất cả mọi điều trên, cộng với việc sử dụng trực giác, nó sẽ tiết lộ thời điểm khi mà các trách nhiệm tập thể rộng lớn hơn có thể được gánh vác một cách hợp lý, và được tiến hành đồng thời với các trách nhiệm của tập thể nhỏ hơn. Hãy suy ngẫm về điều này. Trực giác không tiết lộ cách có thể nuôi dưỡng tham vọng, cũng không tiết lộ phương thức có thể làm hài lòng sự ham muốn cho tiến bộ ích kỷ.

71 Qui Luật Hai

Khi cái bóng đã đáp ứng, trong cơn thiền định thâm sâu, công việc vẫn tiếp tục. Ánh sáng dưới thấp được ném lên; ánh sáng vĩ đại soi sáng bộ ba, và công việc của bốn tiếp tục.

Các Chướng Ngại đối với việc Nghiên Cứu Huyền bí học.
Việc Vượt Qua các Chướng Ngại.

73 Qui Luật Hai
CÁC CHƯỚNG NGẠI ĐỐI VỚI VIỆC NGHIÊN CỨU HUYỀN BÍ HỌC
Qui luật này là một trong các qui luật khó nhất trong sách này, nhưng lại là một trong những qui luật có tính toàn diện nhất. Chúng ta sẽ được đòi hỏi vận dụng nó một cách đúng đắn vào một thời điểm nào đó. Chúng ta có trong đó một minh họa thú vị về sự tương ứng của tiểu thiên địa với đại thiên địa. Điều đó có thể được làm sáng tỏ theo hai cách liên quan đến ánh sáng mà nó đề cập đến.
Sự ám chỉ được thực hiện với “ánh sáng vĩ đại” đang chiếu sáng bộ ba (the three), và thứ hai, với việc ném lên thứ “ánh sáng thấp hơn”.
“Ánh sáng vĩ đại” là ánh sáng của linh hồn, chính là ánh sáng chiếu rọi sự biểu lộ của phàm ngã tam phân. Ở đây có sự tương ứng với đại thiên địa khi ánh sáng đó được biểu tượng hóa cho chúng ta trong Thượng Đế, tức ánh sáng biểu lộ của thái-dương-hệ. Thái-dương-hệ là ba trong một, hoặc một trong ba, và ánh sáng của Thượng Đế (Logos) soi sáng toàn bộ. “Ánh sáng thấp hơn” là ánh sáng được ẩn giấu bên trong con người trên cõi trần. Ở một giai đoạn nào đó của kinh nghiệm con người, ánh sáng này được đánh thức khắp cả xác thân và cuối cùng hòa nhập với “ánh sáng vĩ đại”. Ánh sáng và sự sống của chính Thượng Đế có thể tỏa ra từ Mặt Trời Tinh Thần trung ương, nhưng nó chỉ với tư cách là ánh sáng trong chính thái-dương-hệ, được thức tỉnh và được khơi dậy, mà cuối cùng sẽ xảy ra sự chiếu sáng rực vốn sẽ tiêu biểu cho sự vinh quang của Mặt Trời đang tỏa sáng trong sức mạnh của nó. Tương tự như vậy, ánh sáng của linh hồn có thể phát ra từ Monad (Chân Thần), nhưng nó chỉ với tư cách là ánh sáng trong hệ thống nhỏ bé (được điều khiển bởi linh hồn) được đánh thức và được khơi dậy, mà cuối cùng sẽ xảy ra sự tỏa sáng của một người con của Thượng Đế.
74 Tuy nhiên, trong các giáo huấn này, chúng ta đang đề cập chủ yếu đến tiểu thiên địaánh sáng bên trong nó, chúng ta sẽ không mở rộng đến các tương đồng trong đại thiên địa.
Trong khi xem xét qui luật thứ hai này, chúng ta phải lưu ý rằng một mối quan hệ hữu thức đã được thiết lập giữa linh hồn với cái bóng của nó, tức con người trên cõi trần. Cả hai đều đã đang thiền định. Các đạo sinh muốn làm tốt hãy chú ý điều này, và hãy nhớ rằng một trong những mục tiêu của việc thiền định hằng ngày là để làm cho bộ nãothể trí rung động hòa nhịp với linh hồn, khi linh hồn tìm cách “trong nơi sâu thẳm của thiền định” để giao tiếp với hình ảnh của nó.
Sự tương ứng đối với mối quan hệ này, hay sự đồng bộ rung động thật đáng chú ý:
Linh Hồn ............................ Con Người trên Cõi Trần.
Thể Trí ............................... Não bộ.
Tuyến Tùng Quả ............... Tuyến Yên.
Mối quan hệ cũng có giữa các bí huyệt, và sự đồng bộ hóa của chúng thật đáng quan tâm, và trong đó là hình mẫu tiêu biểu cho sự tiến hóa của nhân loại cũng như của đơn vị nhân loại, tức con người.
Bí Huyệt Đầu .................... Đáy Xương Sống
Bí Huyệt Tim .................... Bí Huyệt Đan Điền
Bí Huyệt Cổ Họng ............ Bí Huyệt Xương Cùng.
Trong đoạn trên có chứa một gợi ý cho môn sinh tiến hóa hơn (và y là người ngần ngại khi tự cho mình như thế). Điều đó cũng được tượng trưng cho chúng ta trong mối quan hệ giữa các bán cầu Đông và Tây, và giữa những đoàn thể lớn của chân lý mà chúng ta gọi là Tôn GiáoKhoa Học.
Cuộc đời thiền định tiếp tục và mối quan hệ giữa linh hồn với khí cụ tam phân của nó trở nên mật thiết hơn một cách vững chắc, và đưa đến sự rung động mạnh mẽ hơn. Việc này sẽ mất bao nhiêu kiếp sống thì còn phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau, vốn là quá nhiều để kể ra hết ở đây, nhưng môn sinh sẽ nhận thấy điều đó hữu ích để xem xét. Hãy để y liệt kê các yếu tố mà y cảm thấy cần phải tính đến khi y muốn quyết định quan điểm tiến hóa của mình.
75 Kết quả của sự đáp ứng này là một sự tái định hướng của phàm ngã (lower man) để tạo ra một sự tổng hợp của Ba và Một, sao cho công việc của Bốn có thể tiến hành. Ở đây bạn có hình ảnh được hoàn tất trong tiểu thiên địa (microcosm), của cái mà với nó Thái Dương Thượng Đế đã bắt đầu, tức là “Tứ Linh Diệu” (“Sacred Four”) của Vũ Trụ; đến lượt mình, con người trở thành một “Tứ Linh Diệu” tức tinh thần và bộ ba của biểu lộ (the three of manifestation), Bốn thuật ngữ nên được suy ngẫm ở đây:
1. Sự giao tiếp (communication).
2. Sự đáp ứng (response).
3. Sự tái định hướng (reorientation)
4. Sự hợp nhất (union)
Cổ Luận diễn tả nó trong các thuật ngữ sau đây:
“Khi sự đồng cảm được thiết lập, ngay lập tức linh từ (words) được sử dụng, và định luật về thần chú (mantric law) đảm nhiệm vị trí chính đáng của nó, miễn là Đấng Duy Nhất truyền đạt linh từ, và bộ ba vẫn còn trong im lặng.
“Khi sự đáp ứng được nhận biết như đang phát ra từ bộ ba (the three), Đấng Duy Nhất, trong im lặng, lắng nghe. Các vai trò được thay đổi. Một linh từ tam phân phát ra khỏi hình tướng tam phân. Một vòng đổi chiều được gây ra. Đôi mắt không còn nhìn vào thế giới hình tướng nữa, chúng chuyển vào trong, tập trung ánh sáng, và thấy một thế giới hiện tồn nội tâm được tiết lộ. Với việc này Manas tĩnh lặng lại, vì đôi mắt và trí là một.
“Trái tim không còn đập nhịp hòa hợp với ham muốn thấp, cũng không phí phạm tình thương của nó vào các sự vật đang tập hợp lại và che giấu Thực Tại (Real). Nó đập nhịp theo nhịp điệu mới; nó tuôn đổ tình thương của nó vào Thực Tại, và Maya tan rã đi. Kama (dục vọng) và trái tim được liên kết chặt chẽ; tình thương và sự ham muốn (desire) hợp thành một tổng thể − một cái được nhìn thấy vào ban đêm, còn cái kia được nhìn thấy trong ánh sáng ban ngày…
……………
“Khi lửa, bác ái và trí tuệ đồng quy phục, phát ra linh từ tam phân, sự đáp ứng xảy đến.
“Đấng Duy Nhất phát ra (enunciates) một linh từ, linh từ này nhấn chìm ba âm thanh. Thượng Đế cất tiếng. Một sự rung động và lay chuyển trong hình hài đáp lại. Cái Mới thay thế, một người được tái tạo; hình hài được kiến tạo lại; trú sở được chuẩn bị. Các
76 lửa hợp nhất, và ánh sáng vĩ đại tỏa chiếu; bộ ba hợp nhất với Đấng Duy Nhất, và qua ngọn lửa sáng rực đó, bốn ngọn lửa được nhìn thấy”.
Trong bản văn bằng hình ảnh này mà Tôi đã tìm cách chuyển sang tiếng Anh hiện đại, các nhà thông thái của thời cổ đã thể hiện một ý tưởng. Bản Cổ Luận mà từ đó những lời này được rút ra, không có niên đại xác định. Nếu Tôi cố gắng bảo cho bạn biết niên đại của nó mà Tôi không có cách nào chứng minh sự thật trong lời nói của Tôi, và do đó Tôi sẽ phải đối mặt với sự cả tin – một việc mà những người tìm đạo phải tránh trong sự tìm kiếm điều cơ bản và Chân Thật (Real) của họ. Tôi đã tìm kiếm trong đoạn trên một vài cụm từ để cung cấp ý chính của những gì được diễn tả trong Cổ Luận, qua phương tiện của một vài biểu tượng và một bản văn bí hiểm. Các Thánh Thư cổ này không được đọc theo cách mà các môn sinh hiện đại đọc sách. Chúng cần được thấy, tiếp xúc và hiểu rõ. Ý nghĩa được tiết lộ trong một chớp lóe. Hãy để Tôi minh họa: − Những từ “Đấng Duy Nhất phát ra linh từ, linh từ này nhấn chìm ba âm thanh” được vẽ bằng một đường chớp sáng kết thúc bằng một từ ngữ tượng trưng màu vàng kim, chồng lên ba biểu tượng màu đen, màu hồng và xanh lá cây. Như vậy những bí mật được bảo vệ cẩn thận.
Tôi cảm thấy có thể là hữu ích cho các môn sinh khi biết nhiều điều về quyển giáo khoa cổ này của các Adepts (Chân Sư).
Việc xem xét của chúng ta về qui luật này sẽ được chia thành hai phần:
Mối liên hệ giữa linh hồn với phàm ngã. Điều này sẽ được nghiên cứu một cách đặc biệt liên quan với việc tham thiền trong đời sống hằng ngày, hơn là theo khía cạnh lý thuyết và học thuật.
Ý nghĩa của các từ ngữ, “ánh sáng thấp được ném lên trên”. Những lời này đề cập đến các bí huyệtLửa Kundalini.
Ở đây, Tôi muốn vạch ra điều nên theo (advisability) của mỗi đạo sinh khi đạt đến một sự hiểu biết về thể dĩ thái của mình, và đây là vì một vài lý do.
Thứ nhất, thể dĩ tháitrạng thái kế tiếp của chất liệu thế gian (world substance), cần được nghiên cứu bởi các nhà khoa học và các nhà khảo cứu. Thời kỳ này sẽ được đẩy
77 nhanh nếu những người nam và nữ biết suy tư có thể trình bày những ý tưởng thông minh, liên quan đến vấn đề đáng quan tâm này. Chúng ta có thể trợ giúp trong sự tiết lộ chân lý bằng sự suy tư sáng suốt của chúng ta, và theo quan điểm của các tuyên bố hiện tại về chất dĩ thái (ether), các nhà khoa học cuối cùng sẽ đi đến một sự hiểu biết về các hình thức dĩ thái hay thể dĩ thái.
Thứ hai, thể dĩ thái gồm các dòng lực, và trong đó là các bí huyệt quan trọng được liên kết bằng các tuyến lực với nhau, và với hệ thần kinh của con người hồng trần. Qua các tuyến lực này, nó cũng được kết nối với thể dĩ thái của hệ thống chung quanh. Hãy lưu ý rằng trong thể này có tồn tại cơ sở cho một niềm tin vào sự bất tử, cho định luật về tình huynh đệ hay sự hợp nhất, và cho sự thực về chiêm tinh học.
Thứ ba, cần nhận thức rằng thể dĩ thái được truyền sinh khí (vitalized) và được kiểm soát bởi tư tưởng, và có thể (qua tư tưởng) được đưa vào hoạt động chức năng đầy đủ. Điều này được thực hiện bằng việc suy tư đúng đắn chứ không phải bằng các bài tập thở và kiềm giữ cái mũi (holding the nose). Khi điều này được hiểu rõ, con người sẽ tránh khỏi nhiều thực hành nguy hiểm, và sẽ bắt đầu điều khiển bình thường và an toàn khí cụ mạnh nhất đó, tức thể sinh lực. Mục tiêu này có thể nhanh chóng được hoàn thành là mong muốn tha thiết của Tôi.
Sự nghiên cứu huyền bí học có tầm quan trọng sâu xa, và các môn sinh của các khoa học này phải quy vào chúng tất cả những gì mà họ có về sự chuyên cần trí tuệ và sự tập trung chú ý. Nó cũng bao hàm việc kiên trì thực hiện các chân lý đã học được.
Việc nghiên cứu huyền bí học, như được hiểu ở phương Tây, được tìm hiểu về mặt trí tuệ, chứ không phải được đi theo về mặt thực tế. Về lý thuyết, một ánh sáng le lói nào đó có thể được đánh giá cao bởi người khao khát theo con đường huyền linh học, nhưng việc thực hiện có hệ thống các định luật có liên quan cho đến nay đã có sự tiến bộ nhỏ.
Có trở ngại nào nằm trong đó? Có thể là có giá trị nếu chúng ta nghiên cứu ba điều:
78 1. Các trở ngại ở Tây Phương đối với việc nghiên cứu chính xác huyền bí học.
2. Làm thế nào để có thể vượt qua những chướng ngại này.
3. Một số điều mà người tìm đạo có thể đảm nhận một cách an toàn trong việc tự trang bị cho mình để bước lên con đường huyền bí, vì đó là phạm vi hoạt động, và đối với đa số người, là phạm vi hoạt động duy nhất có thể thực hiện vào lúc này.
Một trong những trở ngại chính đối với việc thông hiểu đúng đắn các định luật của huyền linh học và việc áp dụng thực tế các định luật đó nằm ở sự kiện về tính chất tương đối mới của phương Tây, và những thay đổi nhanh chóng, vốn đã là đặc điểm nổi bật của nền văn minh Âu, Mỹ. Lịch sử của Châu Âu tồn tại chỉ mới có ba nghìn năm, và lịch sử của Châu Mỹ, như chúng ta biết, chỉ mới nhiều thế kỷ. Huyền bí học phát triển mạnh trong một bầu không khí được chuẩn bị tốt, trong một môi trường được từ hóa (magnetised) cao độ, và trong một điều kiện được ổn định, vốn là kết quả của công việc lâu đời trên cõi trí.
Đây là một lý do tại sao Ấn Độ cung cấp một trường học của nỗ lực (school of endeavour) thích hợp đến thế. Nơi đó tri thức về huyền bí học có từ hàng chục ngàn năm, và thời gian đã đặt dấu ấn của nó ngay cả trên cơ thể của con người, cung cấp cho họ các cơ thể không đưa ra sức đối kháng mà các cơ thể người phương Tây rất thường mắc phải. Môi trường chung quanh đã được thấm nhuần từ lâu những rung động mạnh mẽ của các Đấng Cao Cả (great Ones), đang cư trú trong ranh giới xứ đó, và trong sự di chuyển qua lại của các Ngài và nhờ sự gần gũi của các Ngài, các Ngài không ngừng từ hóa chất dĩ thái chung quanh. Điều này tự nó cung cấp một đường lối khác ít đối kháng nhất, vì sự từ-hóa dĩ thái này ảnh hưởng đến các thể dĩ thái của dân cư được tiếp xúc. Hai sự kiện này, tức thời gian và sự rung động cao, đưa đến sự ổn định của nhịp điệu, vốn làm dễ dàng cho công tác huyền bí, và mang lại một môi trường yên tĩnh cho hoạt động về thần chú và nghi lễ.
Các điều kiện này không có ở phương Tây, nơi đó có sự thay đổi không ngừng trong mọi ngành của cuộc sống, nơi
79 mà sự chuyển đổi thường xuyên và nhanh chóng của cảnh trí hoạt động gây ra các khu vực xáo trộn rộng lớn, làm cản trở cho bất kỳ công việc có tính chất huyền thuật nào. Tổng lực cần thiết để thực hiện một vài kết quả không bảo đảm cho việc sử dụng chúng, và thời gian đã được phép trôi qua trong một nỗ lực tạo ra một hiệu ứng cân bằng.
Đỉnh điểm của tình trạng rối loạn đã được vượt qua, và một trạng thái ổn định hơn của các vấn đề đang dần được mang lại, và điều này có thể cho phép công việc huyền bí xác định được nỗ lực với sự thành công. Chân Sư R. đang nghiên cứu vấn đề này, và vị Chân Sư của chủng tộc Anh cũng vậy – không phải là vị Chân Sư đang bận rộn với Phong Trào Lao Động hoặc việc cải thiện các điều kiện xã hội. Các Ngài được trợ giúp bởi một đệ tử có năng lực hiếm có ở Thụy Điển, và bởi một điểm đạo đồ ở phần phía nam của Nga (Russia), vị này hoạt động nhiều trên các cấp độ trí tuệ. Mục đích của họ là rút các nguồn lực được dự trữ bởi các Đấng Nirmanakayas, dòng giáng lưu của nó có thể quét sạch vật chất ở cấp thấp hơn, và nhờ thế cho phép sự tác động tự do của một rung động cao hơn.
Một trở ngại khác có thể được nhận thấy trong sự phát triển mạnh mẽ của trí cụ thể. Ở đây Tôi muốn tạo ấn tượng với bạn rằng sự phát triển này phải không hề bị coi như là một sự tổn hại. Tất cả đã theo đúng diễn trình tiến hóa, và sau này, khi phương Đôngphương Tây đã đạt đến một mức độ hiểu biết và tương tác hoàn hảo hơn, sự ảnh hưởng lẫn nhau của họ sẽ đem lại lợi ích cho nhau; Đông Phương sẽ được hưởng lợi từ sự kích thích trí tuệ có được nhờ những rung động trí tuệ mạnh mẽ của người anh em phương Tây, trong khi Tây Phương sẽ thu được nhiều điều từ cách lập luận trừu-tượng của phương Đông, và, thông qua nỗ lực để nắm bắt những gì mà giống dân phụ thứ nhất (subrace) của căn chủng Aryan đã hiểu rõ một cách dễ dàng, người Tây Phương sẽ giao tiếp được với thượng trí của mình, và nhờ đó tạo được cầu nối giữa thượng tríhạ trí dễ dàng hơn nhiều. Hai loại người đều cần lẫn nhau, và ảnh hưởng của họ lên nhau hướng đến sự tổng hợp cuối cùng.
80 Hạ trí, tự bản thân nó, cống hiến cơ hội cho một luận đề rất dài, nhưng ở đây sẽ là đủ để đưa ra một vài cách thức mà nó gây cản trở cho những giống dân vốn tiêu biểu cho nó nhiều nhất.
a/ Bằng hoạt động mãnh liệt và hành động bị kích thích, nó ngăn cản dòng chảy xuống (downflow) của cảm hứng từ trên cao. Nó hoạt động như một bức màn tối ngăn chận sự giác ngộ cao siêu. Chỉ nhờ sự vững vàng và sự yên tĩnh ổn định mà sự tỏ ngộ mới có thể thẩm thấu, xuyên qua các thể cao, đến được bộ não vật chất và nhờ thế sẵn sàng cho việc phụng sự thực tế.
b/ Sự minh triết của Tam Thượng Thể (Triad) tồn tại cho việc sử dụng của phàm nhân, nhưng bị chận lại bởi những sự tìm tòi (disquisitions) của hạ trí. Khi ngọn lửa của thể trí cháy quá mãnh liệt, nó tạo nên một luồng chống lại với dòng giáng lưu cao siêu, và ép buộc lửa dưới thấp vào lại nơi trú ẩn. Chỉ khi nào ba luồng hỏa gặp nhau, nhờ sự điều chỉnh của ngọn lửa trí tuệ ở giữa, ánh sáng đầy đủ mới có thể đạt được, và toàn bộ cơ thể mới tràn đầy ánh sáng, ngọn lửa từ bên trên – tức ánh sáng của Tam Thượng Thể − ngọn lửa của phàm ngã – tức kundalini – và ngọn lửa của trí tuệ, − tức manas vũ trụ − phải gặp nhau trên bàn thờ. Trong sự hiệp nhất của chúng xảy ra việc thiêu rụi tất cả những gì cản trở và sự giải thoát được hoàn thành.
c/ Bằng sự phân biện – một năng lực của thể trí cụ thể (hạ trí) – các thể thấp được huấn luyện thuật phân biệt ảo giác với trung tâm của thực tại; cái chân với cái giả; ngã với phi ngã. Vì vậy, tiếp theo đó là một giai đoạn phải được vượt qua, trong đó sự chú ý của Chân Ngã (Ego) nhất thiết được tập trung vào phàm ngã và các hiện thể của nó, và trong đó, sự rung động của Tam Thượng Thể, các định luật liên quan đến sự tiến hóa đại-thiên-địa, và việc chinh phục lửa cho việc
81 sử dụng của Thánh Linh (Divine), phải tạm thời hoãn lại. Khi con người nhanh chóng nhìn thấy sự thật trong tất cả những gì mà y tiếp xúc, và tự động chọn sự thực hoặc điều chân, lúc đó y học kế tiếp bài học về hành động đầy niềm vui, và con đường của toàn phúc sẽ mở ra trước mắt y. Khi điều này xảy ra như vậy, con đường huyền bí học trở thành thích hợp cho y, vì hạ trí đã được dùng vào mục đích của nó, và đã trở thành khí cụ của y chớ không còn là chủ của y nữa, kẻ thể hiện của y chứ không phải là kẻ ngăn trở (hinderer) y nữa.
d/ Trí cụ thể còn cản trở theo một cách khác và bất thường hơn, và là cách mà môn sinh cũng không hiểu được khi lần đầu cố gắng để đặt chân trên con đường gai góc của sự phát triển huyền bí. Khi hạ trí bất trị và chi phối hoàn toàn phàm ngã, người tìm đạo không thể hợp tác với các sự sống (lives) khác và các đường lối tiến hóa khác nhau, cho đến khi lòng bác ái thay thế cho trí cụ thể (mặc dù y có thể, về mặt lý thuyết, hiểu được các định luật chi phối sự tiến hóa của Thiên Cơ, và sự phát triển của các thực thể thái dương khác ngoài Thánh Đoàn (Hierarchy) của chính y). Thể trí chia rẻ, còn lòng bác ái thì thu hút. Thể trí tạo ra một rào cản giữa một người và mỗi deva van cầu (suppliant). Lòng bác ái phá tan mọi rào cản, và dung hợp các nhóm khác nhau trong sự hợp nhất. Thể trí đẩy ra bằng một rung động mạnh mẽ dữ dội, vứt bỏ tất cả những gì được tiếp xúc, giống như một bánh xe thải ra tất cả những gì cản trở chu vi xoay tít của nó. Lòng bác ái tập hợp tất cả vào chính nó, và tiếp tục mọi thứ với chính nó, gắn kết các đơn vị riêng biệt thành một tổng thể đồng đều hợp nhất. Thể trí gây khó chịu qua nhiệt dồi dào riêng của nó, làm khô héo và đốt cháy cái gì đến gần nó. Lòng bác ái xoa dịu và chữa lành bằng sự giống nhau của nhiệt của nó với nhiệt trong những gì mà nó tiếp xúc, và phối hợp sự ấm áp và ngọn lửa của nó với sự ấm áp và ngọn lửa của các sự sống đang tiến hóa khác. Sau cùng, thể trí đập vỡ và phá hủy trong khi lòng bác ái tạo ra sự kết hợp và hàn gắn.
82 Mọi thay đổi, trong cuộc sống con người, đều lệ thuộc vào các định luật bất di bất dịch, nếu một phát biểu nghịch lý như vậy có thể được thừa nhận. Trong nỗ lực để tìm ra những định luật này, để thích ứng với chúng, nhà huyền linh học bắt đầu cân bằng (offset) nghiệp quả, và như thế không làm đổi màu (colours) cảm dục quang. Phương pháp duy nhất nhờ đó các định luật này cho đến nay có thể được thấu hiểu bởi nhiều người quan tâm tới, là qua một nghiên cứu chặt chẽ về những thăng trầm của đời sống hằng ngày, khi trải qua một thời gian dài nhiều năm. Thí dụ, qua các đặc điểm nổi bật của một chu kỳ mười năm, khi chúng tương phản với giai đoạn tương tự đi trước hoặc kế tiếp, mà một môn sinh có thể ước chừng khuynh hướng của các sự việc và tự dẫn dắt mình theo đó. Khi trình độ tiến hóa được đạt đến chỗ mà môn sinh có thể đối chiếu (contrast) các cuộc sống trước, và có được hiểu biết về sắc thái cơ bản của chu kỳ sống trước kia của mình, bấy giờ sự tiến bộ nhanh chóng trong việc điều chỉnh cuộc sống theo định luật được thực hiện. Khi các kiếp sống tiếp nối cũng có thể được môn sinh thấu hiểu, thấy và biết rõ sắc thái của chúng, bấy giờ Karma (như được biết đến trong ba cõi thấp) chấm dứt, và vị adept am hiểu tất cả các nhân và quả khi chúng chi phối và điều chỉnh vận thể thấp của Ngài.
Ngài khao khát con đường huyền bí và xem xét các thay đổi và các sự kiện dưới ánh sáng của mọi sự kiện có trước, và ký ức của ngài càng bền bĩ và càng chính xác thì ngài càng có thể chế ngự tất cả các tình huống có thể xảy ra. Do đó có hai trở ngại sẽ được tìm thấy, đó là :
a/ Tính chất tương đối mới mẻ và sự thay đổi vốn là đặc điểm của Tây Phương.
b/ Sự phát triển của trí cụ thể (hạ trí, concrete mind).
Chướng ngại thứ ba của chúng ta bắt nguồn từ chướng ngại trước. Nó gồm có việc người Tây Phương xem trọng khía cạnh vật chất của mọi việc. Điều này đã dẫn đến một tình trạng tam phân của các sự việc. Thứ nhất, thế giới tinh thần, hay thế giới trừu tượng vô hình tướng của ý thức chủ quan không được công nhận theo một ý nghĩa khoa học. Nó 83 được công nhận một cách bẩm sinh bởi những người có tính khí thần bí, và bởi những người có khả năng nghiên cứu lịch sử chủ quan của con người và các chủng tộc, nhưng khoa học không công nhận khía cạnh này của sự biểu lộ, nói chung; các khoa học gia cũng không tin vào một thế giới của sự nỗ lực siêu vật chất. Tất cả những gì mà trong các giống dân trước đó vốn giữ vị trí tối quan trọng trong đời sống và tư tưởng của các dân tộc thì bây giờ đang được tiếp cận một cách hoài nghi, và các cuộc thảo luận được đặt trước bằng một dấu hỏi. Nhưng sự tiến bộ đã được thực hiện và có nhiều điều đã nảy sinh từ cuộc chiến. Chẳng hạn như câu hỏi đang thay đổi nhanh chóng từ thể thức “Có một đời sống sau cái chết hay không?” thành câu hỏi “Sự sống tương lai có bản chất gì?” và đây là một điềm báo có nhiều khích lệ.
Thứ hai, quần chúng đang đau khổ vì bị áp bức và vì những hậu quả của sự ức chế. Khoa học đã tuyên bố không có Thượng Đế và không có tinh thần trong con người. Tôn giáo đã tuyên bố chắc chắn có một Thượng Đế, nhưng có thể tìm thấy Ngài nơi đâu? Quần chúng thì nói chúng tôi không muốn có một Thượng Đế được tạo bằng những bộ óc của các nhà thần học. Do đó sự hiểu biết nội tâm chân chính không tìm thấy chỗ để mở rộng, và sự hoạt động vốn nên tìm thấy sự biểu lộ chính đáng của nó trong nguyện vọng cao hơn, thì sẽ tự chuyển sang thành sự sùng bái các sự vật, − những việc thuộc về xác thịt, được liên kết với những cảm xúc, hoặc có một sự liên quan đến trí tuệ. Chiến tranh, một lần nữa, đã hoàn thành nhiều điều bằng cách chuyển (relegating) các sự việc đến vị trí đúng của chúng, và, bằng việc loại bỏ tài sản, nhiều người đã học được giá trị của những điều thiết yếu, và sự cần thiết của việc loại bỏ đi những gì vô dụng.
Một tình trạng thứ ba của các sự việc phát sinh từ hai tình trạng trên. Một hiểu biết đúng đắn về tương lai không còn nữa. Khi sự sống của tinh thần bị phủ nhận, khi sự sống đang biểu lộ tự tập trung vào những sự vật cụ thể và hiển nhiên, thì mục tiêu thực sự của sự hiện tồn biến mất, sự thúc đẩy chân chính đối với cách sống đúng đắn bị mất đi, và những lời châm biếm của Paul, vị điểm đạo đồ là “Chúng ta hãy ăn và uống vì ngày mai chúng ta sẽ chết” mô tả thái độ của đa số con người.
84 Con người làm mờ đi tiếng nói bên trong vốn làm chứng cho kiếp sống sau này, và họ nhấn chìm các linh từ đang vang vọng trong sự im lặng bằng sự ồn ào và sự quay cuồng của công việc, sự khoái lạc và phấn khích.
Toàn bộ bí mật của sự thành công khi bước lên con đường huyền linh tùy thuộc vào thái độ của tâm trí; khi đó là thái độ có tính vật chất cụ thể, tập trung vào hình tướng, và một ham muốn đối với những sự việc ở hiện tại, thì có ít tiến bộ có thể được thực hiện trong việc am hiểu chân lý huyền môn cao siêu.
Một trở ngại thứ tư được nhận thấy trong thể xác, vốn đã được dựng nên bằng sự trợ giúp của thịt, thức ăn và thức uống lên men, và được nuôi dưỡng trong một môi trường mà trong đó không khí trong lành và ánh sáng mặt trời không phải là các yếu tố có ý nghĩa nhất. Ở đây Tôi đang nhận xét khái quát, và đang nói cho đại khối quần chúng chứ không phải cho môn sinh huyền bí nhiệt thành tương lai. Trong nhiều thế kỷ dài, thực phẩm đã và đang phân hủy, và do đó đã ở trong một tình trạng lên men, đã là thực phẩm cơ bản của các dân tộc phương Tây, và kết quả có thể được thấy trong các cơ thể không thích hợp cho bất kỳ căng thẳng nào mà huyền linh học đặt ra, và nó tạo thành một rào cản đối với sự tỏa chiếu trong trẻo của cuộc sống nội tâm. Khi trái cây và rau củ tươi, nước tinh khiết, các quả hạt (nuts) và ngũ cốc, nấu chín và không nấu, tạo thành chế độ ăn uống duy nhất của các con nhân loại đang tiến hóa, thì bấy giờ các thể (bodies) thích hợp để làm các hiện thể (vehicles) cho các Chân Ngã (Ego) tiến hóa cao sẽ được tạo nên. Họ kiên nhẫn chờ đợi sự xoay vòng của bánh xe, và sự xuất hiện của một chu kỳ vốn sẽ cho phép họ hoàn thành vận mệnh của mình. Thời cơ chưa đến, và công việc loại bỏ và điều chỉnh chắc hẳn là chậm chạp và tẻ nhạt.
VIỆC KHẮC PHỤC NHỮNG TRỞ NGẠI
Một vài nhận thức vô cùng quan trọng phải đi trước công việc loại bỏ những trở ngại, và chúng có thể được liệt kê như sau:
a/ Một sự nhận thức rằng trong việc tuân theo nhiệm vụ
85 kế tiếp và việc gắn bó với hình thức cao nhất được biết đến của chân-lý nằm ở con đường của sự mặc khải xa hơn.
b/ Một sự nhận thức rằng thái độ bình thản (dispassion) là việc lớn lao cần trau dồi, và rằng một sự tự nguyện chịu đựng một cách vui vẻ một số lớn phiền toái, đau đớn hoặc thống khổ tạm thời, phải được phát triển, khi có trước mắt niềm vinh quang tương lai vốn sẽ xóa đi những bất hạnh của giờ phút đang trải qua.
c/ Một sự nhận thức rằng sự tổng hợp là phương pháp mà nhờ đó việc lĩnh hội được đạt đến, và rằng, bằng cách kết hợp các cặp đối ứng, trung-đạo (middle path) được hoạch đắc, con đường này đưa thẳng đến trung tâm của thành lũy cuối cùng (citadel).
Với ba nhận thức này đang kiểm soát triệt để quan điểm của y về cuộc sống, môn sinh có thể hy vọng, bằng sự nỗ lực tích cực, thắng phục bốn trở ngại mà chúng tôi đã đề cập đến.
Trong khi tiếp tục việc xem xét của chúng ta về Qui Luật thứ hai, chúng ta sẽ bàn trước tiên đến sự liên quan của linh hồn với phàm ngã, chủ yếu là theo quan điểm của thiền định. Do đó, chúng ta đang đề cập đến “ánh sáng vĩ đại hơn”, và sau đó sẽ bàn đến “việc ném lên của ánh sáng thấp hơn”. Điều này cũng theo đường lối với định luật về tri thức huyền bí là người ta nên bắt đầu với những điều phổ quát (universals).
Nên nhớ kỹ rằng các qui luật này chỉ dành cho những người nào mà phàm ngã của họ được phối kết và có thể trí của họ đang dần được kiểm soát. Do đó, người đó đang sử dụng hạ trí, tức cái trí lý luận, trong khi linh hồn đang vận dụng thượng trí tức là cái trí trừu tượng. Cả hai đơn vị đều đang hoạt động với hai khía cạnh của nguyên khí trí tuệ phổ quát, và trên cơ sở này, mối quan hệ của chúng bắt đầu xảy ra. Công việc của con người với thể trí của y là khiến cho nó tiêu cực và dễ tiếp thu đối với linh hồn, và đây là việc làm tích cực (positive occupation) của y − (ở đây hãy lưu ý đến cách dùng từ “positive” – tích cực − trong nỗ lực làm cho thể trí dễ tiếp thu, vì nơi đây có chứa manh mối cho việc hành động đúng
86 đắn). Công việc của linh hồn trong sự thiền định là làm cho vấn đề thiền định đó trở nên tích cực đến nỗi hạ trí có thể được tạo ấn tượng, và như thế phàm ngã (lower man) có thể được đưa vào cùng đường lối với Thiên Cơ Vĩnh Cửu
(Eternal Plan).
Như vậy, một lần nữa, chúng ta có một liên hệ được thiết lập giữa một rung động tích cực với một rung động tiêu cực, và việc nghiên cứu về các mối liên hệ này mang lại nhiều thông tin (information) cho đạo sinh, và là một phần của giáo huấn được đưa ra để chuẩn bị cho cuộc điểm đạo thứ nhất. Một danh sách các tình huống liên quan này có thể được đưa ra ở đây cho thấy chúng đang ở trong mối liên hệ đang phát triển của chúng trên đường tiến hóa.
1. Mối liên hệ giữa các thể xác nam và nữ, mà con người gọi là mối quan hệ tình dục, và được cho là hết sức quan trọng vào lúc này. Trong thung lũng của ảo ảnh, biểu tượng thường thu hút (engrosses) sự chú ý còn những gì mà nó tiêu biểu thì bị bỏ quên. Trong việc giải quyết mối liên hệ này sẽ dẫn đến sự bắt đầu chủng tộc, và chính với việc này mà nhân loại hiện đang bị thu hút.
2. Mối quan hệ giữa thể cảm dục với thể xác, mà, đối với đa số người, là bản chất cảm dục tích cực kiểm soát thể xác tiêu cực mang tính tự động. Thể xác, khí cụ của sự ham muốn, bị thống trị và bị kiểm soát bởi sự ham muốn – sự ham muốn đời sống vật chất, và sự ham muốn hoạch đắc sự vật hữu hình.
3. Mối quan hệ giữa thể trínão bộ, tạo nên vấn đề của những người và các chủng tộc tiến hóa nhiều, và hệ thống rộng lớn của các trường học, trường cao đẳng, trường đại học cho thấy tầm quan trọng của vấn đề đó. Nhiều tiến bộ trong mối quan hệ này đã được thực hiện trong năm mươi năm qua, và hoạt động của các nhà tâm lý học đánh dấu mức độ cao nhất của nó. Khi điều này được hiểu rõ, thể trí sẽ được coi là yếu tố tích cực và hai khía cạnh kia của bản chất hình tướng (phàm ngã) sẽ đáp ứng về mặt tiếp nhận (receptively). Chúng sẽ là những người máy của thể trí.
4. Mối liên quan giữa linh hồn với phàm ngã, chính là vấn đề đang thu hút sự chú ý của những người tìm đạo hiện nay, vì họ là những người tiên phong của gia đình nhân loại, 87 những người mở đường đi vào thế giới của linh hồn. Các nhà thần bí và nhà huyền bí quan tâm đến mối liên hệ này.
5. Mối liên quan giữa các bí huyệt dưới cơ hoành và các bí huyệt ở trên, hoặc giữa:
a/ Bí huyệt ở đáy cột sống và hoa sen có ngàn cánh, tức bí huyệt đầu. Trong mối quan hệ này, bốn cánh hoa của bí huyệt ở đáy trở thành nhiều cánh (the many), hoặc bộ bốn (the quaternary) không còn nữa trong cái chung (the universal).
b/ Bí huyệt xương cùng và bí huyệt cổ họng. Trong mối liên hệ này xảy đến một sự phối hợp giữa mười hai Huyền-Giai Sáng-Tạo và tứ nguyên (the quaternary), và ta thấy được bí mật của mười sáu cánh hoa của hoa sen cổ họng. c/ Bí huyệt đan điềnbí huyệt tim, trong mối quan hệ này, số mười của con người hoàn thiện trong thái dương hệ này không còn nữa trong số mười hai tuyệt đỉnh. Khi con người tiếp xúc với mười hai Huyền-Giai Sáng-Tạo (trong khía cạnh bên ngoài và khía cạnh sáng tạo của các Huyền-Giai này), y là tứ nguyên hoàn thiện theo quan điểm của sắc tướng, vì vậy trong mối liên hệ giữa bí huyệt đan điền với bí huyệt tim thì ngôi hai được hoàn thiện; lòng bác ái của linh hồn có thể tự biểu hiện một cách hoàn hảo qua bản chất tình cảm (tức thể cảm dục).
6. Mối liên quan giữa hai bí huyệt đầu, hay là giữa bí huyệt giữa hai chân mày (bí huyệt ấn đường) và bí huyệt phía trên đầu. Mối quan hệ này được thiết lập và được ổn định khi linh hồnthể xác thành một đơn vị hoạt động.
7. Mối liên hệ giữa tuyến tùng quả với tuyến yên như là một kết quả của mối liên hệ trên.
8. Mối liên hệ giữa thượng trí với hạ trí, bao hàm sự tiếp xúc với linh hồn ngày càng tăng và ổn định. Thái độ thiền định của linh hồn được lặp lại trong ba thể (hoặc bởi con người tâm linh), và sự tham thiền đều đặn của linh hồn cũng tiếp tục trên cõi riêng của linh hồn. Chúng ta quan tâm chủ yếu đến chính việc này, và đến các kết quả của nó trong qui luật này.
Một mối quan hệ sau này, vốn không liên quan chút nào
88 đến chúng ta, được thiết lập sau cuộc điểm đạo thứ ba giữa linh hồn với Chân Thần (monad), và trong suốt diễn trình tiến hóa của vũ trụ, các mối liên hệ này sẽ xuất hiện. Tuy thế, nhân loại nói chung chỉ quan tâm đến việc thiết lập một mối liên hệ giữa linh hồn với thể xác, và không cần đi quá điều này.
Khi con người tìm cách đạt đến sự kiểm soát thể trí, thì đến lượt linh hồn trở nên năng nổ một cách tích cực hơn. Công việc của Thái Dương Thiên Thần (solar Angel) cho đến bây giờ phần lớn vẫn ở trong thế giới riêng của Ngài, và liên quan đến mối liên hệ của Ngài với tinh thần, và đối với điều này, con người đang làm việc qua các chu kỳ của mình trên cõi trần, đã không có sự dính líu nào. Sự tiêu phí năng lượng chính của linh hồn có tính khái quát, và hướng ra ngoài đi vào giới thứ năm. Hiện nay, Thái Dương Thiên Thần đang đến gần một thời điểm bước ngoặt (time of crisis) và tái định hướng. Trong lịch sử ban đầu của nhân loại đã có một bước ngoặt lớn mà chúng ta gọi là sự biệt-ngã-hóa (individualisation). Vào thời điểm đó, các Thái Dương Thiên Thần (solar Angels), khi đáp ứng với một đòi hỏi hoặc một sức hút từ chủng tộc người-thú (nói chung, hãy lưu ý điều đó), đã gửi một phần năng lượng của các Ngài, hiện thân cho tính chất trí-tuệ-hóa (mentalisation), đến những người-thú (animal-men) này. Các Ngài đã làm phong phú (fecundated), Tôi tạm diễn tả như thế, cho bộ óc (the brain). Thế là nhân loại được sinh ra. Tuy nhiên, mầm mống này mang trong nó hai tiềm năng khác, tiềm năng bác ái thiêng liêng và tiềm năng sự sống thiêng liêng. Các tiềm năng này phải được xuất hiện đúng lúc.
Sự phát triển hoàn toàn của thể trí trong con người, mà thời đại hiện tại nhận biết như thế, tỏ lộ cho Thái Dương Thiên Thần một bước ngoặt thứ hai, mà bước ngoặt đầu tiên chỉ là sự tượng trưng. Điều mà Thái Dương Thiên Thần tồn tại (exists) vì nó, là làm cho sự hiện hữu của ngài được cảm nhận trong nhân loại, và một sức hút mạnh mẽ khác đang được tác động vào Thái Dương Thiên Thần, mà lần này sẽ tạo ra một sự phong phú hóa (fecundation) thứ hai. Điều này sẽ cung cấp cho con người những phẩm chất vốn sẽ cho phép con người vượt qua các giới hạn của nhân loại, và trở thành một thành phần của Giới thứ năm, hay Giới tinh thần trong thiên nhiên. Nỗ lực đầu tiên của Thái Dương Thiên Thần đã
89 chuyển đổi người-thú thành con người, nỗ lực thứ hai sẽ biến đổi nhân-loại thành các thực thể tâm linh, cộng thêm các thu đạt kinh nghiệm trong gia đình nhân loại.
Về điều này, Thái Dương Thiên Thần, tức linh hồn (soul), đang tự sắp xếp, và tái định hướng chính mình sao cho sức mạnh của ngài có thể được chuyển hướng vào giới nhân loại. Sự tiếp xúc phải được linh hồn thực hiện giữa khía cạnh thấp của bản thể tam phân của ngài với khía cạnh vốn đã tìm thấy trú sở trong bộ óc của con người. Sự hoạt động thông tuệbác ái minh triết phải được hợp nhất, và sự phối hợp (union) phải diễn ra trên cõi trần. Để thực hiện điều này, linh hồn đang bước vào “sự thiền định thâm sâu”, trong sự hòa hợp với tất cả các linh hồn khác, những linh hồn đã có thể đưa công cụ của họ vào một trạng thái đáp ứng. Đây là sự thiền định tập-thể cơ-bản, và khi một người thành tựu điều mà các Kinh sách phương Đông gọi là “sự đại định” (“samadhi”), người ấy đã thành công trong việc tham gia, với tư cách một linh hồn, vào sự thiền định tập thể này, và bắt đầu chu kỳ phụng sự vốn tự biểu lộ thông qua Thánh Đoàn (Hierarchy) hành tinh. Hạ tríthượng trí (rational mind and abstract mind) hoạt động với tư cách là một đơn vị, và nguyên khí thúc đẩy là bác ái. Linh hồn, thể hiện cho bác ái và trí tuệ trừu tượng, là một với biểu hiện của nó trên cõi trần thông qua bộ não, và, trong trường hợp này, phàm nhân đã đồng-bộ sự thiền định của nó với sự thiền định của linh hồn.
Đây là mục tiêu hoạt động của chúng ta. Để điều này không bị lãng quên, và để cho mọi nỗ lực được thực hiện ngõ hầu đưa thể tríbộ não vào một tình trạng hoạt động sao cho một người có thể lướt ra khỏi sự thiền định riêng của mình và (không còn thấy các tư tưởng của riêng mình) trở thành linh hồn, chủ-thể tư-tưởng trong giới linh hồn.
Đó có lẽ là một tư tưởng mới đối với một số người là linh hồn đang tự sắp xếp cho sự nỗ lực, tái định hướng các sức mạnh của mình, và đang chuẩn bị cho một sự thúc đẩy mới và mạnh mẽ, nhưng điều đó là thế. Mọi hình thức sự sống dưới ảnh hưởng của mãnh lực tiến hóa, đi từ sự khởi đầu này đến sự khởi đầu khác, và linh hồn cũng không được miễn trừ đối với trình tự này. Cũng như linh hồn của ngườithú bắt đầu hợp nhất với một nguyên khí thiêng liêng khác,
90 và vì thế mà giới thứ tư xuất hiện trong thiên nhiên, cũng vậy, linh hồn trong nhân loại đang tìm cách tiếp xúc với một trạng thái thiêng liêng khác. Khi sự tiếp xúc đó được thực hiện, Giới Thần Thánh (Kingdom of God) sẽ xuất hiện trên trái đất; cõi trần do đó sẽ được chuyển hóa, và giai đoạn đặc biệt đó, được đưa ra một cách biểu tượng dưới thuật ngữ thời đại hoàng kim (millennium), sẽ đến.
Các bậc Thức Giả (Knowers) về Thượng Đế trong kỷ nguyên đó sẽ chiếm đa số hơn những người vốn chỉ khao khát về tri thức đó, và sự tiếp xúc của họ và các kết quả của mãnh lực mà họ truyền chuyển, sẽ được cảm nhận trong mọi giới của thiên nhiên. Sự thống trị mọi hình tướng, và sức mạnh để hoạt động như các tác nhân truyền chuyển năng lượng tinh thần mà chúng ta gọi là bác ái đó, chính là phần thưởng hứa hẹn của các Thái Dương Thiên Thần chiến thắng, và là mục tiêu quý giá của hoạt động thiền định của họ. Các Con của Thượng Đế sẽ chiến thắng trên trần gian trong sự biểu lộ nhập thể hoàn toàn, và sẽ mang ánh sáng (do đó, sự sống) đến tất cả mọi hình tướng biểu lộ. Đây là “sự sống phong phú hơn” mà Đức Christ nói đến. Đây là sự thành tựu của Đấng Nhập Niết Bàn (Nirvanee) thực sự, là Đấng dù đang sống trong sự thiền định không gián đoạn trong địa hạt tinh thần, nhưng vẫn có thể hoạt động trên cõi trần. Công việc của sự điểm đạo là khiến cho một người bao giờ cũng sống ở trung tâm, nhưng hoạt động như một tác nhân phân phối năng lượng thiêng liêng theo một đường hướng nào đó, và – sau các cuộc điểm đạo về sau – thì theo tất cả mọi hướng.
Bây giờ, trong khi xem xét về qui luật kế tiếp, chúng ta sẽ đề cập đến công việc của “ánh sáng thứ yếu” của con người trên cõi trần. Tôi, vốn đã phần nào nhập vào sự hiểu biết về sự sống của Thái Dương Thiên Thần, muốn quả quyết với những người hành hương anh em của tôi rằng những sự việc trải qua của các giác quan chỉ là tầm thường và vô giá trị khi so sánh với những phần thưởng, ở đây và trong cuộc sống này, cho người đang tìm cách hòa nhập tâm thức hằng ngày của mình với tâm thức của chính linh hồn mình. Kế đó y nhập vào cộng đồng của các linh hồn, và không đứng riêng rẻ. Các giai đoạn cô đơn đáng xem xét nhất là kết quả của sự định hướng sai lầm và việc bám chặt vào những gì che giấu ảo ảnh, và nắm đầy tay đến nỗi họ không thể nắm lấy những gì đã được gọi là “viên ngọc quý trong hoa sen”.

91 Qui Luật Ba

Năng Lượng lưu chuyển. Điểm ánh sáng, sản phẩm do công sức của bốn, hưng thịnh và tăng trưởng. Rất nhiều người tập hợp chung quanh hơi ấm sinh động của nó, cho đến khi ánh sáng của nó mờ dần. Ngọn lửa của nó trở nên lu mờ. Kế đó, âm thanh thứ hai sẽ phát ra.

Ánh Sáng Linh HồnÁnh Sáng Thể Xác.
Các Nguyên Lý và các Phàm Ngã.  

93 Qui Luật Ba
ÁNH SÁNG LINH HỒNÁNH SÁNG THỂ XÁC
Trong các Quy Luật đối với Huyền Thuật này, các định luật về hoạt động sáng tạo được thể hiện và là phương tiện mà nhờ đó con người có thể hoạt động như một linh hồn nhập thể. Về căn bản, chúng không liên quan đến các qui luật chi phối sự phát triển con người. Tất nhiên, nhân đây mà nhiều điều có thể được học hỏi trong mối liên hệ này, vì con người phát triển qua công việc sáng tạo và sự hiểu biết, nhưng đây không phải là mục tiêu chủ yếu của giáo huấn.
Thông qua sự tổng hợp đang phát triển dần dần của tiến trình thiền định được thực hiện bởi linh hồn trên cõi riêng của nó, và sự tổng hợp đang phát triển dần của người có đạo-tâm, con người biểu thị (manifests) (trong bộ não vật chất) một điểm sáng vốn đã được thắp sáng về mặt huyền linh trên cõi của thể trí. Ánh sáng bao giờ cũng biểu thị hai việc : năng lượng và sự biểu lộ của nó trong hình tướng của một loại nào đó, vì ánh sángvật chất là những thuật ngữ đồng nghĩa. Tư tưởng của con người và ý tưởng của linh hồn đã tìm thấy một điểm giao tiếp, và mầm mống của một hình tư tưởng (thought form) đã phát sinh. Hình tư tưởng này, khi được hoàn thành, sẽ thể hiện tối đa kế hoạch vĩ đại (mà Thánh Đoàn đang tác động lên đó) như con người có thể hình dung, nắm vững và thể hiện trên cõi trí. Trong các giai đoạn đầu của sự khát vọng của con người, trong những bước đầu tiên của y dọc theo Con Đường Đệ Tử, và đối với hai cuộc điểm đạo đầu tiên, hình tư tưởng này được bao hàm bởi từ ngữ “Phụng Sự” (“Service”). Y hiểu rõ, lúc đầu bằng cách dò dẫm, ý tưởng về sự hợp nhất của Sự Sống, và biểu hiện của nó dưới hình thức Tình Huynh Đệ (Brotherhood) hiện hữu giữa mọi hình thức của Sự Sống thiêng liêng đó. Lý tưởng chủ quan này dần dần dẫn đến một sự nhận thức sâu sắc về cách thức mà trong đó mối quan hệ thiết yếu này có thể thể hiện trên thực tế. Điều này có thể được thấy đang tìm kiếm sự biểu lộ của nó trong các nỗ lực nhân đạo lớn lao, trong các
94 tổ chức vì mục đích làm giảm nhẹ nỗi đau khổ của con người và thú vật, và trong các nỗ lực trên khắp thế giới vì mục đích cải thiện các mối quan hệ nội bộ của các quốc gia, các tôn giáo và các đoàn thể.
Hiện nay, đủ các đơn vị nhân loại đã tiếp xúc với kế hoạch của Thánh Đoàn, đến nỗi ta có thể kết luận một cách chắc chắn rằng bộ não tập thể của gia đình nhân loại (thực thể mà chúng ta gọi là Giới thứ tư của Thiên Nhiên) nhạy cảm với viễn cảnh, và đã rập khuôn với hình thể được thắp sáng của nó trên cõi trí. Sau này, tư tưởng phụng sựtư tưởng về Bản Ngã sẽ được nhận thấy không đầy đủ, và một hình thể biểu lộ thích hợp hơn sẽ được tìm thấy, nhưng điều này cũng đủ cho hiện tại.
Hình tư tưởng này, được tạo ra bởi người tìm đạo, được đưa vào hiện tồn bởi các năng lượng được tập trung của linh hồn, và các mãnh lực được tái định hướng của phàm ngã. Điều này được mô tả như gồm ba giai đoạn.
1. Giai đoạn mà trong đó người tìm đạo phấn đấu để thành tựu sự chăm chú tĩnh lặng ở nội tâm và có định hướng, vốn sẽ giúp y nghe được Tiếng Nói Vô Thinh. Tiếng nói đó biểu lộ cho y, thông qua biểu tượng và kinh nghiệm sống được diễn dịch, các mục tiêu và các kế hoạch mà y có thể hợp tác. Tùy theo giai đoạn phát triển của y, những kế hoạch này sẽ thể hiện:
a/ Hoặc là các kế hoạch đã được hiện thực hóa, lấy hình thức nhóm trên cõi trần, mà y có thể hợp tác với, và y có thể nhấn chìm lợi ích (interest) của riêng y vào lợi ích của nhóm đó.
b/ Hoặc là kế hoạch, hoặc phần nhỏ của một kế hoạch, vốn là đặc quyền cá nhân của y, để giúp đưa vào biểu lộ, và như vậy làm cho hiện-thực-hóa dưới hình thức một hoạt động tập thể trên cõi trần. Đó là chức năng của một số người tìm đạo để hỗ trợ và giúp đỡ các nhóm đang vận hành hoạt động này. Đó là chức năng của những người khác để tạo ra các hình thức hoạt động này, mà cho đến nay vẫn ở trên cõi chủ quan (bên trong, subjective). Chỉ những người tìm đạo
95 nào đã được giải thoát khỏi tham vọng cá nhân, mới có thể thực sự hợp tác trong khía cạnh hoạt động thứ hai này. Do đó, “Hãy diệt lòng tham vọng” (“Kill out ambition”).
2. Giai đoạn mà trong đó y tập cho mình quen
(habituates) với việc nghe rõ ràng và diễn giải chính xác tiếng nói bên trong của linh hồn, và nghiền ngẫm suy tư về thông điệp được trao truyền. Trong giai đoạn này, “Linh-Năng đang lưu chuyển” (“the Energy circulates”). Một sự đáp ứng nhịp nhàng thường xuyên với năng lượng tư tưởng của linh hồn được thiết lập, và, nói một cách bóng bẩy thì có một dòng chảy đều đặn của thần lực giữa trung tâm năng lượng mà chúng ta gọi là linh hồn trên cõi riêng của nó, với trung tâm lực là một con người. Năng lượng đi dọc theo “tuyến” (“thread”) mà chúng ta gọi là sinh mệnh tuyến (sutratma), và gây ra một sự đáp ứng rung động giữa não bộ với linh hồn.
Một góc độ thú vị của thông tin có thể được đưa ra ở đây, vì đó là ý định của Tôi trong các Huấn Thị này, để luôn luôn liên kết các sự tương đồng giữa các khía cạnh khác nhau của thiên tính, khi chúng tự thể hiện trong con người hoặc trong đại-thiên-địa, tức Vị Thiên-Đế (Heavenly Man).
Yoga cổ xưa của thời Atlantis (môn yoga này đã truyền đến chúng ta trong giáo huấn rời rạc một cách tất nhiên của yoga về các bí huyệt) truyền đạt cho chúng ta thông tin rằng hình ảnh của sutratma trong cơ thể con người được gọi là tủy sống, và tự thể hiện trong ba vận hà thần kinh. Ba vận hà này được gọi là ida, pingala, và vận hà trung ương, tức là sushumna. Khi các mãnh lực âm và dương của cơ thể, vốn tự biểu lộ xuyên qua các đường thần kinh idapingala, được cân bằng (equilibrized), thì các thần lực có thể đi lên và đi xuống bằng vận hà trung ương (central channel), đến não và từ não ra, đi qua các trung tâm lực trên cột sống mà không còn trở ngại. Khi xảy ra điều này, chúng ta có sự biểu lộ của linh hồn hoàn thiện trong con người hồng trần.
Thực ra, đây là một sự tương ứng với sutratma khi nó liên kết con người hồng trần với linh hồn, vì sutratma đến lượt nó biểu lộ năng lượng dương của tinh thần, năng lượng
96 âm của vật chất, và năng lượng cân bằng của linh hồn − việc thành tựu trạng thái thăng bằng là mục tiêu hiện tại của nhân loại. Trong giai đoạn của các cuộc điểm đạo sau này, việc sử dụng năng lượng tinh thần dương thay thế việc sử dụng mãnh lực linh hồn cân bằng, nhưng đó là một giai đoạn sau này, mà người tìm đạo cho đến lúc này không cần bận tâm đến. Hãy để y tìm thấy “Trung Đạo cao quý” giữa các cặp đối ứng, và một cách tình cờ, y sẽ thấy rằng các mãnh lực mà y vận dụng trên cõi trần, sẽ sử dụng vận hà thần kinh trung ương trên cột sống. Điều này sẽ xảy ra khi việc truyền ánh sáng và chân lý đến não bộ hồng trần, xuyên qua vận hà trung ương của sutratma đang nối kết, thực sự phát triển thành sự hữu ích thỏa đáng (satisfactory). Những ý tưởng và khái niệm đó (nói một cách biểu tượng) khi đi xuyên qua vận hà âm tính của sutratma ( ) tuy đầy ý nghĩa tốt lành, nhưng thiếu lực và kiệt sức dần (peter) thành vô nghĩa. Chúng bị nhuốm màu tình cảm, và thiếu hình thức có trật tự mà thể trí thuần khiết có thể cung cấp. Những ý tưởng và khái niệm đó khi đi xuyên qua vận hà đối diện( ) (nói một cách bóng bẩy) lại tạo ra sự phối kết (concretion) quá nhanh, và bị thúc đẩy bởi tham vọng cá nhân của một trí năng chi phối. Thể trí (mind) luôn luôn vị kỷ, tự tư tự lợi, và biểu lộ cái tham vọng cá nhân vốn chứa trong nó mầm mống của sự hủy diệt riêng của nó.
Tuy nhiên, khi trung-hỏa kỳ-kinh (sushumna) của sutratma, tức vận hà thần kinh trung ương và năng lượng của nó được sử dụng, thì linh hồn, với vai trò là một tác nhân sáng tạo thông minh thu hút, sẽ truyền chuyển các năng lượng của nó. Các kế hoạch khi đó có thể hoàn thiện theo thiên ý và tiếp tục với các hoạt động xây dựng của chúng “trong ánh sáng”. Điểm tiếp xúc của chân ngã và nguyệt thể luôn phát ra điểm sáng, như chúng ta đã thấy theo các qui luật về Huyền Thuật (Magic) của chúng ta, và điểm đó có tiêu điểm của nó tại điểm trong sutratma, vốn có sự tương ứng của nó trong ánh sáng trong đầu của người tìm đạo.
3. Giai đoạn mà trong đó y phát ra Thánh Ngữ (Sacred Word) và – hòa hợp nó với tiếng nói (voice) của Chân Ngã hay Linh Hồn – khởi động chất trí cho việc tạo nên hình tư tưởng của y. Chính là con người trên cõi trần bây giờ ngân lên Linh Từ (Word), và y thực hiện điều đó theo bốn cách:
97 a/ Y trở thành Linh Từ nhập thể, và nỗ lực “để trở về cội nguồn của mình” (“to be what he is”)
b/ Y ngân lên Linh Từ bên trong chính mình, tìm cách làm điều đó như linh hồn. Y hình dung mình như là linh hồn, phát ra năng lượng qua trung gian của Linh Từ đó, xuyên qua toàn bộ hệ thống mà linh hồn của y đang làm sinh động – các khí cụ trí tuệ, tình cảm, sinh lực, và thể chất.
c/ Y phát ra Linh Từ theo đúng nghĩa trên cõi trần, do đó ảnh hưởng đến ba mức độ của vật chất trong môi trường của y. Như thế y luôn luôn bận rộn, y đang “giữ thể trí ổn định trong ánh sáng”, và đang giữ cho ý thức của mình bất di bất dịch (immovably) trong lĩnh vực của linh hồn.
d/ Y cũng xúc tiến (và đây là giai đoạn khó khăn nhất) một hoạt động song song là việc hình dung đúng đắn hình tư tưởng mà qua nó y hy vọng biểu lộ khía cạnh đó của thiên cơ mà y đã tiếp xúc, và y hy vọng mang nó vào trạng thái tích cực qua cuộc sống riêng của y, và trong môi trường riêng của y.
Điều này chỉ có thể thực sự xảy ra khi một mối quan hệ ổn định đã được thiết lập giữa linh hồn với bộ não. Tiến trình này bao hàm khả năng của bộ não để ghi nhận những gì mà linh hồn đang hình dung và bắt đầu ý thức trong Giới Linh Hồn. Nó cũng bao hàm một hoạt động song song trong thể trí, vì người tìm đạo phải làm sáng tỏ tầm nhìn và sử dụng khả năng trí tuệ cụ thể cho sự thích nghi khôn ngoan về thời gian và về hình thức đối với sự biểu lộ thực sự của những gì đã được học. Điều này tất nhiên không phải là một việc dễ làm, nhưng người tìm đạo cuối cùng phải học cách tự biểu lộ với ý thức đầy đủ theo nhiều cách và cùng một lúc. Y bắt đầu học ba hoạt động theo cách này. Cổ-Luận diễn tả điều này như sau:
98 Thái Dương Cầu (Solar Orb) tỏa chiếu trong vẻ huy hoàng rực rỡ. Thể trí giác ngộ phản ánh vẻ rực rỡ của mặt trời. Nguyệt cầu đi lên từ tâm đến đỉnh, và được biến đổi thành một mặt trời chói rạng ánh sáng. Khi ba mặt trời này hợp nhất, Brahma xuất hiện. Một thế giới sáng ngời được sinh ra.
Điều này có nghĩa theo từng chữ là khi linh hồn (được biểu tượng hóa như là Thái Dương Cầu), thể trí, và ánh sáng trong đầu hợp thành một đơn vị, năng lực sáng tạo của Thái Dương Thiên Thần có thể tự hiển lộ trong ba cõi thấp, và có thể kiến tạo một hình tướng mà qua đó năng lượng của nó có thể tự biểu lộ một cách tích cực. Nguyệt cầu là một cách diễn tả tượng trưng bí huyệt đan điền (solar plexus) vốn cuối cùng phải thực hiện hai việc:
1. Hòa lẫn và kết hợp các năng lượng của hai trung tâm lực thấp, và
2. Nâng cao các năng lượng được phối hợp này, và vì vậy, hòa lẫn với các năng lượng của các trung tâm lực khác cao hơn, lên tới đầu.
Tất cả các điều trên tiêu biểu cho một giáo lý và một lý thuyết. Điều này phải được thể hiện trong thử nghiệm và kinh nghiệm thực tế, và hoạt động có ý thức của người tìm đạo.
Tôi cũng muốn nêu ra bản chất của việc phụng sự nhân loại nói chung đang diễn ra trong kế hoạch chung của cơ tiến hóa. Qui luật mà chúng ta đang xem xét không chỉ áp dụng cho con người cá biệt, mà còn cho hoạt động tiền định (predestined) của giới thứ tư trong Thiên Nhiên. Nhờ sự thiền định, giới luậtphụng sự, con người thổi vào ánh sáng rực rỡ, đang chiếu rọi ba cõi thấp, điểm ánh sáng đó vốn chập chờn hiện ra vào lúc biệt-ngã-hóa của con người trong các thời kỳ quá khứ. Điểm sáng này tìm thấy hình ảnh của nó trong ánh sáng trong đầu. Vì vậy, một mối quan hệ được thiết lập, cho phép không chỉ sự đồng-bộ-hóa rung động, mà còn cho phép một sự phát xạ và hiển lộ từ lực, cho phép việc nhận ra nó trong ba cõi thấp của môi trường gần gũi của con người.
Nó cũng thế với giới nhân loại. Khi sự giác ngộ của nó gia tăng, khi ánh sáng của nó trở nên mạnh hơn, ảnh hưởng
99 của nó trên các giới dưới nhân loại tương tự với ảnh hưởng của linh hồnnhân, tức hình ảnh của nó, trên con người đang lâm phàm ở cõi trần. Tôi nói tương tự (analogous) với vai trò một lực nguyên nhân (causative force), mặc dù không phải là một sự tương ứng trong các hiệu quả. Hãy lưu ý sự dị biệt này. Nhân loại là đại-thiên-địa (macrocosmic) trong mối quan hệ với các trạng thái ý thức dưới nhân loại, và H.P.B. cũng đã chỉ rõ điều này. Hiệu quả trên các trạng thái ít vật chất và nhiều vật chất hơn này căn bản là tứ phân.
1. Sự kích thích khía cạnh tinh thần, tự biểu lộ như là linh hồn trong mọi hình tướng, như là hình tướng của một khoáng chất, một bông hoa, hoặc một con thú. Khía cạnh năng lượng dương tính trong mọi hình tướng này sẽ trở nên mạnh mẽ hơn, tạo ra bức xạ, chẳng hạn, ngày càng tăng trong giới khoáng chất. Trong điều này có một gợi ý về bản chất của tiến trình vốn sẽ thiết lập một kỳ hạn cho sự tồn tại cho hành tinh của chính chúng ta, và cuối cùng, cho thái-dươnghệ của chúng ta. Trong giới thực vật, hiệu quả sẽ là sự thể hiện của cái đẹp và sự đa dạng ngày càng tăng, và sự phát triển các loài mới với một mục tiêu không thể giải thích cho những người chưa được điểm đạo. Việc tạo ra các hình thức dinh dưỡng vốn sẽ phục vụ nhu cầu của các devas cấp thấp và các thiên thần (angels), sẽ là một trong các kết quả.
Trong giới động vật, hiệu quả sẽ là việc loại bỏ nỗi đau đớn và thống khổ, và một sự trở lại với các tình trạng lý tưởng của Vườn Địa Đàng. Khi con người hoạt động như là một linh hồn, y hàn gắn; y kích thích và truyền sinh lực; y truyền chuyển các mãnh lực tinh thần của vũ trụ, và các sự phóng phát có hại và mọi mãnh lực phá hoại sẽ bị cản lại trong giới nhân loại. lực và các ảnh hưởng của nó phần lớn dựa vào nhân loại để có một vận hà hoạt động. Chức năng của con người là để truyền tải và vận dụng mãnh lực. Việc này được thực hiện trong các giai đoạn đầu còn vô minh mang tính cách phá hoại, và với các kết quả tai hại. Về sau, khi hoạt động dưới ảnh hưởng của linh hồn, thì sức mạnh được vận dụng một cách đúng đắn và khôn ngoan, và dẫn đến kết quả tốt lành. Quả đúng là “toàn bộ sự sáng tạo làm việc vất vả trong đau khổ cho đến bây giờ, đang chờ đợi sự biểu lộ của các con của Thượng Đế.”
100 2. Việc mang lại ánh sáng. Nhân loại là những người mang ánh sáng đến cho hành tinh, truyền chuyển ánh sáng của tri thức, của minh triết, và của hiểu biết, và điều này theo ý nghĩa nội môn. Ba khía cạnh này của ánh sáng mang ba khía cạnh của năng lượng linh hồn đến cho linh hồn trong mọi hình tướng, qua trung gian của anima mundi, tức linh hồn thế giới (world soul). Nói một cách cụ thể, điều này có thể được nhận thức nếu chúng ta có thể đánh giá cao sự khác nhau giữa sự khai trí của hành tinh chúng ta ngày nay, với sự khai trí của hành tinh năm trăm năm trước đây – các đô thị được chiếu sáng rực rỡ của chúng ta, các khu vực nông thôn của chúng ta sáng suốt đêm với đường phố và nhà cửa được chiếu sáng của chúng; đường hàng không của chúng ta được vẽ các đường nét với các đèn pha và các sân có các quả cầu chói sáng; các đại dương của chúng ta, được lấm chấm với những chiếc tàu được chiếu sáng của chúng, và các khinh khí cầu được thắp sáng của chúng ta sẽ được nhìn thấy ngày càng nhiều, lao đi khắp bầu trời.
Những điều này chỉ là kết quả của sự khai trí đang tăng trưởng của con người. Khía cạnh tri thức của ánh sáng của con người đã tạo ra sự khai trí này. Ai sẽ nói điều gì sẽ xảy ra khi khía cạnh minh triết chiếm ưu thế? Khi các điều này được gắn kết bằng sự hiểu biết, linh hồn sẽ kiểm soát trong ba cõi thấp và trong tất cả các giới của thiên nhiên.
3. Sự truyền chuyển năng lượng. Đầu mối cho ý nghĩa của điều này có thể được hiểu như một khái niệm, mặc dù cho đến nay, điều đó sẽ không được lĩnh hội, trong việc nhận thức rằng giới nhân loại tác động trên, và có ảnh hưởng đến ba giới dưới nhân loại. Tam Giác tinh thần đang tuôn đổ xuống và Tam Giác vật chất đang đi lên gặp nhau hết điểm này đến điểm khác trong nhân loại khi điểm cân bằng có thể được tìm thấy. Trong sự thành tựu và sự tinh-thần-hóa của con người là niềm hy vọng của thế giới. Chính nhân loại là Vị Cứu Tinh thế giới, mà tất cả các vị Cứu Tinh thế giới của nhân loại đã chỉ là biểu tượng và sự đảm bảo.
4. Sự phối hợp của cơ tiến hóa thiên thần và cơ tiến hóa nhân loại. Đây là một bí nhiệm sẽ được làm sáng tỏ, khi con người đạt đến ý thức của Thái Dương Thiên Thần (solar Angel) của riêng mình, chỉ để khám phá rằng đó cũng chỉ là một hình
101 thức của sự sống, đã phục vụ mục đích của nó, phải được bỏ lại phía sau. Sự tiến hóa thiên thần là một trong những tuyến lực vĩ đại, được bao gồm trong sự biểu lộ thiêng liêng, và các Thái Dương Thiên Thần, tức Agnishvattas của bộ Giáo Lý Bí Nhiệm và bộ Luận Về Lửa Càn Khôn – theo khía cạnh hình tướng của các Ngài – thuộc về tuyến (line) này.
Do đó nhân loại phụng sự, và trong việc phát triển một năng khiếu hữu thức đối với việc phụng sự, trong sự tăng trưởng một sự hiểu biết hữu thức về phần việc cá nhân, để được tham gia trong việc thực hiện thiên cơ và trong việc làm cho phàm ngã lệ thuộc vào linh hồn, sự tiến bộ vững chắc của nhân loại hướng tới mục tiêu phụng sự thế gian của nó sẽ đến.
Liệu Tôi có thể nói một lời ở đây để thể hiện sự hoàn thiện một mục tiêu thực tiễn trong cuộc sống của bạn hay không? Các tình trạng từ lực có hại, như là kết quả của việc vận dụng sai lầm các sức mạnh của con người, là các nguyên nhân của lực trong thế gian xung quanh chúng ta, bao gồm cả ba giới dưới nhân loại. Với tư cách các cá nhân, làm thế nào chúng ta có thể thay đổi việc này? Bằng việc phát triển trong chính chúng ta đức tính Vô Tổn Hại (Harmlessness). Vì vậy, hãy nghiên cứu chính bạn theo khía cạnh này. Nghiên cứu cách cư xử, các lời nói và các tư tưởng hằng ngày của bạn để làm cho chúng hoàn toàn vô hại. Hãy làm cho bạn suy nghĩ những tư tưởng về chính bạn và về những người khác sẽ mang tính xây dựng và tích cực, và như thế các hiệu quả của chúng sẽ không gây tổn hại. Hãy nghiên cứu ảnh hưởng về mặt cảm xúc của bạn trên người khác sao cho bạn không thể gây tổn thương một huynh đệ của bạn do bởi một tính khí (mood), một sự ngã lòng (depression), và một phản ứng cảm xúc nào. Hãy nhớ rằng, trong mối liên kết này, khát vọng tinh thần và sự nhiệt tình mãnh liệt, bị đặt sai chỗ hoặc bị hướng dẫn sai, có thể rất dễ dàng gây tổn hại cho một huynh hữu, vì vậy không những chỉ nhìn vào các xu hướng sai lầm của bạn, mà còn nhìn vào việc sử dụng các đức tính của bạn.
Nếu sự vô tổn hại là nguyên tắc cơ bản (keynote) của kiếp sống của bạn, bạn sẽ hành động để tạo ra các tình trạng hài hòa đúng đắn trong phàm ngã của bạn, nhiều hơn bất kỳ số lượng giới luật theo các đường lối khác. Sự thanh tẩy mạnh mẽ được mang lại bởi nỗ lực không gây tổn-hại sẽ tiến
102 triển rất nhiều để loại bỏ các trạng thái ý thức sai trái. Do đó, hãy chăm lo cho nó và đưa ý tưởng này vào việc kiểm điểm ban tối của bạn.
Tôi muốn thúc giục mỗi người đang đọc các trang này tạo ra một khởi đầu mới trong đời sống tâm linh. Tôi muốn nói với người đọc, hãy quên tất cả những thành tựu trong quá khứ, thể hiện sự nhiệt tình, và tập trung vào Thiên Cơ (Plan).
Vào lúc này, một sự tiến bộ nào đó trong việc nhận thức tập thể chắc chắn đã được thực hiện, và sự quan tâm ít hơn vào bản ngã chia rẻ đã được hoạch đắc. Niềm tin nhiều hơn vào Thiên Luật (God Law) vốn đang hướng dẫn mọi sự sáng tạo đến sự hoàn thiện cuối cùng chắc chắn đã được hình dung ra (visioned), và, qua tầm nhìn này, đã đến khả năng không còn để mắt vào các sự việc thuộc kinh nghiệm cá nhân, mà dán mắt vào việc vạch ra mục tiêu cho đại cục. Đây là mục tiêu và đích nhắm. Sự rộng rãi của tầm nhìn, tính bao quát của sự hiểu biết và một chân trời rộng mở là những điều căn bản sơ bộ đối với mọi hoạt động dưới sự hướng dẫn của Đại-Đoàn các Chân Sư; việc ổn định tâm thức vào sự sống duy nhất, và việc nhận thức về tính đơn nhất cơ bản của mọi sự sáng tạo, phải được phát triển phần nào trước khi bất kỳ ai có thể được giao phó một số kiến thức và Quyền-Lực-Từ (Words of Power), và việc vận dụng các mãnh-lực đó để mang thực tại chủ quan vào sự biểu lộ bên ngoài.
Vì vậy, vào lúc này, Tôi nói với bạn rằng, Tôi – là một đệ tử lớn tuổi và có lẽ có kinh nghiệm hơn, và là người phụng sự trong vườn nho vĩ đại của Đức Chúa – thực hành đức tính vô-tổn-hại với niềm vui thích và sự hiểu biết, vì đó là (nếu thực sự được thực hiện) tác nhân hủy diệt mọi sự hạn chế. Tính gây tổn hại dựa trên sự ích kỷ, và dựa vào một thái độ tập trung vào bản ngã (ego-centric attitude). Đó là sự biểu hiện của các lực được tập trung cho sự tự thúc ép, sự tự cao, và sự tự-mãn. Tính vô tổn hại là cách biểu lộ sự sống của người nhận ra mình ở khắp mọi nơi, y sống một cách hữu thức với tư cách một linh hồn, mà bản chất của linh hồnbác ái, phương pháp của linh hồn là tính bao gồm, và đối với người đó, mọi hình tướng đều giống nhau ở chỗ chúng che giấu ánh sáng, và chỉ là các ngoại hiện (externalizations) của
103 Thượng Đế Vô Hạn duy nhất (the one Infinite Being). Hãy để Tôi nhắc nhở bạn rằng sự nhận thức này sẽ biểu hiện trong một sự hiểu biết thực sự về một nhu cầu của tình huynh đệ, tách ra khỏi tình cảm và động cơ cá nhân. Nó sẽ dẫn đến sự im lặng của ngôn ngữ, vốn nảy sinh từ việc không liên quan gì đến bản ngã riêng biệt. Nó sẽ tạo ra đáp ứng tức thời đối với nhu cầu đích thật, đặc trưng cho các Đấng Cao Cả (Great Ones), các Ngài (bỏ qua vẻ bề ngoài) nhìn thấy nguyên nhân bên trong vốn tạo ra các tình trạng được nhận thấy trong đời sống bên ngoài, và vì vậy, từ mức độ minh-triết đó, các Ngài có thể cung cấp sự giúp đỡ và hướng dẫn thực sự. Tính Vô Tổn Hại mang lại trong đời sống sự thận trọng trong phán đoán, dè dặt trong lời nói, khả năng kiềm chế hành động bốc đồng, và sự thể hiện một tinh thần không chỉ trích. Vì vậy, con kênh thông suốt có thể được cung cấp cho các mãnh lực của tình thương đích thực, và cho các năng lượng tinh thần
vốn dường như truyền sinh khí cho phàm ngã, do đó dẫn đến sự hành động chân chính.
Cho nên, hãy để cho đức tính vô tổn hại, trở thành chủ âm (keynote) của kiếp sống của bạn. Việc hồi tưởng (review) buổi tối nên được xúc tiến hoàn toàn theo đường lối này; hãy chia công việc hồi tưởng làm ba phần và xem xét:
1. Tính Vô Tổn Hại trong tư tưởng. Việc này chủ yếu sẽ dẫn đến việc kiểm soát lời nói.
2. Tính Vô Tổn Hại trong phản ứng tình cảm. Điều này sẽ dẫn đến việc trở thành một vận hà cho khía cạnh bác ái của linh hồn.
3. Tính Vô Tổn Hại trong hành động. Điều này sẽ tạo ra sự tự tin, khéo léo trong hành động và việc giải phóng ý chí sáng tạo.
Ba phần này tiến gần đến chủ đề cần được nghiên cứu do các ảnh hưởng của chúng lên chính bản ngã và sự phát triển của một người, và do ảnh hưởng của chúng lên những người mà người đó tiếp xúc, và lên những người cùng cộng tác xung quanh của người đó.
Liệu Tôi có thể tự ý thêm điểm lưu ý rằng Tôi đưa ra các gợi ý được dựa trên kinh nghiệm trong hoạt động huyền bí. Không hề có sự bắt buộc phải tuân theo. Chúng Tôi muốn huấn luyện những người phụng sự sáng suốt của nhân loại,
104 và những người này được phát triển bởi sự nỗ lực tự khai mở, sự tự do trong hành động và sự phân biện trong phương pháp, chứ không phải bằng sự tuân thủ không hoài nghi, sự phục tùng tiêu cực, và sự đi theo mù quáng. Mong sao điều này không bị lãng quên. Nếu có bất kỳ mệnh lệnh nào có thể từng phát ra từ nhóm các huấn sư nội môn, mà Tôi là một thành viên khiêm tốn trong đó, hãy mặc kệ nó để tuân theo tiếng gọi của chính linh hồn bạn và sự nhắc nhở của Chân Ngã của bạn.
Trước khi chúng ta tiếp tục với việc phân tích Qui Luật này và Qui Luật trước, vì Qui Luật II và III là hai nửa của một tổng thể, Tôi muốn nhắc nhở bạn rằng, trong chuỗi các sự tham thiền dựa vào các thể thức cổ xưa này, chúng ta đề cập đến hoạt động về huyền thuật của người tìm đạo như một người đồng cộng tác trong các công trình của Đại Bạch Giai (Great White Lodge). Chúng ta đang bàn đến các phương pháp của huyền linh thuật (white magic). Đồng thời hãy để Tôi nhắc nhở bạn rằng công tác huyền thuật của Thánh Đoàn hành tinh của chúng ta gồm có việc chăm sóc phần tâm linh (psyche) trong thế giới sắc tướng, để đóa hoa đang khai mở của linh hồn có thể được nuôi dưỡng và được thúc đẩy theo cách thức sao cho sự rạng rỡ huy hoàng, từ lực và (cuối cùng) năng lượng tinh thần có thể được biểu hiện qua trung gian của hình tướng. Nhờ đó, quyền lực của ba Cung (Rays) của Sự Biểu Lộ thiêng liêng có thể được nhìn thấy.
Cung Một ......... Năng Lượng Tinh Thần (Spiritual Energy)
Cung Hai ......... Từ Lực (Magnetic Force)
Cung Ba ........... Sự Vinh Quang Rực Rỡ (Radiant Glory)
Các cung này cũng tìm thấy các hình ảnh tiểu thiên địa của chúng trong hào quang của con người hoàn thiện.
Cung Một ... Chân Thần .. Năng lượng tinh thần .... Bí huyệt đầu
Cung Hai .... Chân Ngã ... Từ Lực ............................. Bí huyệt tim
Cung Ba ....... Phàm ngã .... Vinh Quang rực rỡ ......... Bí huyệt đan điền
Bạn hỏi: tại sao Tôi không nói đến bí huyệt cổ họng? Bởi vì các bí huyệt dưới cơ hoành chủ yếu tượng trưng cho phàm ngã, và trong bí huyệt tổng hợp của chúng, tức bí huyệt đan điền, thể hiện từ lực của khía cạnh vật chất trong con người.
105 Bí huyệt cổ họng được cuốn vào hoạt động sáng tạo ngày càng nhiều khi phàm ngã rung động theo với linh hồn.
Bây giờ chúng ta cùng nhau xem xét các lời lẽ ở cuối của qui luật trước đó: “Ánh sáng thấp được ném lên và ánh sáng vĩ đại hơn chiếu sáng bộ ba; công việc của bốn tiếp tục”.
Ánh sáng thấp hơn này là gì? Đạo sinh nên nhớ rằng đối với mục đích hiện tại, y có ba thể ánh sáng cần xem xét:
− thể rực rỡ của chính linh hồn, được tìm thấy trên cõi riêng của nó, và thường được gọi là Karana Sarira hoặc thể nguyên nhân (causal body).
thể sinh lực hay thể dĩ thái, tức vận thể của prana, vốn là thể có ánh sáng vàng kim, hay đúng hơn là vận thể có màu của lửa.
− thể của “ánh sáng tối” (“dark light”), đó là cách huyền bí để ám chỉ đến ánh sáng ẩn tàng của thể xác, và nói đến ánh sáng tiềm tàng trong chính nguyên tử.
Ba loại năng lượng này được nhắc đến trong Cổ Luận dưới các thuật ngữ tượng trưng sau đây:
“Khi ánh sáng rạng ngời của Thái Dương Thiên Thần (Solar Angel) được hợp nhất với ánh sáng vàng kim của tác nhân trung gian vũ trụ, nó đánh thức luồng sáng anu, tức nguyên tử nguyên thủy (speck), ra khỏi bóng tối!”.
“Tác nhân trung gian vũ trụ” (“cosmic intermediary”) là một thuật ngữ được dành cho thể dĩ thái (etheric body), vốn là một phần và mảnh nhỏ của dĩ thái vũ trụ. Chính thông qua thể dĩ thái mà mọi năng lượng đang tuôn chảy, cho dù năng lượng đó xuất phát từ linh hồn, hoặc từ mặt trời, hoặc từ một hành tinh. Mọi sự giao tiếp đi dọc theo những đường sinh động đó của tinh chất lửa, các sự giao tiếp đó đặc biệt không bắt nguồn từ thế giới hữu hình.
Ánh sáng tối của các nguyên tử cực nhỏ mà thể hồng trần được tạo ra từ chúng, đáp ứng với sự kích thích từ linh hồn đi xuống vào vận thể của nó, và khi con người ở dưới sự kiểm soát của linh hồn, đưa tới kết quả là sự tỏa chiếu ánh
106 sáng khắp cơ thể. Điều này thể hiện dưới hình thức là sự chói sáng, phát ra từ cơ thể của các adepts và các vị thánh, gây ra hiệu quả là có ánh sáng tỏa chiếu rực rỡ.
Khi ánh sáng rực rỡ của linh hồn được phối hợp với ánh sáng từ khí của thể sinh lực, nó kích thích các nguyên tử của thể xác đến một mức độ mà mỗi nguyên tử lần lượt trở thành một trung tâm bức xạ nhỏ. Điều này chỉ có thể xảy ra khi bí huyệt đầu, tim, đan điền và bí huyệt ở đáy cột sống được liên kết theo một cách đặc biệt, vốn là một trong những bí mật của cuộc điểm đạo thứ nhất. Khi bốn bí huyệt này ở trong sự hợp tác mật thiết thì “đáy hình tam giác”, như nó được gọi một cách biểu tượng, được sẵn sàng cho công tác huyền thuật.
Nói cách khác − các điều này có thể được liệt kê như sau:
a/ Hình hài vật chất cõi trần với bí huyệt ở đáy cột sống của nó.
b/ Thể sinh lực tác động thông qua bí huyệt tim, nơi mà nguyên khí sự sống có trú sở của nó. Các hoạt động của cơ thể, nhờ sự kích thích này, được xúc tiến thông qua sự lưu thông của máu.
c/ Thể tình cảm, hoạt động thông qua bí huyệt đan điền.
d/ Bí huyệt đầu, tức tác nhân trực tiếp của linh hồn, và tác nhân thể hiện của nó, tức thể trí. Bốn bí huyệt này phải ở trong sự hòa hợp (accord) và chỉnh hợp (alignement) hoàn toàn.
Khi trường hợp này xảy ra, công việc điểm đạo và các thời gian chuyển tiếp (interludes) của tình trạng đệ tử tích cực của nó mới có thể xảy ra. Trước thời điểm này công việc không thể tiến hành. Điều này được báo trước cho người tìm đạo khi một biến cố tượng trưng được đưa ra nơi ánh sáng trong đầu, vốn là điềm báo hiệu của giai đoạn điểm đạo sau đó.
Trong giai đoạn này, ánh sáng linh hồn thâm nhập vào khu vực của tuyến tùng quả, ở đó nó tạo ra một sự tỏa sáng của các chất dĩ thái của đầu, của các sinh khí (vital airs); điều này tạo ra một sự kích thích các nguyên tử của não bộ, để cho
107 ánh sáng của chúng được hợp nhất và phối hợp với hai ánh sáng kia, là ánh sáng dĩ tháiánh sáng linh hồn, và rồi mặt trời rực rỡ nội tại được tạo ra ở đó. Môn sinh bắt đầu ý thức về mặt trời này trong kinh nghiệm của bộ não vật chất của y. Thường thì các môn sinh nói đến một ánh sáng khuếch tán hay ánh sáng dịu, đây là ánh sáng của các nguyên tử cõi trần cấu tạo nên não bộ; sau đó, họ có thể nói về việc nhìn thấy cái gì đó có vẻ giống như một mặt trời trong đầu. Đây là sự tiếp xúc của ánh sáng dĩ thái, cùng với ánh sáng nguyên tử cõi trần. Sau này, họ bắt đầu biết đến ánh sáng điện khí vô cùng rực rỡ; đây là ánh sáng linh hồn, cộng với ánh sáng dĩ tháiánh sáng nguyên tử. Khi ánh sáng đó được nhìn thấy, họ thường bắt đầu ý thức được một trung tâm tối bên trong mặt trời tỏa sáng. Đây là lối vào Thánh Đạo được tiết lộ bởi sự “tỏa chiếu của ánh sáng trên cửa vào (door)”.
Môn sinh phải nhớ rằng mình có thể đã đạt đến một giai đoạn cao về ý thức tâm linh mà không nhìn thấy sự phóng quang này của não bộ chút nào cả. Điều này hoàn toàn ở trong bản chất của hiện tượng, và được quyết định phần lớn bởi tính chất của thể xác, bởi nghiệp quả và sự thành tựu trong quá khứ, và bởi khả năng của người tìm đạo để đưa “thần lực từ trên cao” xuống, và để giữ năng lượng đó ổn định trong trung tâm não, trong khi bản thân người tìm đạo, trong lúc thiền định được tách ra khỏi khía cạnh sắc tướng, và có thể bình thản xem xét nó.
Khi điều này đã được hoàn thành (và đó không phải là một mục tiêu cần được nhắm vào, nhưng chỉ là một dấu hiệu được ghi nhận trong ý thức và sau đó được gạt bỏ) sự kích thích tất nhiên tạo ra một phản ứng của thể xác. Từ lực của ánh sáng trong đầu, và mãnh lực tỏa chiếu của linh hồn, tạo ra sự kích hoạt (stimulation). Các bí huyệt bắt đầu rung động, và sự rung động của chúng đánh thức các nguyên tử của thể vật chất, cho đến khi cuối cùng các mãnh lực của thể dĩ-thái đang rung động đã chuyển biến ngay cả những bí huyệt thấp nhất theo đường lối với bí huyệt cao nhất. Vì vậy, các lửa của cơ thể (toàn thể năng lượng của các nguyên tử) được đưa vào
108 hoạt động ngày càng tăng, cho đến khi có sự đi lên cột sống của năng lượng lửa đó. Điều này được gây ra bởi sự kiểm soát từ lực của linh hồn, ngự ở “trên ngai giữa hai lông mày”.
Ngay tại đây bắt đầu công việc của một trong những phương tiện của yoga, đó là sự trừu xuất hoặc sự triệt thoái (abstraction or withdrawal). Nơi nào có ba ánh sáng được phối hợp, nơi đó các bí huyệt được kích hoạt và các nguyên tử cũng đang rung động, con người có thể tập trung tất cả ba loại ánh sáng vào trong đầu theo ý muốn. Kế đó, bằng tác động của ý chí và sự hiểu biết về một số Quyền Lực Từ, y có thể nhập vào trạng thái đại định, và được triệt thoái ra khỏi thể xác của y, mang ánh sáng theo với y. Theo cách này, ánh sáng lớn (cả ba ánh sáng được hợp nhất và phối trộn) chiếu sáng ba cõi của những nỗ lực của con người và “ánh sáng được ném lên” và soi sáng tất cả các lĩnh vực kinh nghiệm hữu thức và vô thức của con người. Điều này được nói đến trong các tác phẩm huyền linh học của các Chân Sư trong những lời này:
“Sau đó, Con Bò Đực (Bull) của Thượng Đế mang ánh sáng trong trán và mắt của y truyền đi sự rực rỡ ( ); đầu của y, với mãnh lực thu hút (magnetic force), giống như mặt trời sáng chói, và từ hoa sen của đầu, con đường ánh sáng ló ra. Nó nhập vào Đấng Vĩ Đại (Greater Being), tạo ra một ngọn lửa sinh động. Con Bò Đực của Thượng Đế nhìn thấy Thái Dương Thiên Thần, và biết Thiên Thần đó là ánh sáng mà y bước đi trong đó”.
Sau đó công việc của bộ bốn tiếp diễn. Cả bốn nhất quán với nhau (the four are at-one). Thái Dương Thiên Thần được đồng nhất hóa với khí cụ của ngài; sự sống của các lớp vỏ (sheaths) phụ thuộc vào sự sống của thiên tính bên trong; ánh sáng của các lớp vỏ được hợp nhất với ánh sáng của linh hồn. Bí huyệt đầu, tim, và đáy xương sống được chỉnh hợp theo dạng hình học, và một vài phát triển sau đó có thể xảy ra.
Trong hai qui luật này, nền tảng của công tác huyền thuật của linh hồn đã được đặt ra. Để minh giải, chúng ta hãy liệt kê các bước:
1. Thái Dương Thiên Thần bắt đầu công việc khai mở Phàm Ngã.
109 2. Ngài triệt thoái các lực của mình ra khỏi các hoạt động của linh hồn trong Giới Tinh Thần, và tập trung sự chú ý của ngài vào công việc phải làm.
3. Ngài nhập vào sự thiền định thâm sâu.
4. Mối quan hệ từ lực với khí cụ trong ba cõi thấp được thiết lập.
5. Khí cụ, tức con người, đáp ứng lại và cũng nhập vào trạng thái thiền định.
6. Công việc tiến hành theo các giai đoạn đã định và với sự hoạt động theo chu kỳ.
7. Ánh sáng của linh hồn được đưa xuống dưới.
8. Ánh sáng của thể sinh lựcthể xác được đồng bộ với ánh sáng trong đầu.
9. Các bí huyệt chuyển vào trạng thái hoạt động.
10. Ánh sáng của linh hồn và hai trạng thái ánh sáng kia mạnh mẽ đến nỗi giờ đây tất cả sự sống trong ba cõi thấp đều được chiếu sáng.
11. Sự chỉnh hợp được tạo ra, công việc của tình trạng đệ tử và của điểm đạo bắt đầu có thể xảy ra và tiến hành theo Luật Hiện Tồn.
CÁC NGUYÊN LÝ VÀ CÁC PHÀM NGÃ
Tuy nhiên, có một điểm đáng xem xét và có thể được tiếp cận dưới hình thức một câu hỏi. Môn sinh có thể tìm hiểu kỹ vấn đề này như sau:
“Một số người tiếp cận với vấn đề Hiện Tồn qua sự hiểu biết thuộc về trí tuệ, những người khác qua sự hiểu biết thuộc về tim, một số người được thúc đẩy qua đầu, và những người khác nữa qua tim; một số người làm những việc hoặc tránh làm những việc đó vì họ hiểu biết, hơn là cảm nhận; một số người phản ứng với môi trường xung quanh có tính trí tuệ hơn là tình cảm.
“Điểm mà dựa vào đó để tìm kiếm sự giác ngộ có phải là con đường mà đối với một số người không phải là để phụng sự bởi vì họ hiểu biết hơn là vì kính yêu Thượng Đế, Đấng mà sau rốt chỉ là những bản ngã sâu kín nhất của họ.
110 Phải chăng đây không phải là con đường của nhà huyền linh học và của nhà hiền triết, hơn là nhà thần bí và vị thánh? Khi tất cả được nói và làm, trước nhất, có phải đó không phải là một vấn đề của cung một, vốn đang diễn ra, và Chân Sư, mà người ta theo Ngài là để học nghề, hay sao? Có phải kiến thức chân thực không phải là một dạng tình thương có tính trí tuệ hay không? Nếu một nhà thơ có thể viết một bài thơ ca tụng vẻ đẹp thuộc về trí tuệ, thì tại sao chúng ta không thể bày tỏ sự đánh giá cao về một sự hợp nhất, vốn được quan niệm thuộc về đầu hơn là thuộc về tim? Tim (hearts) thì khá đủ theo cách của chúng, nhưng chúng lại không thích hợp với cách dùng thô thiển của thế gian.
“Có phải người ta có thể thực hiện việc gì đó trừ việc chấp nhận sự hạn chế hiện tại của y, trong khi tìm kiếm sự siêu việt như là của y bằng Định Luật Thiêng Liêng về sự tiến hóa hay chăng? Có phải là không có một việc (bằng cách so sánh) như là một phức cảm tự ti (inferiority complex) tinh thần về phía của những người nhạy cảm (và có lẽ là quá nhạy cảm) về sự thực là trong khi các kiếp sống của họ thì thừa mứa sự thích thú có tính cách trí tuệ, còn sự hoang vắng của tâm họ vẫn chưa được làm cho trổ hoa giống như hoa hồng?
“Nói cách khác, miễn là một người thường lui tới nơi chốn được ấn định của y, và phụng sự ở đó trong sự thừa nhận của y về Tình Huynh Đệ (Brotherhood) trong Sự Có Mặt của Cương Vị Cha (Presence of Fatherhood), thì điều đó có tạo ra sự dị biệt nào về việc định đề cơ bản đồng ý với y rằng một sự việc thuộc về đầu hơn là thuộc về tim?” Tôi sẽ trả lời câu hỏi đó như sau:
Đó không phải là một câu hỏi về cung (ray) hoặc thậm chí về sự dị biệt cơ bản giữa nhà huyền linh với nhà thần bí. Trong cá nhân phát triển đầy đủ, cả đầu và tim phải hoạt động với sức mạnh như nhau. Tuy nhiên, trong thời giankhông gian, và trong diễn-trình tiến-hóa, các cá nhân được nhận ra bởi một xu hướng chiếm ưu thế trong một kiếp sống nào đó, đó chỉ là vì chúng ta không nhìn thấy toàn bộ bức tranh mà chúng ta vẽ những dị biệt tạm thời này. Trong một kiếp sống, một người có thể vượt trội về trí tuệ (mental), và đối với y con đường Bác Ái của Thượng Đế sẽ là không phù hợp. Lòng Bác Ái của Thượng Đế được tỏa lan ra trong trái tim của y và đến một mức độ đáng kể thì sự tiếp cận huyền bí của y được dựa trên sự nhận thức thần bí về các kiếp sống đã qua. Đối với y, vấn đề là hiểu biết Thượng Đế, với quan niệm
111 làm sáng tỏ tri thức đó trong tình yêu đối với mọi người. Tình yêu thương có trách nhiệm, được thể hiện trong bổn phận đối với tập thể và gia đình, do đó đối với y là cách làm dễ nhất. Tình yêu thương đại đồng tỏa ra đến mọi bản thể, và mọi hình thái của sự sống, sẽ tiếp theo sau một sự hiểu biết được phát triển hơn về Thượng Đế, nhưng điều này sẽ là một phần của sự phát triển của y trong một kiếp sống khác.
Các đạo sinh thuộc bản thể nhân loại (và mọi người tìm đạo đều như thế) cần nhớ kỹ rằng có các dị biệt tạm thời. Con người khác nhau ở các điểm:
a/ Cung (ray) vốn tác động chủ yếu đến từ lực của cuộc sống.
b/ Cách tiếp cận với chân lý, hoặc con đường huyền bí, hoặc con đường thần bí có sức lôi cuốn mạnh mẽ hơn.
c/ Sự an trụ, quyết định mục đích về tình cảm, về trí tuệ hoặc vật chất của một kiếp sống.
d/ Tình trạng (status) trong sự tiến hóa, dẫn đến những sự khác nhau được trông thấy giữa những con người.
e/ Cung chiêm tinh, quyết định xu hướng của một kiếp sống đặc biệt nào đó.
f/ Chủng tộc, đưa phàm ngã vào dưới ảnh hưởng của hình tư tưởng của chủng tộc đặc thù.
Cung phụ mà một người ở trên đó, cung thứ yếu đó thay đổi từ lần luân hồi này đến lần luân hồi khác, phần lớn cung cấp cho y sắc thái của y cho kiếp sống hiện tại. Đó là sắc thái phụ của y. Đừng quên rằng, cung nguyên thủy của Chân Thần duy trì qua vô lượng thời (aeon). Nó không thay đổi. Đó là một trong ba cung nguyên thủy, vốn cuối cùng tổng hợp các con của nhân loại. Cung Chân Ngã thay đổi từ cuộc tuần hoàn này đến cuộc tuần hoàn khác, và trong các linh hồn tiến hóa hơn thì từ giống dân này đến giống dân khác, và bao gồm một trong năm cung của cơ tiến hóa hiện tại của chúng ta. Đó là cung chiếm ưu thế mà thể nguyên nhân của con người đang rung động theo. Nó có thể tương ứng với cung Chân Thần, hoặc nó có thể là một trong những màu sắc bổ sung cho cung nguyên thủy. Cung của phàm ngã thay đổi
112 từ kiếp sống này sang kiếp sống khác, cho đến khi toàn bộ (gamut) bảy cung phụ của cung Chân Thần đã được trải qua.
Vì vậy, khi đề cập đến những người mà Chân Thần của họ đang ở trên một cung tương tự hoặc cung bổ sung, người ta sẽ nhận thấy rằng họ đến gần nhau một cách đồng cảm. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng quá trình phát triển phải được thúc đẩy rất nhiều đối với cung Chân Thần để gây ảnh hưởng rộng khắp. Vì vậy, phần lớn các trường hợp không ở trong phạm trù này.
Với những người tiến hóa trung bình, họ đang phấn đấu làm cho mình gần giống với lý tưởng, sự giống nhau của các cung Chân Ngã sẽ tạo ra sự hiểu biết lẫn nhau, và tình bạn theo sau. Thật dễ dàng cho hai người ở trên cùng cung Chân Ngã hiểu quan điểm của nhau, và họ trở thành người bạn thân thiết với niềm tin vào nhau không lay chuyển, vì mỗi người nhận ra người kia đang hành động như chính họ sẽ hành động.
Nhưng khi (thêm vào sự tương tự của cung Chân Ngã), bạn lại có cùng cung phàm ngã, lúc bấy giờ bạn có một trong những điều hiếm có là một tình bạn hoàn hảo, một cuộc hôn nhân thành công, một liên kết không thể phá vỡ giữa hai người. Điều này thực sự hiếm có.
Khi bạn có hai người cùng ở trên cung phàm ngã nhưng có cung Chân Ngã không giống nhau, bạn có thể có những tình bạn và những mối quan hệ ngắn ngủi và đột ngột, chúng có tính cách mau tàn tạ cũng như một con bướm. Những điều này cần được ghi nhớ và việc nhận thức về chúng đưa đến khả năng thích nghi. Tầm nhìn rõ ràng đưa đến một thái độ thận trọng.
Một nguyên nhân nữa của sự dị biệt có thể là do sự an trụ (polarization) của các thể. Trừ phi sự dị biệt này cũng gặp phải việc nhận thức khi giao du với những người thiếu hiểu biết gây ra. Khi bạn sử dụng thuật ngữ : “một người an trụ trong thể cảm dục của y” – bạn thực sự muốn nói là một người mà Chân Ngã của y hoạt động chủ yếu qua vận thể đó. Tính chất an trụ (polarity) chỉ ra sự thông suốt của vận hà.
113 Hãy để Tôi minh họa. Chân Ngã của người trung bình có trú sở của nó trên cõi phụ thứ ba của cõi trí. Nếu một người có vận thể cảm dục (astral vehicle) phần lớn được cấu tạo bằng chất cảm dục của cõi phụ thứ ba, và một vận thể trí tuệ (mental vehicle) hầu hết ở trên cõi phụ thứ năm, Chân Ngã sẽ tập trung nỗ lực của mình trên thể cảm dục. Nếu anh ta có một thể tríchất liệu (matter) thuộc cõi phụ thứ tư và một thể cảm dục có chất liệu thuộc cõi phụ thứ năm, sự an trụ sẽ là trên thể trí.
Khi bạn nói về ego (Chân Ngã) đang kiểm soát một người nhiều hoặc ít, bạn thực sự muốn nói rằng người ấy đã kiến tạo vào các thể của y chất liệu thuộc các cõi phụ cao nhiều hoặc ít.
Ego nắm quyền kiểm soát một cách đáng kể chỉ khi con người đã gần như hoàn toàn loại bỏ chất liệu của các cõi phụ thứ bảy, thứ sáu, thứ năm ra khỏi các vận thể của mình. Khi y đã đưa vào một tỷ lệ nào đó chất liệu (matter) của cõi phụ thứ tư thì Chân ngã mở rộng kiểm soát của mình, khi có một tỷ lệ nhất định chất liệu của cõi phụ thứ ba, bấy giờ con người ở trên Thánh Đạo (Path); khi chất liệu thuộc cõi phụ thứ hai chiếm ưu thế, lúc đó, y được điểm đạo, và khi chỉ có chất liệu nguyên tử, y trở thành Chân Sư (Master). Do đó, cõi phụ mà một người đang ở trên đó rất quan trọng, và việc nhận biết sự an trụ của y làm sáng tỏ kiếp sống.
Điều thứ ba mà bạn cần phải ghi nhớ là ngay cả khi hai điểm này được thừa nhận, tuổi kinh nghiệm của linh hồn thường gây nên sự thiếu hiểu biết. Hai điểm nói trên không mang chúng ta đi rất xa, vì khả năng ý thức cung của một người, cho đến nay không dành cho giống dân này. Việc ước đoán gần đúng và việc vận dụng trực giác là tất cả những gì mà hiện giờ có thể làm được. Người ít tiến hóa không thể hiểu hoàn toàn người tiến hóa nhiều, và trong một mức độ nhỏ hơn, Chân Ngã tiến bộ cũng không hiểu được một điểm đạo đồ. Cái lớn hơn có thể hiểu được cái nhỏ, còn trường hợp ngược lại không xảy ra.
Liên quan đến hành động của những người có mức độ thành đạt phần lớn vượt qua mức thành đạt của chính bạn, tôi chỉ có thể yêu cầu bạn làm ba việc:
114 a/ Hãy thủ tiêu sự chỉ trích. Tầm nhìn của họ rộng lớn hơn. Đừng quên rằng một trong những phẩm chất lớn nhất mà các thành viên của Thánh Đoàn (Lodge) đã đạt được là khả năng của các Ngài xem sự hủy diệt của hình tướng là không quan trọng. Mối quan tâm của các Ngài là đến sự sống đang phát triển.
b/ Nhận thức rằng mọi biến cố được gây ra bởi các Huynh Trưởng với một mục đích khôn ngoan được dự kiến. Các điểm đạo đồ cấp thấp hơn, mặc dù là các nhân viên hoàn toàn tự do, hành động ăn khớp với các kế hoạch của những vị cấp trên của họ, cũng như bạn hành động theo cách thấp hơn của bạn. Họ có những bài học cần học của họ, và qui luật học tập là tất cả mọi kinh nghiệm đều phải được mua. Sự hiểu biết có được nhờ sự trừng phạt đi theo sau một hành động bị phán đoán sai. Những vị cấp trên của họ sẵn sàng hành động để sử dụng có hiệu quả các tình huống đã bị gây ra bởi các sai lầm của những người cấp thấp trong trình độ phát triển. c/ Cũng nên nhớ rằng Luật Luân Hồi che giấu cái bí mật của cuộc khủng hoảng hiện nay. Các nhóm Chân Ngã đến cùng với nhau để trang trải một số Karma nào đó có liên quan trong thời gian qua. Con người đã sai lầm nghiêm trọng trong quá khứ. Sự trừng phạt và sự chuyển hóa là cách giải quyết của thiên nhiên. Bạo lực và sự tàn ác trong quá khứ sẽ gặt hái nghiệp quả nặng nề của nó, nhưng hiện nay điều đó đang nằm trong tay của tất cả các bạn để chuyển hóa những lỗi lầm cũ.
Cũng phải ghi nhớ rằng các nguyên lý (principles) thì vĩnh cửu, còn các phàm ngã (personalities) thì tạm thời. Các nguyên lý đều được xem xét trong ánh sáng của sự vĩnh cửu (eternity); còn các phàm ngã thì theo quan điểm của thời gian. Sự rắc rối là, trong nhiều tình huống, hai nguyên lý được bao hàm mà một trong số đó là thứ yếu. Sự khó khăn nằm ở sự kiện là (cả hai đều là nguyên lý) cả hai đều đúng. Chính một qui luật (rule) cho sự hướng dẫn an toàn là luôn luôn ghi nhớ rằng các nguyên lý cơ bản thông thường (để hiểu chúng một cách thông thạo và thực hiện chúng có hiệu quả) đòi hỏi sự tác động của trực giác, trong khi các nguyên lý thứ yếu thì thuần trí tuệ (mental) hơn. Do đó các phương pháp tất nhiên phải khác nhau. Khi nắm vững các nguyên lý cơ bản, thì các
115 phương pháp khôn ngoan nhất là sự im lặng và một sự tin tưởng hân hoan rằng Thiên Luật (Law) đang tác động, việc tránh mọi lời bóng gió thuộc về phàm ngã, ngoại trừ lời nhận xét khôn ngoan và đượm tình thương, và một quyết tâm xem xét mọi việc trong ánh sáng của vĩnh cửu chứ không phải trong ánh sáng của thời gian, được kết hợp với một nỗ lực liên tục để tuân theo luật bác ái, và chỉ thấy thiên tính trong các huynh đệ của bạn, dù đang ở một phía đối nghịch.
Trong các nguyên lý thứ yếu mà mọi mãnh lực đối kháng đang nổi bật lên lúc này, việc sử dụng hạ trí bao hàm sự nguy hiểm của tính chỉ trích, việc sử dụng các phương pháp được tán thành đôi lúc trong ba cõi thấp – các phương pháp liên quan đến việc tấn công cá nhân, lời công kích và sự tiêu phí sức lực theo các đường lối phá hoại, và một tinh thần trái với thiên luật của cõi hợp nhất. Thuật ngữ “các mãnh lực đối kháng” (“opposing forces”) được dùng chính xác nếu bạn sử dụng nó chỉ theo một ý nghĩa khoa học, và hàm ý cực trái ngược dẫn đến trạng thái cân bằng. Do đó, nên nhớ rằng các nhóm đối kháng có thể hoàn toàn chân thành, nhưng trí cụ thể (hạ trí) hoạt động trong chúng như là một rào cản đối với tác động tự do của tầm nhìn cao siêu. Sự chân thành của chúng thì to tát, nhưng mức thành tựu của chúng theo một số đường lối ít hơn mức thành tựu của những người tuân thủ các nguyên lý cơ bản, được nhìn thấy dưới ánh sáng của trực giác.
Một nguyên lý là những gì tiêu biểu cho một khía cạnh nào đó của chân lý mà thái dương hệ của chúng ta được căn cứ vào đó; đó là sự thấm qua đến tâm thức của con người về một ít ý tưởng mà tất cả những gì mà Thượng Đế của chúng ta làm đều dựa vào đó. Cơ sở của mọi hành động của Thượng Đếtình thương đang linh hoạt, và ý tưởng cơ bản mà hành động của Ngài dựa vào đó, được liên kết với Huyền Giai nhân loại, là quyền năng bác ái để thúc đẩy tiến tới – hãy gọi nó là sự tiến hóa, nếu bạn thích, hãy gọi nó là sự thôi thúc vốn có, nếu bạn thích như thế hơn, nhưng chính bác ái gây ra sự vận động và thúc giục tiến tới sự hoàn thành. Đó là sự lôi cuốn con người và vạn vật đến sự biểu lộ hơn nữa. Do đó, nguyên lý này sẽ làm nền tảng cho mọi hoạt động, và việc quản lý các tổ chức nhỏ hơn, nếu được dựa trên tình thương dẫn dắt sự hoạt động, sẽ dẫn đến một sự thôi thúc thiêng liêng trong tất cả các thành viên của nó, tiếp tục lôi cuốn chúng tương tự như vậy đến sự biểu lộ đầy đủ nhất, và do đó
116 hướng tới sự hoàn thành đầy đủ hơn và sự nỗ lực thỏa đáng hơn.
Một nguyên lý, khi thực sự có tính chất cơ bản, sẽ tức khắc hấp dẫn trực giác và kêu gọi một phản ứng đồng thuận ngay lập tức từ Chân Ngã của con người. Nó ít hoặc không lôi cuốn phàm ngã. Nó tiêu biểu cho một quan niệm của Chân Ngã (ego) trong mối quan hệ của Chân Ngã với những người khác. Một nguyên lý là cái luôn luôn chi phối hoạt động của Chân Ngã trên cõi riêng của nó, và chỉ khi chúng ta chịu sự hướng dẫn ngày càng nhiều hơn của Chân Ngã thì phàm ngã của chúng ta mới hình dung ra, và đáp ứng với những ý tưởng này. Đây là một điểm cần được ghi nhớ kỹ trong tất cả các ứng xử với những người khác và nên sửa đổi các cách đánh giá. Việc hiểu rõ một nguyên lý chứng tỏ chính xác một trình độ trong tiến hóa.
Một nguyên lý là chủ thể phú linh hồn (ensouls) cho một phát biểu đề cập đến điều thiện hảo cao cả nhất có số lượng lớn nhất. Việc một người nên yêu thương vợ mình là một phát biểu về một nguyên lý chi phối phàm ngã, nhưng sau đó nó phải được chuyển đổi thành nguyên lý lớn hơn, đó là một người phải yêu thương đồng loại của mình. Các nguyên lý có ba loại và nguyên lý cao hơn phải được đạt đến thông qua nguyên lý thấp hơn:
a. Các nguyên lý chi phối phàm ngã (lower personal self) đề cập đến các hành động, hoặc đời sống tích cực của phàm ngã đó. Chúng tiêu biểu cho ngôi thứ ba, hay trạng thái hoạt động của Thượng Đế biểu lộ, và tạo thành cơ sở của sự tiến bộ sau này. Chúng kiểm soát con người trong trạng thái kém phát triển của y, và trong giai đoạn tư tưởng nông cạn (thoughtlessness), và có thể được hiểu dễ dàng hơn nếu Tôi nói rằng chúng được thể hiện trong các qui tắc thường được chấp nhận của đời sống khuôn mẫu. Ngươi không nên giết hại, ngươi không nên trộm cắp, có liên quan đến đời sống tích cực của một người, với việc tạo dựng nên tính cách.
b. Các nguyên lý chi phối Chân Ngã (higher Self) và giao tiếp với trạng thái bác ái hay minh triết. Chính là với những nguyên lý này mà hiện giờ chúng ta quan tâm, và một
117 nửa các rắc rối trong thế giới hiện nay nảy sinh từ sự kiện là những người bình thường của nhân loại chỉ mới bắt đầu hiểu những nguyên lý cao cả này, có liên quan với bác ái hay minh triết trong tất cả sự viên mãn của chúng. Trong việc lĩnh hội nhanh chóng về tính đúng thực của chúng và cố gắng để làm cho chúng thành những sự thực, mà không làm cho hoàn cảnh sống thích nghi trước với những lý tưởng này, sẽ xảy ra sự va chạm và xung đột thường xuyên giữa những người được thúc đẩy bởi các nguyên lý chi phối phàm ngã, và những người được thúc đẩy bởi những nguyên lý chi phối Chân Ngã. Hiện nay thì cuộc xung đột này là tất nhiên và không thể tránh được, cho đến khi có nhiều người hơn trong nhân loại được cai quản bởi ý thức linh hồn. Khi cõi tình cảm bị chế ngự bởi cõi trực giác, lúc bấy giờ sự hiểu biết sẽ trở nên phổ biến.
Tập hợp các nguyên lý đầu tiên được con người học hỏi thông qua sự thấu hiểu, và tai họa theo sau là bắt nguồn từ sự chiếm đoạt đó. Y đã ăn cắp, y chịu hình phạt và y đã không còn ăn cắp nữa. Nguyên lý đã được tác động vào y bởi sự đau khổ, và y đã học được rằng chỉ những gì thuộc về y một cách chính đáng chứ không phải bằng sự chiếm đoạt, thì y mới có thể hưởng nó. Thế giới hiện nay đang học bài học này theo nhóm, vì khi các nhà cách mạng của nó chiếm đoạt và nắm giữ một cách bất hợp pháp, họ nhận ra tài sản bị đánh cắp không đủ mà chỉ mang lại sự bất hạnh. Như thế sớm hay muộn họ sẽ học được các nguyên lý này.
Tập hợp các nguyên lý thứ hai được học thông qua sự từ bỏ và phụng sự. Một người quay mặt đi (nhờ đã học các nguyên lý đầu tiên) trước những vật thuộc về phàm ngã, và trong khi phụng sự, y học được quyền năng của bác ái theo ý nghĩa huyền bí của nó. Y bỏ ra và do đó thu nhận lại; y sống cuộc đời từ bỏ và của cải của các cõi trời đổ dồn lên y; y hiến dâng tất cả và lại có đầy đủ hoàn toàn, y không đòi hỏi gì cho bản thân và là người giàu nhất trên trần gian.
Các nguyên lý thứ nhất đề cập đến đơn vị được phân hóa, và với sự tiến hóa thông qua tính không đồng nhất. Các nguyên lý mà nhân loại đang học hiện nay có liên quan với
118 các tập thể; câu hỏi không phải là “Điều gì sẽ là tốt nhất cho con người?” mà là “Điều gì sẽ là tốt nhất cho quần chúng?” và chỉ những người có thể tư duy với quan điểm quần chúng như một, mới có thể trình bày những nguyên lý này một cách thỏa đáng. Chúng là những nguyên lý quan trọng nhất, vì chúng là những nguyên lý cơ bản của thái dương hệ bác ái này. Rắc rối ngày nay là con người đang lúng túng. Một số nguyên lý đầu tiên, các nguyên tắc cơ bản của hoạt động thấp hiện nay ăn sâu và có sẵn, và một vài trong số các nguyên lý thuộc về Chân Ngã hoặc bác ái đang thấm vào trong các bộ não hoang mang của họ, gây ra sự xung đột ý tưởng rõ ràng và tạm thời. Do đó, giống như Pilate (? 26 - ? 36, sau T.C, người ra lệnh đóng đinh Chúa vào Thập giá − ND), họ nói: “Chân lý là gì?” Nếu họ sẽ chỉ nhớ rằng các nguyên lý cao đề cập đến phúc lợi của tập thể, còn các nguyên lý thấp đề cập đến lợi ích của cá nhân, thì có thể sự sáng tỏ sẽ đến. Hoạt động thấp của cuộc sống cá nhân, bất kể tốt lành hay xứng đáng như thế nào đi nữa, cuối cùng phải được vượt qua bởi sự sống bác ái cao siêu, sự sống này mưu tìm cái thiện hảo của tập thể chứ không phải của đơn vị.
Tất cả những gì hướng đến sự tổng hợp và sự biểu lộ thiêng liêng trong các tập hợp của các đơn vị đang đến gần hơn với lý tưởng, và gần giống với các nguyên lý cao siêu. Trong việc nghĩ ra các ý tưởng này, có thể đưa đến một sự giúp ích nào đó. Bạn có một minh họa trong thực tế về điều mà Tôi nói rằng, nhiều cuộc đấu tranh nổi lên trong các tổ chức đều được dựa trên sự kiện là một số người xứng đáng đi theo các phàm ngã, hy sinh bản thân họ cho một nguyên lý, đúng vậy, nhưng là một nguyên lý chi phối sự sống phàm ngã. Những người khác, lờ mờ thoáng thấy một cái gì đó cao hơn, và đang tìm kiếm lợi ích của các tập thể chứ không phải của một người, tình cờ gặp một nguyên lý cao hơn, và khi làm như vậy, họ mang vào sức mạnh của chân ngã. Họ đang làm việc cho những người khác, và đang nhắm vào việc trợ giúp cho nhóm của họ. Khi các Chân Ngã và các phàm ngã xung đột, chiến thắng của cái cao là chắc chắn; nguyên lý thấp phải nhường chỗ cho nguyên lý cao. Một người tập trung vào những gì đối với y dường như là có giá trị tối thượng, hoàn thành sự mong muốn của cuộc sống cá nhân,
119 và (ở giai đoạn này) chỉ quan tâm có tính cách thứ yếu đến lợi ích của đa số, mặc dù có thể có những lúc y nghĩ đó là mục đích chủ yếu của y. Người khác không lo lắng chút nào đến điều gì xảy ra cho bản ngãnhân (personal self), và chỉ quan tâm đến việc giúp đỡ cho quần chúng. Dùng một cách diễn tả thích hợp hơn, thì tóm lại là vấn đề thuộc về động cơ ích kỷ hoặc vị tha, và, như bạn đã biết, các động cơ thay đổi khi thời gian trôi nhanh qua, và con người đến gần mục tiêu là con đường dự bị.
c. Vẫn còn các nguyên lý cao hơn, đó là các nguyên lý được thấu hiểu bởi Tinh Thần (Spirit), và chỉ Chân-Thần-thức (monadic consciousness ) mới hiểu chúng một cách dễ dàng. Chỉ khi con người vượt quá sự sống cá nhân năng động của y, và thay thế bằng sự sống bác ái hoặc minh triết khi được dẫn dắt bởi chân ngã, thì y mới có thể bắt đầu hiểu được mục đích của sự sống bác ái đó, và biết nó với tính cách là quyền năng được thể hiện. Cũng như phàm ngã giao tiếp với các nguyên lý chi phối cuộc đời hoạt động của phàm ngã (lower self), còn Chân Ngã làm việc với định luật bác ái khi được thể hiện trong hoạt động tập thể, hoặc lòng bác ái tự thể hiện nó trong sự tổng hợp cái đa số thành thiểu số, vì thế, Chân Thần (Monad) giao tiếp với sự sống linh hoạt của bác ái, được chứng tỏ đang nắm quyền lực, thông qua sự tổng hợp của cái thiểu số (the few) thành cái duy nhất (the one).
Một loại nguyên lý giải quyết sự sống của con người trên cõi trần, hoặc trong ba cõi thấp, loại thứ hai giải quyết sự sống của con người trên các cõi nguyên nhân (causal levels), còn loại cuối cùng giải quyết sự sống của con người sau khi thành tựu mục tiêu của nỗ lực con người hiện nay. Một loại đối phó với các đơn vị, một loại khác đối phó với các tập thể, và loại cuối cùng đối phó với sự hợp nhất. Một loại xử lý sự biến phân ở điểm đa dạng nhất của nó, loại thứ hai xử lý số đông (the many) được chuyển thành các nhóm Chân Ngã, trong khi loại thứ ba nhìn thấy sự biến phân được chuyển trở lại thành bảy, đánh dấu sự thống nhất cho hệ cấp của con người.
Tất cả những yếu tố này và nhiều yếu tố khác nữa tạo ra các dị biệt giữa con người, và khi tự đánh giá chính mình, một người cần phải đưa chúng vào trong sự xem xét của mình.
Do đó, nên nhớ kỹ rằng một đệ tử của bất kỳ vị Chân Sư nào cũng sẽ có trang bị riêng biệt của mình, các tài sản cá
120 nhân và các khiếm khuyết của mình. Tuy nhiên y có thể vẫn tự tin rằng, cho đến khi con đường Tri Thức đã được gộp vào con đường Bác Ái, khi ấy y mới có thể nhận được các cuộc điểm đạo chính, vì các cuộc điểm đạo này được trải qua trên các phân cảnh cao của cõi trí. Cho đến khi con đường của ánh sáng được kết hợp với con đường của sự sống, thì lúc bấy giờ sự chuyển tiếp vĩ đại từ giới thứ tư sang giới thứ năm mới có thể xảy ra. Một số sự mở rộng tâm thức có thể xảy ra; các cuộc điểm đạo trên cõi cảm dụccõi hạ trí có thể được thực hiện, một số tầm nhìn rộng có thể được thấy, ý thức về Bản Lai Diện Mục (Presence) có thể được cảm nhận, Đấng Bác Ái (Beloved) có thể được đạt đến bằng tình thương, và sự chí phúc và nỗi hân hoan của sự tiếp xúc này có thể mang theo với nó niềm vui vĩnh cửu của nó, nhưng nhận thức rõ ràng đó xảy đến do kinh nghiệm được trải qua trên Núi Giác Ngộ là một điều khác với niềm vui được trải nghiệm trên Núi Chí Phúc. Tim dẫn vào một nhận thức, Đầu dẫn vào nhận thức khác.
Để trả lời một cách dứt khoát: Con đường tri thức là con đường của nhà huyền linh học và bậc hiền triết; con đường bác ái là con đường của nhà thần bí và vị thánh. Sự tiếp cận ở đầu hoặc ở tim không phụ thuộc vào cung, vì cả hai cách phải được hiểu biết; nhà thần bí phải trở thành nhà huyền linh học; nhà huyền linh học bên chính đạo (white occultist) đã là nhà thần bí thánh thiện (saintly mystic). Tri thức thực sự (true knowledge) là lòng bác ái sáng suốt, vì đó là sự phối hợp của trí tuệ (intellect) và lòng sùng đạo. Sự hợp nhất được cảm nhận nơi tim; việc ứng dụng nó sáng suốt vào đời sống phải được tiến hành thông qua tri thức.
Thật là vô cùng giá trị trong việc nhận ra xu hướng của mục đích cuộc đời, và trong việc biết liệu phương pháp thông qua đầu hoặc phương pháp thông qua tim là mục tiêu của một kiếp sống đặc biệt nào đó. Tuy nhiên, một khả năng phân biện tinh thần tinh tế thì cần thiết ở đây, để không bị sự cám dỗ của ảo giác lôi cuốn vào con đường trì trệ (inertia). Hãy nghiền ngẫm kỹ về những lời này, và hãy thấy rằng vấn đề dựa trên một nền tảng chân thật và không xuất phát từ một mặc cảm tự ti, việc để ý đến sự nghiệp của một huynh đệ và một xu hướng ghen ghét tất nhiên, hoặc dựa vào một sự tự mãn bình thản vốn phủ nhận sự hoạt động.
121 Như một qui luật chung đối với người tìm đạo bậc trung muốn làm đệ tử, ta có thể chắc chắn rằng quá khứ đã nhìn thấy nhiều sự áp dụng theo con đường tâm pháp, và chắc chắn rằng trong kiếp này, việc khai mở trí tuệ (mental unfoldment) là sự việc quan trọng hàng đầu.
Một Kinh Thánh cổ xưa nói:
“Này, Kẻ được chúc phúc hai lần không tìm cách đạt đến bản chất tinh thần trước khi cái trí tiếp thu. Người ta không tìm kiếm Minh triết như thế đâu. Chỉ người nào có tâm trí được kiềm chế, và thấy thế gian như trong một tấm gương, thì y mới có thể được giao phó các nội-giác-quan một cách an toàn. Chỉ người nào biết được năm giác quan là ảo giác, và biết rằng không gì còn lại trừ hai giác quan phía trước, thì người ấy mới có thể được nhận vào bí nhiệm của Hình Thập Giá được chuyển vị (the Cruciform transposed).
“Con đường mà Người Phụng Sự bước lên là con đường của lửa, nó đi xuyên qua trái tim của y và dẫn đến đầu. Chính không phải trên con đường lạc thú, cũng không phải trên con đường khổ đau mà đạt đến sự giải thoát, minh triết cũng không đến theo những đường đó. Chính bằng cách siêu việt cả hai, bằng sự phối hợp của đau khổ với niềm vui mà người ta đạt đến mục tiêu, mục tiêu đó nằm phía trước, giống như một điểm sáng được nhìn thấy trong bóng tối của một đêm đông. Điểm sáng đó có thể gợi ra trong trí ngọn nến nhỏ trong một gác xép u ám nào đó, nhưng – vì con đường dẫn đến ánh sáng đó được bước lên nhờ sự phối hợp của các cặp đối ứng – nên điểm như mũi kim (pin-point) đó, lạnh và nhấp nháy, phát triển (groweth) với ánh sáng chói lọi đều đặn cho đến khi ánh sáng ấm áp của một ngọn đèn sáng rực nào đó hiện đến trong trí của kẻ lang thang bên đường.
“Hãy tiếp tục vượt qua, hỡi Kẻ Hành Hương (O Pilgrim), với sự bền chí vững vàng. Không có một ngọn nến nào ở đó, cũng không có cái đèn đất nào được cấp dầu. Ánh sáng chói lọi bao giờ cũng tăng lên cho đến khi con đường kết thúc bên trong một ngọn lửa vinh quang, và kẻ lang thang suốt đêm trở thành con của mặt trời, và tiến vào bên trong các cánh cổng có quả cầu chói sáng.”

123 Qui Luật Bốn

Âm thanh, ánh sáng, sự rung động, và hình tướng phối hợp và hòa nhập; và như thế công việc hợp nhất. Nó diễn tiến theo thiên luật và giờ đây không gì có thể cản trở công việc đang xúc tiến. Con người hít thở sâu. Y tập trung các sức mạnh của mình lại và xua hình tư tưởng ra khỏi y.

Công Việc Sáng Tạo của Âm Thanh.
Khoa Học về Hơi Thở.

125 Qui Luật Bốn
CÔNG VIỆC SÁNG TẠO CỦA ÂM THANH
Trước khi tập trung sự chú ý của chúng ta vào qui luật này, tốt nhất là nhớ lại một số việc, sao cho sự nhận xét của chúng ta về qui luật đó có thể tiến hành thuận lợi.
Thứ nhất, qui luật mà chúng ta đang xem xét hiện nay liên quan đến công việc trên cõi trí, và trước khi công việc như thế có thể xảy ra, điều quan trọng là phải có một thể trí được phát triển, một trí tuệ được chăm sóc tốt, và cũng đã đạt được sự kiểm soát thể trí đến một mức độ nào đó. Các qui luật này không dành cho những người sơ cơ trong các ngành khoa học huyền bí; chúng được dành cho những người đã sẵn sàng cho công tác huyền thuật, và cho công việc khó khăn trên cõi trí. Bác ái là tác nhân hợp nhất vĩ đại, xung lực thu hút hàng đầu, thuộc vũ trụtiểu thiên địa, nhưng thể trínhân tố sáng tạo chính và là tác nhân vận dụng (utiliser) các năng lượng của vũ trụ. Bác ái thu hút, còn thể trí thì thu hút, xô đẩy và kết hợp, cho nên tiềm năng của nó là không thể tưởng tượng được. Phải chăng không thể cảm nhận một cách mơ hồ một tình trạng của các sự việc trong các lĩnh vực trí tuệ, tương tự như tình trạng được thấy hiện nay trong lĩnh vực tình cảm hay sao? Liệu chúng ta có thể hình dung tình trạng của thế giới khi trí năng mạnh mẽ và có sức hấp dẫn như bản chất tình cảm vào thời điểm này chăng? Nhân loại đang phát triển vào một kỷ nguyên mà trong đó con người sẽ hoạt động với tư cách là thể trí; khi mà trí thông tuệ sẽ mạnh hơn dục vọng, và khi mà các quyền năng tư tưởng sẽ được dùng cho việc kêu gọi và hướng dẫn thế giới, như hiện nay các phương tiện vật chất và tình cảm đang được vận dụng.
Trong ý tưởng này có ẩn một động lực cần thiết sâu xa đối với một sự hiểu biết đúng đắn về các định luật của tư tưởng, và một chỉ dẫn chính xác được đưa ra về việc sử dụng
126 chất liệu trí tuệ (mental matter), và việc xây đắp chất đó vào trong các hình tư tưởng (thought forms).
Các qui luật này chú trọng đến thông tin này. Việc cần nhớ lại thứ hai là người hoạt động trong huyền thuật và thực thể có uy lực vận dụng các mãnh lực này phải là linh hồn, tức con người tinh thần (spiritual man), và điều này là bởi những lý do sau đây:
1. Chỉ có linh hồn mới có một sự hiểu biết trực tiếp và rõ ràng về mục đích sáng tạo và về thiên cơ.
2. Chỉ có linh hồn, mà bản chất của nó là sự bác ái sáng suốt mới có thể được phó thác cho tri thức, các biểu tượng và các công thức vốn cần thiết cho sự quy định chính xác của công tác huyền thuật.
3. Chỉ có linh hồn mới có năng lực để hoạt động trong cả ba cõi thấp cùng một lúc, và tuy vậy vẫn tách biệt, và do đó về mặt nghiệp quả (karmically) thoát khỏi các kết quả của công việc như thế.
4. Chỉ có linh hồn mới thực sự có ý thức tập thể và được thúc đẩy bởi mục tiêu thanh khiết vô kỷ.
5. Chỉ có linh hồn, với tầm nhìn của mắt mở rộng, mới có thể thấy được mục đích từ lúc bắt đầu, và có thể giữ kiên định hình ảnh đích thực của sự viên mãn cuối cùng.
Bạn thắc mắc, có phải những người hoạt động trong hắc thuật (black magic) không sở hữu một năng lực tương tự như vậy hay sao? Tôi trả lời, không. Họ có thể hoạt động trong ba cõi thấp, nhưng họ làm việc từ cõi trí và trong cõi trí, do đó không hoạt động bên ngoài lĩnh vực nỗ lực của họ như linh hồn được. Do sự gần gũi và sự đồng nhất hóa của họ với các chất liệu làm việc của họ, họ có thể đạt được các kết quả mạnh hơn một cách tạm thời và hoàn thành nhanh chóng hơn, so với người phụng sự trong Huynh Đệ Đoàn bên Chánh Đạo (White Brotherhood), nhưng các kết quả là phù du; họ đem sự hủy diệt và thảm họa theo gót của họ, và thuật sĩ hắc đạo cuối cùng bị nhấn chìm trong cơn tai biến do đó mà ra.
127 Do đó, chúng ta hãy nhớ sự cần thiết của việc vận dụng đúng đắn thể trí, và (cùng một lúc) chúng ta hãy luôn giữ một vị thế vượt quá và tách biệt các ham muốn và sự thành tựu vật chất ra khỏi công việc sáng tạo của thể trí của chúng ta.
Bốn từ ngữ được đưa ra, khi người ta xem xét Qui Luật IV. Đầu tiên, âm thanh (sound) tức công thức, hoặc quyền lực từlinh hồn truyền đạt và nhờ thế bắt đầu công việc. Từ ngữ này có hai phần. Nó được xướng lên dựa theo nốt (note) mà linh hồn đáp ứng, tức nốt đặc biệt riêng của linh hồn, được phối hợp với nốt của phàm ngã của y. Hợp âm của hai nốt này là tác nhân tạo ra các hiệu quả do theo đó, và quan trọng hơn cụm từ đã định tạo thành quyền lực từ (word of power).
Nơi đây có ẩn chứa vấn đề − xướng hai nốt này một cách đồng bộ, và với thể trí được tập trung. Nơi đây có chứa một manh mối đối với ý nghĩa của AUM hoặc OM. Trong các giai đoạn đầu của công việc thiền định, từ ngữ này được xướng lên thành tiếng rõ ràng, trong khi về sau thì nó được xướng lên không ra tiếng. Sự tập luyện xướng lên từ ngữ AUM này là một sự chuẩn bị trong vô thức đối với hoạt động sáng tạo tinh thần có hai phần; rồi sự dễ dàng sẽ đến khi người tìm đạo đầy chú tâm tập quen nghe trong bộ não của mình tiếng vô thinh (soundless sound) của OM.
Ở đây Tôi muốn đề nghị rằng các đạo sinh hãy tập quen làm việc theo cách này, tức là xướng thánh ngữ thành tiếng và nhiều lần vào lúc kết thúc hành thiền buổi sáng, nhưng nhấn mạnh ở phần đầu, đó là hết sức chú ý đến việc nghe tiếng vô thinh (inaudible hearing), việc đó sẽ phát triển sự nhạy cảm của nội nhĩ (inner ear) tức tai dĩ thái. Về sau, khi nốt hay âm thanh (sound) cá nhân được xác lập và âm thanh bên trong được cảm nhận, có thể có sự thực hành nhất định trong việc phối hợp cả hai âm (the two). Điều này đòi hỏi sự quan tâm cao nhất và năng lực thực hiện hai hoạt động cùng một lúc, với thái độ tâm trí là chú ý đến cả hai.
Những đạo sinh nào có đạo tâm mãnh liệt (keen) và trong sáng sẽ thực hiện tốt khi đối mặt với vấn đề mà công việc huyền thuật có liên quan, và sẽ nghiên cứu khả năng của họ trong thiền định và sự sẵn lòng của họ để thực hiện giới luật cần thiết một cách ổn định và thận trọng. Để tạo thuận
128 tiện cho việc này, Tôi muốn đề nghị rằng bất kỳ ai vốn quan tâm sâu sắc đến công việc, nên nghiên cứu và trả lời các câu hỏi sau đây dưới ánh sáng của linh hồn họ, và trả lời cho Chân Ngã của họ.
1. Bạn có cảm thấy bạn đã đạt đến giai đoạn mà bạn có thể:
a/ Loại bỏ hình thức thiền định như bạn đang có hiện giờ.
b/ Nhập vào trạng thái đại định (the state ofcontemplation) một cách tương đối dễ dàng.
c/ Nhận ra rung động của chính linh hồn bạn.
2. Có phải Thánh Ngữ có ý nghĩa nào đó đối với bạn, và liệu bạn có thể trình bày rõ lý do mà bạn xướng nó lên không?
3. Bạn nôn nóng tiến hành công việc này vì phàm ngã của bạn mong muốn, hay vì linh hồn của bạn đang bắt đầu một cách hữu thức sử dụng bộ máy của nó?
Liên quan với câu hỏi cuối cùng này, cần có một sự phân tích kỹ lưỡng, và Tôi yêu cầu bạn nói thật với chính mình, và do đó xác định rõ ràng vị trí đích thực. Vấn đề này nằm giữa linh hồn của một người với chính y.
Ở đây, Tôi muốn tự ý thêm vào đây một vài lời có liên quan đến chính Tôi. Các đạo sinh có thể làm chuyển hướng năng lượng của mình sang sự suy đoán vô căn cứ về nhân dạng của Tôi. Việc đó quan trọng như thế nào? Phạm vi của Tôi liên quan đến nhóm này là cung cấp sự trợ giúp cần thiết cho những người muốn làm cho mình đáp ứng với hoạt động tích cực với tư cách đệ tử. Tôi là một đệ tử và đã tiến xa hơn trên Con Đường Hoàn Nguyên so với những người tìm đạo, tức những người đang nghiên cứu các hướng dẫn này. Tôi biết phần nào những cạm bẫy, hiểu được những gì cần thiết, và có thể giúp vào việc chuẩn bị cho thời điểm quan trọng khi họ vượt qua cổng điểm đạo. Có cần thiết hơn không? Có phải là sự thật không có giá trị như nhau nếu được nêu ra bởi một người tìm đạo, một đệ tử hoặc một Chân Sư, hoặc ngay cả một Đức Christ? Có lẽ Tôi càng gần với bạn chừng nào thì Tôi càng có thể có ích hơn cho các bạn chừng nấy. Tình trạng nặc danh của Tôi sẽ không bị phá vỡ, và các suy đoán về nhân
129 dạng của Tôi là sự lãng phí thời gian vô ích. Chỉ cần nói rằng Tôi là một người Phương Đông, rằng Tôi đang ở trên Cung Giáo Huấn, và đã hợp tác chặt chẽ với Chân Sư K.H., một phần công việc của Tôi là kiên trì tìm kiếm những người tìm đạo có trái tim mạnh mẽ, lòng sùng đạo nhiệt thành và thể trí được huấn luyện, và rằng Tôi là một đệ tử, như tất cả mọi người, từ đệ tử dự bị (probationer) khiêm tốn nhất, cho đến Đấng cao cả nhất trong các Đấng Cao Cả. Một bài học mà mọi người tìm đạo cần học và học sớm, đó là, việc định trí vào phàm ngã của Sư Phụ, hy vọng có được sự giao tiếpnhân với Ngài, và việc thường xuyên mơ thấy tình trạng được gọi là “đệ tử chính thức” (“accepted chelaship”) chỉ làm trì hoãn sự tiếp xúc đó và gây trở ngại cho việc được thu nhận mà thôi. Tìm cách để trang bị cho khí cụ của bạn, học cách hoạt động trong sự yên tĩnh, hoàn thành các bổn phận và thực hiện nhiệm vụ của bạn, phát triển việc kiềm chế lời nói, và tư thế tự tin điềm tĩnh đó vốn đến từ một động cơ sống vị tha, và coi thường sự toại nguyện ích kỷ vốn có thể dâng lên trong tim khi được Thánh Đoàn đang trông nom công nhận lòng trung thành.
Hãy xem xét cẩn thận Huấn Thị này. Đây là thời kỳ mà trong đó nhiều sự điều chỉnh và nhiều thay đổi đang được tác động vào thế giới của con người. Trong sự rối loạn theo sau đó, các cá nhân đang đánh giá cao sự cần thiết để hợp nhất các sức mạnh của họ và để hợp tác trong các nỗ lực của họ, và nhu cầu cho hoạt động tập thể thì rõ ràng hơn bao giờ hết. Do đó, đây là thời kỳ mà trong đó sự thanh thản và sự tự tin phải là sức mạnh của bạn, và trong đó sự bảo vệ duy nhất nằm trong việc tìm kiếm kỹ lưỡng mọi động cơ nằm bên dưới. Như được thấy ở bề ngoài, nhiều nguyên tắc khác nhau một cách hiển nhiên xuất hiện, và việc dấy lên đấu tranh dường như đầu tiên đi theo cách này, rồi đến cách khác. Như được thấy ở khía cạnh nội môn, các yếu tố đang nảy sinh trở nên đơn giản hơn. Sự đấu tranh chủ yếu dẫn đến một sự kiểm tra các động cơ hành động, và qua sự kiểm tra này, nó làm hiển hiện rõ ràng (đối với các Đấng Hướng Dẫn đang trông chừng) những người nào, trong mỗi nhóm, có năng lực tư duy rõ ràng, phân biện chính xác, sự chịu đựng bền bĩ, và một khả năng tiếp tục theo con đường dự bị hướng đến cổng điểm
130 đạo, không bị ngăn cản và không bị xáo trộn trong đời sống nội tâm của họ bởi các biến động trên bề mặt. Có thể các bạn chỉ nhìn thấy nó, cái tình trạng bất ổn và nỗi khó khăn ở khắp mọi nơi, đang tạo ra điều thiện hảo, vốn có nhiều giá trị hơn điều có vẻ xấu xa. Các linh hồn đang tìm thấy chính mình và học cách dựa vào Đấng Cai Quản (Ruler) bên trong. Khi tất cả các chỗ dựa bên ngoài yếu đi, và khi tất cả những người có thẩm quyền hiển nhiên bất đồng trong giải pháp được đưa ra, thì linh hồn phải trở lại dựa vào chính mình và học cách tìm vào nội tâm. Sự tiếp xúc bên trong này với Chân Ngã đang trở nên rõ ràng theo mức độ khai mở dần dần, và dẫn đến sự tự lực và sự bình tĩnh nội tâm vốn được dựa trên sự cai quản của Thượng Đế nội tâm và do đó, nó làm cho một người trở thành một khí cụ cho việc phụng sự trên thế gian.
Vào lúc này, một vài điều trở nên rõ ràng đối với môn sinh có suy nghĩ thấu đáo về con người và về các nguyên động lực.
Thứ nhất: Chủ nghĩa lý tưởng và sự cảm nhận về thiên cơ dành cho nhân loại có một sự liên hệ mật thiết. Chủ nghĩa lý tưởng tương tự với tư tưởng đi trước sự sáng tạo. Năng lực dành cho tư duy trừu tượng và dành cho sự tập trung vào lý tưởng hiện nay chỉ đang trong tiến trình phát triển, vì năng lực này bao hàm việc vận dụng một số nguyên tử, việc sử dụng vật chất của các cõi phụ cao, và khả năng đồng bộ hóa các rung động của con người với các Đấng Cao Cả. Chỉ có một ít người trong nhân loại là các lý tưởng gia thực sự (mặc dù con số những người này đang gia tăng); chỉ một thiểu số nhỏ biết vận dụng trí cụ thể, trong khi đa số người đang bị chi phối hoàn toàn bởi những cảm xúc. Đang đến thời kỳ mà thể trực giác (hay thể bồ đề) sẽ được cấu tạo, sử dụng thượng trí tinh thần như là trung gian của nó. Khi sự cấu tạo đó được hoàn tất, hạ trí cụ thể sẽ không còn là gì nữa trừ việc là một tác nhân truyền chuyển hoặc một tác nhân lý giải. Ngay cả việc tư duy trừu tượng hoặc tư duy cụ thể cũng sẽ được thay thế, và chúng ta sẽ chỉ có dòng lưu nhập của trực giác, lấy hình thể qua trung gian của chất trí. Do đó, chúng ta sẽ có sự hiểu biết về nhiều điều mà hiện giờ là không thể hiểu được đối với tầm nhìn từ cõi thấp của chúng ta.
131 Trong tất cả các phong trào lớn, bạn có một tư tưởng hoặc tập hợp các tư tưởng nào đó được Thánh Đoàn (Great White Brotherhood) gieo vào tâm trí của những người được gọi là các lý tưởng gia. Ý tưởng được các Ngài phát ra. Các Ngài chọn một người hoặc một nhóm người và gieo vào trí của họ một ý tưởng nào đó. Ở đó, ý tưởng nảy nở và được họ thể hiện thành các ý tưởng khác, không thuần túy lắm hoặc thông thái lắm, nhưng tất nhiên bị nhuốm màu tính chất cá nhân của chủ thể tư tưởng (thinker). Đến phiên chúng, các hình tư tưởng này được các nhà tư tưởng cụ thể của thế gian bắt được – những người này nắm bắt phác thảo chính của ý tưởng đó – kết tinh nó lại (crystallize) và gắn nó vào dạng thức xác định hơn, thành một hình thức dễ hiểu hơn đối với quần chúng. Nhờ đó mà bây giờ nó đã đến các phân cảnh thấp hơn của cõi trí, và một sự phát triển thêm có thể xảy ra. Kế đó nó được những người đang được an trụ trên cõi cảm dục chộp lấy như là ý tưởng đáng ưa thích; đối với những người này, nó tạo thành một lời kêu gọi đầy tình cảm, trở thành dư luận chung. Giờ đây nó thực sự sẵn sàng lấy hình thức trên cõi hồng trần, và chúng ta có sự thích ứng thực tế của một lý tưởng đối với các nhu cầu của đời sống vật chất. Nó đã được hạ thấp xuống; nó đã mất đi nhiều vẻ đẹp nguyên thủy của nó, nó không còn thanh khiết và đáng yêu như khi lần đầu tiên nó được hình dung ra, và nó bị biến dạng so với hình thức ban đầu của nó, nhưng tuy vậy, nó thích hợp hơn cho mọi người sử dụng và có thể được dùng như một viên đá lót đường cho các sự vụ cao cả hơn.
Thứ hai: Trong việc cảm nhận về thiên cơ này, và việc hiện thực hóa về sau của nó, các đơn vị nhân loại có liên quan và con người tất nhiên phải được sử dụng. Một viễn cảnh được đưa ra về các năng lực to lớn, và các chỉ dẫn cũng được ban ra về cách thức mà theo đó các năng lực này có thể trở thành sự thật, nhưng các Đấng Cao Cả không đi quá điều đó. Chi tiết và phương pháp để cụ thể hóa lý tưởng và công việc cần thiết được để lại cho các con của nhân loại. Đối với bậc đệ tử, vốn là người tổ chức và truyền đạt Thiên Cơ, bắt đầu công việc bổ khuyết các chi tiết và tiến hành hoạt động cần thiết. Ở điểm này, thật là khôn ngoan cho y để nhớ rằng, (với các kế
132 hoạch nhỏ của mình) y chịu cùng thiên luật như các Đấng Cao Cả trải qua trong những nỗ lực lớn của các Ngài, và rằng chính trong cách đối xử của y với mọi người, và cách xử lý của y về sự bình đẳng của con người mà những khó khăn nảy sinh.
Những người dành cho công việc rơi vào ba nhóm:
a/ Những người có thể cảm nhận được thiên-cơ và được giao nhiệm vụ để thực hiện thiên-cơ đó.
b/ Những người có thể được sử dụng nhưng họ không thấy được những vấn đề lớn hơn.
c/ Những người không thể cảm nhận được gì ngoài những điều có liên quan đến những quyền lợi ích kỷ của riêng họ.
Các Chân Sư có thể tiếp xúc với nhóm thứ nhất. Các Ngài làm việc với các đơn vị này của gia đình nhân loại, và hy vọng triển vọng tốt đẹp về sự thành công ở mức trung bình. Cả hai nhóm này đều nghe được linh-âm, và thấy được Thiên Cơ (Plan). Nhóm thứ hai phải được các đệ tử trên thế gian sử dụng một cách tốt nhất có thể được. Nhóm cuối cùng thì thường xuyên bị đặt ra ngoài theo quan điểm về năng lượng, và chỉ được sử dụng khi cần thiết.
Một trong những điều kiện chủ yếu mà một đệ tử phải trau dồi, để cảm nhận được thiên-cơ, và được Chân Sư sử dụng, là sự cô độc (solitude). Trong sự cô độc, hoa hồng của linh hồn mới phát triển; trong sự cô độc, linh-ngã (divine self) mới có thể lên tiếng; trong sự cô độc, các năng lực và những ân sủng của Chân Ngã mới có thể bén rễ và nở hoa trong phàm-ngã. Cũng trong cô độc, Chân Sư mới có thể tiếp cận và ghi khắc lên linh hồn tĩnh-lặng (quiescent soul) tri thức mà Ngài tìm cách truyền đạt, bài học phải được học, phương pháp và kế hoạch cho công việc mà đệ tử phải nắm vững. Trong sự cô độc, diệu-âm được nghe thấy. Các Đấng Cao Cả phải làm việc qua các công cụ là con người, vì vậy kế hoạch và tầm nhìn bị trở ngại nhiều bởi sự không thích hợp về phía những công cụ này.
Thứ ba: Điều này đưa Tôi đến điểm thứ ba, những vấn đề và những khó khăn mà các Chân Sư phải đấu tranh với chúng, khi các Ngài muốn xúc tiến các kế hoạch tiến hóa qua trung gian các con của nhân loại. Theo cách mật nghị (conclave wise), các Ngài soạn thảo các kế hoạch của các Ngài;
133 sau khi bàn bạc kỹ lưỡng, các Ngài phân chia công việc một cách có suy xét; sau đó, các Ngài tìm cách truyền đạt càng nhiều về kế hoạch càng tốt cho những người tự hiến mình cho việc phụng sự và có sự tiếp xúc với linh hồn ở một mức độ nào đó. Các Ngài ghi khắc kế hoạch và một gợi ý nào đó về phạm vi của nó vào trí của một người nam hoặc một người nữ nào đó trên cõi trần. Nếu thể trí đó không ổn định hoặc quá thỏa mãn (oversatisfied), nếu nó tràn đầy kiêu hãnh, đầy thất vọng, hoặc đầy sự tự ti (self depreciation), tầm nhìn không tiếp nhận được thông tin liên lạc với độ rõ ràng về đường nét; nếu thể tình cảm đang rung động dữ dội với một nhịp điệu nào đó do phàm ngã dựng nên, hoặc nếu thể xác đang đau ốm và do đó việc tập trung chú ý bị ngăn chận, điều gì sẽ xảy ra? Chân Sư sẽ buồn bã quay đi, đau buồn khi nghĩ đến cơ hội phụng sự mà người phụng sự đã đánh mất do khuyết điểm của chính họ, và Ngài sẽ tìm một người khác để lấp đầy nhu cầu, một người mà có lẽ về cơ bản không thích hợp lắm, nhưng là người duy nhất có thể dùng được do sự thất bại của người được tiếp cận đầu tiên.
Nhân đây có thể đáng để nhắc nhở cho người mong muốn phụng sự rằng nhiều công việc được thực hiện bởi nhiều người lại là kết quả của tính quá sốt sắng (overzealousness), chứ không phải là một cách xúc tiến công việc của Chân Sư. Với sự phân biện sáng suốt, Ngài phân chia công việc thành từng phần và không bao giờ đặt lên một người nhiều hơn những gì mà y có thể hoàn thành một cách thỏa đáng. Ngài có thể và chắc chắn huấn luyện đệ tử của Ngài, sao cho có vẻ như với thế giới bàng quang, cứ như là y thực hiện các phép lạ, nhưng đừng quên rằng việc mà một đệ tử hữu dụng thực hiện được số lượng lớn công việc chỉ có thể xảy ra khi việc kiểm soát cả ba thể của y được phối kết, và sự chỉnh hợp của y được hoàn tất. Y là người có một thể trí ổn định vốn cực kỳ tích cực trong việc tiếp nhận rung động từ trên cao, trong khi lại thụ động đối với các rung động thấp, y cũng có một thể cảm dục trong trẻo, không bị nhuộm màu và tĩnh lặng, y cũng có một thể xác với các dây thần kinh ổn định và sự nhịp nhàng vững chắc (nó sẽ giống như một cái tráp nhỏ, xinh đẹp, nhưng mạnh mẽ như thép), y sẽ phụng sự như một đường mạch thích hợp cho việc sử dụng của Chân
134 Sư, một con kênh mà qua đó Ngài có thể tuôn đổ tự do ân huệ của Ngài lên thế gian.
Thứ tư: Nên lưu ý rằng ngay cả chính các Đấng Cao Cả cũng phải bố trí các kế hoạch của các Ngài phần lớn chấp nhận sự thiếu nhận thức của những người trên cõi trần mà các Ngài phải hoạt động thông qua họ. Các Ngài bị cản trở và phụ thuộc vào các khí cụ ở cõi trần của các Ngài, và rắc rối chính của các Ngài liên quan đến trình độ tiến hóa đã được đạt đến bởi đa số người Phương Tây.
Hãy nhớ rằng trình độ tiến hóa này biểu thị sự thành công của diễn trình tiến-hóa, chứ không biểu thị sự thất bại của nó, nhưng vì còn nhiều điều phải được làm nên công việc của Thánh Đoàn (Lodge) thường bị cản trở. Trình độ đã đạt đến tại thời điểm này có thể được diễn tả như là một sự thay đổi đột ngột từ thuyết duy vật cực đoan của quá khứ, sang một sự nhận thức đang phát triển và sâu sắc về các cõi giới vô hình, mà không có sự thăng bằng phát xuất từ tri thức được thực chứng. Các mãnh-lực đã được phát động của các tưtưởng-gia – đó là các nhà khoa học của thế giới, những tín đồ tôn giáo thực sự tiến bộ, các nhà Giáng-Ma Học (Spiritualists), các nhà Khoa Học Cơ Đốc giáo, các nhà hoạt động của phái Tân-Tư-Tưởng, các nhà Minh Triết Thiêng Liêng và các triết gia hiện đại, và những người hoạt động trong các lĩnh vực khác của tư tưởng nhân loại – đang ảnh hưởng dần và kiên trì lên các thể tinh anh của nhân loại, và đang đưa nhân loại đến một trình độ mà họ đang bắt đầu nhận ra ba điều:
a/ Thực tại về các cõi giới vô hình.
b/ Sức mạnh kinh khủng của tư tưởng.
c/ Nhu cầu đối với kiến thức khoa học về hai vấn đề này.
Thứ năm: Một số nguy hiểm, mà những người tìm đạo phải trông chừng khi họ muốn trở thành hữu dụng, nên được đề cập ở đây:
− Họ phải ngăn ngừa sự chú trọng quá mức (overemphasizing) vào một khía cạnh, gây thiệt hại cho một phần của kế hoạch hoặc tầm nhìn.
− Họ phải tránh sự tập trung tư tưởng không tương
135 xứng trên phần kế hoạch vốn hấp dẫn họ nhiều nhất về phương diện cá nhân.
− Họ phải nhận biết sự thiếu khả năng của những người phụng sự để tiếp tục đi đến cùng các kế hoạch, và để cùng nhau hoạt động một cách hòa bình và ổn định. Sự va chạm thường thì không thể tránh khỏi.
− Họ phải trông chừng sự len lỏi vào của tư lợi và của lòng tham vọng.
− Họ phải ngăn ngừa sự mệt mỏi do sự cố gắng lâu dài trong việc hiện thực hóa kế hoạch, và sự căng thẳng đi cùng với sự nỗ lực cao.
− Họ phải phát triển khả năng nhận ra những người được gửi đến để giúp đỡ họ trong công việc.
− Trên hết, họ phải ngăn ngừa việc không duy trì được sự tiếp xúc với Chân Ngã và với Chân Sư.
Một điểm khác cần phải nhớ, đó là vấn đề phải được giải quyết bởi tất cả những ai đang muốn hợp tác với Thánh Đoàn (Great White Lodge) có bốn mục tiêu trước mắt.
Thứ nhất. Rằng trong việc thi hành thiên cơ cũng có việc thực hiện nghiệp quả. Nghiệp quả (Karma) này không chỉ thuộc về cá nhân, cũng không hoàn toàn thuộc về quốc gia, mà là một phần của tổng số sự thể hiện nghiệp quả của thế gian.
Thứ hai: Một mục tiêu khác là việc chuẩn bị một công cụ để phụng sự cho sự khai mở Kỷ Nguyên Mới trong hai trăm năm tới. Sự hòa nhập của một nhóm các thức giả (knowers) và các nhà thần bí đang diễn ra đều đặn ở mọi nơi trên thế giới và ở mọi tổ chức. Một nhóm đang được tập hợp lại nhưng các thành viên của nó thuộc về nhiều nhóm. Nhóm các thức giả và các nhà thần bí này được dành cho cơ hội trở thành vận hà, mà qua đó Thánh Đoàn có thể hoạt động, và qua đó các Đấng Cao Cả có thể gửi tư tưởng khai sáng của các Ngài. Cũng qua đó các Ngài có thể làm việc để nâng cao (theo nghĩa huyền bí) nhân loại và như vậy trợ giúp sự tiến hóa trên mọi bình diện. Vì thế việc hội nhập nhanh chóng của Kỷ Nguyên Mới sẽ tùy theo sự đáp ứng của các đệ tử, của các thần bí gia và của các thức giả ở khắp mọi nơi,.
136 Ở đây, Tôi muốn phát ra một lời cảnh báo: Trong việc không đáp ứng, trong việc không điều chỉnh, kiến tạo và thanh lọc, trong việc không chuyển nội nhĩ sang những tiếng nói đó trên các cõi tinh anh, các nơi đó vốn phát ra “các Linh Từ Tái Thiết”, có thể xảy ra việc cuối cùng chuyển các mãnh lực tái thiết sang các vận hà khác, việc tất nhiên thu hồi các cơ hội, và việc cuối cùng loại bỏ phương tiện của nhóm với vai trò là một trung gian phụng sự. Tôi muốn nhấn mạnh phát biểu về “các linh từ Tái Thiết”, xin tất cả các bạn, những người tha thiết mong muốn được nghe những linh từ này, hãy nghiên cứu phần Dẫn Nhập của cuốn sách Ánh Sáng trên Thánh Đạo. Hãy nhớ rằng nếu các Đấng Cao Cả phải thay đổi các kế hoạch của các Ngài đối với nhóm đang hòa nhập này của các nhà thần bí, nó sẽ bị thay đổi bởi chính các nhà thần bí – được xem như là một nhóm.
Mục tiêu thứ ba là sự phát triển trực giác và tính phân biện của các đệ tử trên thế giới, và khả năng của họ để cảm nhận được linh thị cao, và để thành tựu tâm thức của cõi cao đó với cái giá của linh thị thấp. Họ sẽ phải nhớ rằng mục tiêu thấp, do sự gần gũi của nó, sẽ hiện ra lờ mờ theo nhiều cách hấp dẫn hơn, và chỉ có thể được vượt qua với cái giá vô hạn. Trực giác phải được phát triển trong nhiều người, và ý thức về giá trị của họ được điều chỉnh một cách thích hợp trước khi nhóm này, tức là nhóm phải khai mở Kỷ Nguyên Mới, có thể có đủ tiêu chuẩn so với các yêu cầu.
Các rắc rối hiện nay phần lớn là do sự thiếu sự nhận thức trực giác trong quá khứ, và khuyết điểm này chính yếu nằm trong các nhà thần bí của thế giới, chứ không quá nhiều trong những người tìm đạo cấp thấp. Sự rắc rối đã không nằm trong việc thiếu chủ nghĩa lý tưởng, hoặc thậm chí trong việc thiếu sự sáng suốt và sự chân thành, nó bao gồm việc không luôn luôn hy sinh phàm ngã, để làm cho việc nhận thức bằng trực giác chứng minh tính thực tế của nó. Người ta đã cho phép sự thỏa hiệp, mà trong thế giới huyền linh thì sự thỏa hiệp bị nghiêm cấm. Khi được buông thả, nó dẫn đến
137 thảm họa và cuối cùng quét đi, trong sự đổ nát và trong cơn bão táp, phàm ngã của những người hạ mình như thế. Con người đã tìm cách điều chỉnh chân lý theo thời điểm, thay vì điều chỉnh thời điểm theo chân lý, và bằng tài ngoại giao, họ đã cố gắng để mang lại mức độ thực tế theo như họ cho là khôn ngoan. Các Chân Sư đang tìm kiếm những người có tầm nhìn rõ ràng, sự trung thành không khoan nhượng với chân lý như được cảm nhận, và khả năng vững vàng hướng tới về phía lý tưởng. Điều này đòi hỏi các yếu tố sau:
1. Một sự nhận thức về lý tưởng đó nhờ thiền định.
2. Việc áp dụng nó cho hiện tại nhờ sự nhất tâm (onepointedness).
3. Việc loại bỏ các hình tư tưởng cũ và gây cản trở thông qua sự hy sinh.
4. Một sự từ chối thỏa hiệp, nhờ tầm nhìn rõ ràng.
5. Một sự phân biện vốn giúp cho đệ tử luôn luôn phân biệt giữa các hành vi của một cá nhân, với chính cá nhân đó.
6. Một sự nhận thức rằng, trong công việc thuộc huyền linh học, người ta không được phép can thiệp chút nào vào biệt nghiệp (personal karma), vì như vậy là được phép bao che khỏi bị những hậu quả của hành động. Do đó điều này đòi hỏi một sự từ chối can thiệp vào công việc của bất cứ ai – nghĩa là, về mặt đời sống cá nhân, và tuy thế bao hàm một sự từ chối tránh né công việc có nguyên nhân lớn hơn. Điều thiết yếu là các phụng sự viên nên học cách phân biện giữa các yếu tố vốn có lợi cho sự tự donhân, với các yếu tố vốn cản trở sự tự do của tập thể.
Kết quả thứ tư được mang lại bởi cơ hội hiện tại cho công việc, là việc đưa ra chu kỳ mới và nhóm người tham gia mới. Các phụng sự viên trong kỷ nguyên mới sẽ được rút ra từ mọi nhóm, và việc kiểm tra để lựa chọn họ phụ thuộc phần lớn vào mức độ vô ngã mà họ làm việc với nó, và cường
138 độ tiếp xúc bên trong của họ với linh hồn. Do đó thật không dễ dàng cho bất cứ ai trong các bạn, khi các bạn bị chìm ngập trong khói và tiếng gầm rú của trận chiến, để đánh giá các kết quả một cách chính xác hoặc đánh giá con người một cách thích đáng hoàn hảo. Những điều này phải được giải quyết trên các nội-cảnh-giới và được lưu ý bởi các vị hướng dẫn đang trông nom nhân loại. Ở đây, Tôi muốn nêu ra vắn tắt một vài sự việc mà các Đấng Cao Cả chú ý.
Các Ngài nhìn xem có phải ngọn lửa bên trong – kết quả của nỗ lực khôn ngoan khi làm việc, suy tư và hành động – bùng cháy với độ sáng ngày càng tăng hay không; các Ngài lưu ý liệu có phải nó vẫn còn bị che giấu và không rõ rệt do sự xoay tít của các luồng cảm dục và bởi các hình-tư-tưởng của sự đối kháng, tham vọng và ghen tị cá nhân hay không. Như là một kết quả của hoạt động thế gian, một số người sẽ được đưa vào sự kết nối mật thiết hơn với công việc của Thánh Đoàn, còn những người khác sẽ được tạm thời sắp xếp trở lại. Khả năng chế-ngự các phân cảnh cảm dục, và làm việc từ các phân cảnh trí tuệ sẽ có giá trị lớn.
Các Ngài nhìn xem ai có thể đấu tranh và phấn đấu cho nguyên tắc đạo đức với các phàm ngã (personalities), và tuy vậy vẫn giữ liên kết với lòng bác ái còn nguyên vẹn. Điều này có lẽ có giá trị hơn con người nhận thức, và một người có thể giữ vững nguyên tắc đạo đức, và tuy vậy vẫn yêu thương tất cả mọi người – từ chối thỏa hiệp và tuy thế từ chối thù hận – có điều gì đó hiếm có để đưa ra vào lúc này, và các Đấng Cao Cả có thể sử dụng y. Do đó, tất cả các bạn, là những người đang hoạt động, bảo đảm rằng với tầm nhìn rõ ràng, mục tiêu chính trực và hành động vững vàng không lệch lạc
(undeviating), các bạn sẽ tiến lên phía trước. Hãy đảm đương việc bạn đang đối phó một cách kiên nhẫn và độ lượng với những người anh em của bạn, là những người chọn nguyên tắc đạo đức thấp hơn và điều công chính nhỏ hơn, những người hy sinh lợi ích của tập thể cho các mục đích cá nhân của riêng họ, hoặc những người sử dụng các phương pháp thấp hèn. Hãy đem cho họ tình thương, sự quan tâm và một bàn tay sẵn sàng giúp đỡ, vì họ sẽ vấp ngã trên đường và thăm dò sự thâm sâu của thiên luật. Khi đó hãy sẵn sàng để nâng họ lên và cung cấp cho họ các cơ hội phụng sự, vì biết rằng việc phụng sự đó là tác nhân chữa trị và là người thầy vĩ đại.
139 Các Đấng Cao Cả nhìn thấy khả năng dễ uốn nắn và khả năng thích nghi đang thể hiện, khả năng thích ứng đó vốn là một trong những định luật cơ bản của các loài, mà thiên nhiên biểu lộ một cách rất kỳ diệu. Việc chuyển di định luật này vào các nội cảnh giới (inner planes), và việc thể hiện luật đó trong chu kỳ nỗ lực mới phải được bảo đảm. Luật thích ứng này bao hàm việc nhận thức về nhu cầu, việc nhận ra mãnh lực mới đang đi vào chu kỳ mới, và việc gom lại sau đó thành sự tổng hợp rộng rãi về nhu cầu và về lực, về phần bản ngãnhân thì chỉ như là một điểm tập trung đối với việc hành động và chuyển hóa. Nó bao hàm sự chuyển hóa của năm giác quan và việc mở rộng phạm vi của chúng vào những cõi tinh vi hơn, sao cho việc thấy, nghe, tiếp xúc, nếm và ngửi được gắn kết vào một tổng thể hợp tác tổng hợp để sử dụng trong công việc lớn lao. Trên cõi trần, các giác quan này có hướng tới sự hợp nhất của đời sống cá nhân, và tới sự thích ứng của thế giới vật chất đối với những nhu cầu của bản ngãnhân. Trên những cõi tinh vi hơn, chúng phải được chuyển hóa cho đến khi chúng thích hợp với các nhu cầu của tập thể, mà các hình tướngnhân chỉ là một phần rời rạc của tập thể đó. Khả năng để làm điều này là một trong những điều mà các Đấng Cao Cả tìm kiếm nơi những cá nhân nào mà đặc ân cho họ có thể là mở ra Kỷ-Nguyên Mới.
Trên hết, các Đấng Cao Cả tìm kiếm một vận hà được mở rộng từ linh hồn đến bộ óc xác thịt, xuyên qua thể trí. Một vận hà được mở rộng như thế cho thấy rằng một người có thể được sử dụng. Người ta có thể hầu như diễn tả điều đó bằng cách nói rằng các Ngài tìm kiếm sự hoàn thiện giác tuyến (antaskarana), đó là vận hà giao tiếp giữa ý thức linh hồn với não bộ, mà chủ sở hữu của nó là một người mà các Chân Sư có thể sử dụng một cách thành công. Các Ngài được hướng dẫn trong việc lựa chọn những người phụng sự của các Ngài do một khả năng được thành tựu về mặt cá nhân của một người, và do năng lực đạt được đầy gian khổ của riêng người đó. Khi có khả năng, năng lực, và quan năng, thì lúc bấy giờ các Đấng Cao Cả vui mừng sử dụng anh ta. Đôi khi quan điểm sai lầm đã được quá nhấn mạnh và người ta dạy điều
140 ngược lại. Các Chân Sư không được tìm kiếm một người mưu tìm năng lực. Các Ngài sẽ được cung cấp khi một người có năng lực – là năng lực làm cho y sẵn sàng cho hoạt động tập thể, và có thể được phát huy dưới sự giáo huấn cẩn thận để thành các quyền năng cao của linh hồn. Vai trò lãnh đạo trong các nhóm điều khiển công việc của Kỷ Nguyên Mới sẽ phát triển từ kỷ luật của cá nhân, và các nhà lãnh đạo sẽ được tìm thấy trong số những người cảm nhận được vấn đề bên trong. Vai trò lãnh đạo tồn tại không phải đến với những ai cố đạt đến địa vị và quyền lực, cũng không dành cho những người chỉ để mắt vào những điều kiện bên ngoài mà bỏ qua những nguyên nhân nằm bên dưới. Vai trò lãnh đạo không đến với những ai đặt bản ngãnhân, địa vị và quyền lực của nó trước lợi ích của tập thể. Nó kiên trì đến với những người không tìm kiếm cái gì cho bản ngã chia rẻ, với những người bỏ rơi bản thân mình trong lợi ích của tổng thể.
Tiếp tục lại việc xem xét của chúng ta về thánh ngữ AUM. Diệu âm hay Thánh Ngữ này khi được sử dụng đúng cách có những tác dụng khác nhau, có thể được đề cập đến ở đây.
1. − Khi được xướng lên, với tư tưởng chăm chú phía sau nó, Thánh Ngữ OM tác động như một tác nhân gây nhiễu (disturber), một tác nhân nới lỏng (loosener) chất liệu thô trược của thể tư tưởng (body of thought, thể trí), thể tình cảm, và của thể xác. Khi được xướng lên với khát vọng tâm linh mạnh mẽ ở phía sau nó, nó tác động như một trung gian thu hút, và thu vào các cấu-tử (particles) của vật chất tinh khiết để lấp đầy các vị trí của những cấu tử bị ném ra trước đó. Các đạo sinh nên cố gắng để có hai hoạt động này trong tâm trí của họ khi họ sử dụng Thánh Ngữ trong thiền định. Việc sử dụng Thánh Ngữ này có giá trị thực tiễn, và đưa đến việc kiến tạo các thể tốt đẹp cho linh hồn sử dụng.
2. − Việc sử dụng Thánh Ngữ OM cũng dùng để ngụ ý cho những người hoạt động trên các cõi vũ trụ (universal planes), và cho những người trong thế giới bên ngoài, những người này được ban cho sự nhận thức tâm linh mà một đệ tử có sẵn cho công việc, và có thể được sử dụng một cách tích cực ở những nơi cần thiết trên trái đất. Điều này nên được
141 mọi người tìm đạo ghi nhớ kỹ, và nên dùng như là một động lực trong việc làm cho sự sống ở cõi hiện tượng bên ngoài trùng khớp với sự thúc đẩy tâm linh.
3 − Việc sử dụng Thánh Ngữ cũng có vị trí của nó trong công tác huyền thuật của Thánh Đoàn. Các hình-tư-tưởng được tạo ra để hiện thân cho các ý tưởng, và các hình hiện thân này được gởi ra để tiếp xúc với thể trí của các đệ tử, những người chịu trách nhiệm trong nhóm của một Chân Sư để xúc tiến thiên cơ.
Nhờ tính dễ tiếp thu được trau dồi của thể trí được phát triển và được kiểm soát, những người tìm đạo trở nên ý thức được các ý tưởng mà các Chân Sư đưa ra từ cõi của Thiên Trí (Universal Mind), và do đó ở vào một vị thế để hợp tác một cách thông minh. Đến lượt họ, như Qui Luật này muốn nêu ra, họ tạo ra các hình tư tưởng của những tư tưởng đã nhận, và sử dụng chúng trong các nhóm của họ để trợ giúp thế gian. Công việc chính của một đệ tử trên cõi trí là tự rèn luyện để thực hiện bốn việc:
1. Dễ tiếp thu ý định của Chân Sư.
2. Vun bồi một sự hiểu biết đúng đắn bằng trực giác về những tư tưởng do Chân Sư gửi đến cho y.
3. Thể hiện các ý tưởng nhận được theo hình thức sao cho sẽ phù hợp với các ý tưởng mà y được tham gia trợ giúp.
4. Thông qua âm thanh, ánh sáng và sự rung động để làm cho hình-tư-tưởng của y linh hoạt (thể hiện tư tưởng đại đồng càng nhiều thì càng đáng mong muốn) để cho các thể trí khác có thể tiếp xúc với nó.
Như thế, các nhóm mới được tập hợp, được tổ chức, được dạy dỗ và được nâng cao, và như thế, Thánh Đoàn (hierarchy of Adepts) mới có thể đến với thế gian.
Dĩ nhiên, còn nhiều công dụng khác nữa, nhưng nếu các đạo sinh quyết chí suy ngẫm về ba công dụng này, họ sẽ có thể làm cho thêm nhiều công dụng nữa được truyền đạt sau này.
Tôi xin phép thêm rằng âm thanh chỉ có uy lực thực sự khi đệ tử đã học cách hạ thấp xuống những âm thanh thứ yếu.
142 Chỉ khi nào các âm thanh thông thường mà y phát ra vào ba cõi thấp được giảm bớt âm lượng và sự hoạt động, cũng như về số lượng, thì Diệu Âm (Sound) mới có thể được nghe thấy, và nhờ thế mới hoàn thành được mục đích của nó. Chỉ khi nào vô số những lời thốt ra được giảm bớt, và sự im lặng trong lời nói (speech) được trau dồi, thì Linh Từ (Word) mới có thể làm cho quyền năng của nó được cảm nhận trên cõi trần. Chỉ khi nhiều tiếng nói của bản chất thấp (phàm ngã), và của môi trường quanh ta được làm cho câm lặng, thì “Tiếng nói phát ra trong tĩnh lặng” mới sẽ làm cho sự hiện hữu của nó được cảm nhận. Chỉ khi nào âm thanh của nhiều dòng nước mất đi trong việc điều chỉnh những cảm xúc, thì những nốt trong trẻo của vị Chúa (God) của các dòng nước mới được nghe thấy.
Con người hiếm khi nhận thức uy lực (potency) của một lời nói (word), nhưng người ta nói rằng: “Thoạt đầu là Ngôi Lời (Word), và Ngôi Lời là Thượng Đế. Không có Ngôi Lời (Him, Ngài) thì không có bất cứ điều gì đã được tạo ra”. Do đó khi chúng ta đọc những lời này, trí chúng ta quay trở lại buổi bình minh của diễn-trình sáng tạo, khi mà, qua trung gian của âm thanh, Thượng Đế đã phán và các thế giới đã được tạo ra.
Người ta đã nói rằng “lực chính mà nhờ đó bánh xe của Thiên Nhiên được chuyển động theo một hướng phi thường là âm thanh”, vì âm thanh hay lời nói nguyên thủy làm rung động chất liệu mà mọi hình tướng đều được tạo ra từ đó, và phát khởi sự hoạt động vốn đặc trưng cho ngay cả với nguyên tử vật chất.
Tài liệu và các kinh sách của tất cả các quốc gia cổ, và các tôn giáo lớn đều chứng nhận cho hiệu quả của âm thanh trong việc tạo ra tất cả những gì hữu hình và có thể nhìn thấy. Những người Ấn giáo (Hindus) nói rất hoa mỹ rằng “Bậc Đại Ca-Sĩ (Great Singer) đã tạo dựng nên các thế giới, và Vũ Trụ là Khúc Ca (Song) của Ngài”. Đây là một cách khác để diễn tả cùng ý tưởng. Nếu điều này được hiểu rõ và khoa học về quan niệm này được thông hiểu phần nào, ý nghĩa của những lời lẽ của chính chúng ta và việc bày tỏ thành âm thanh trong lời nói gần như trở thành một biến cố rất trọng đại.
Âm thanh hoặc lời nói và việc sử dụng các lời lẽ đã
143 được các triết gia cổ đại (và đang ngày càng được các nhà tư tưởng hiện đại) xem như tác nhân cao nhất, được con người dùng để nắn tạo chính mình và môi trường xung quanh. Tư tưởng, lời nói và sự hoạt động theo đó trên cõi trần hoàn thành bộ ba (triplicity) vốn làm cho một người thể hiện chính mình, và đặt y vào đúng vị trí của y.
Mục đích của mọi lời nói (speech) là để khoác lên tư tưởng, và nhờ thế làm cho các tư tưởng của chúng ta sẵn sàng để sử dụng đối với những người khác. Khi nói, chúng ta gợi lên một ý tưởng và làm cho nó hiện hữu, và chúng ta mang những gì vốn được che giấu trong chúng ta thành sự diễn đạt có thể nghe thấy. Ngôn từ tiết lộ, và lời nói đúng đắn có thể tạo ra một hình thức có mục đích hữu ích, cũng như lời nói sai lạc có thể tạo ra một hình thức có một mục tiêu hiểm ác. Tuy nhiên vì không nhận thức được điều này mà ngày này qua ngày khác, chúng ta cứ nói không ngừng và vô trách nhiệm; chúng ta sử dụng lời nói, chúng ta làm tăng bội các âm thanh, và vây quanh chúng ta với các thế giới hình thể do chúng ta tự tạo ra. Do đó, có phải là không cần thiết, rằng trước khi nói chúng ta nên suy nghĩ, như vậy là nhớ đến huấn thị : “Ngươi phải đạt đến tri thức, trước khi ngươi có thể đạt đến lời nói” hay sao? Nhờ suy nghĩ, bấy giờ chúng ta hãy chọn những lời lẽ chân chính để diễn tả tư tưởng chân chính, cố gắng đưa ra cách phát âm chính xác, các giá trị thích hợp, và tính chất âm giọng theo đúng với từng lời mà chúng ta thốt ra.
Rồi thì lời nói được thốt ra của chúng ta sẽ tạo ra một hình tư tưởng, hình này sẽ hiện thân cho ý tưởng mà chúng ta có trong trí chúng ta. Lúc đó các lời lẽ của chúng ta cũng sẽ không mang một sự bất hài hòa nào, mà chúng sẽ bổ sung phần đóng góp của chúng vào hợp âm hài hòa vĩ đại, hay là từ ngữ (word) thống-nhất mà trách nhiệm của nhân loại cuối cùng phải thốt ra. Ngôn từ (speech) sai gây chia rẻ, và thật là quan trọng để ghi nhớ rằng từ ngữ (word), tức biểu tượng của sự thống nhất, thì thiêng liêng (divine), trong khi ngôn từ (speech) trong nhiều dạng thức của nó thì có tính con người (human).
Khi sự tiến hóa tiếp diễn, và gia đình nhân loại đạt đến vị trí đích thực của nó trong thiên cơ vĩ đại của vũ trụ, ngôn từ đúng và chính xác sẽ ngày càng được trau dồi, bởi vì chúng ta sẽ suy nghĩ nhiều hơn trước khi chúng ta thốt ra lời nói (words), hoặc như một huấn sư vĩ đại đã nói: “nhờ thiền
144 định chúng ta sẽ sửa chữa những lỗi lầm của lời nói không đúng”, và ý nghĩa của các hình thức ngôn từ, các âm thanh trung thực và chính xác, và tính chất lời nói sẽ trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết.
Từ ngữ quan trọng thứ hai trong Qui Luật thứ tư này là từ ngữ ánh sáng (light). Đầu tiên là âm thanh và rồi đến ảnh hưởng đầu tiên của âm thanh, đó là sự tuôn đổ của ánh sáng, gây ra sự tiết lộ về hình-tư-tưởng (thought form).
Ánh sáng được biết đến bởi những gì được tiết lộ. Sự vắng mặt của ánh sáng tạo ra sự phai nhạt đi, thành sự có vẻ không tồn tại của thế giới hiện tượng.
Hình-tư-tưởng được tạo ra bởi Diệu Âm (Sound) được dự định trở thành một nguồn mặc khải. Nó phải tiết lộ chân lý, và mang một khía cạnh của thực tại đến với sự nhận biết của kẻ bàng quan (onlooker). Do đó, tính chất thứ hai của hình-tư-tưởng trong công dụng cao nhất của nó, là nó mang ánh sáng đến cho những người cần nó, đến cho những người đang bước đi trong bóng tối.
Ở đây, Tôi không bàn đến ánh sáng với tư cách linh hồn, về mặt vũ trụ (cosmically) hoặc về mặt cá nhân. Tôi không đề cập đến ánh sáng như khía cạnh thứ hai phổ quát của thiên tính. Trong những Hướng Dẫn này, Tôi chỉ muốn bàn đến khía cạnh chân lý vốn sẽ làm cho người tìm đạo trở thành người phụng sự thực tiễn, và như thế giúp cho y hoạt động một cách sáng suốt. Công việc chính của y (và y sẽ ngày càng nhận thấy điều này là như vậy) là để tạo ra các hình-tư-tưởng để đưa sự thiên khải đến những người biết suy tư. Để làm điều này, y phải hoạt động về mặt huyền linh, và thông qua âm thanh của việc thở ra của mình, qua chân lý được khai mở theo nghi thức, y sẽ đưa ánh sáng và sự giác ngộ vào những nơi tối tăm của cõi trần.
Rồi sau cùng, y làm cho hình-tư-tưởng của y sống động nhờ vào năng lực tin chắc riêng của y, tri thức tinh thần và sức sống. Như vậy, ý nghĩa của từ thứ ba, sự rung động (vibration), xuất hiện. Thông điệp của y được nghe thấy, vì nó được phát ra; nó mang đến sự giác ngộ, vì nó truyền đạt Chân Lý và tiết lộ Thực Tại; nó vô cùng quan trọng, vì nó rung động cùng với sự sống của người sáng tạo ra nó, và được giữ cho tồn tại (in being) bao lâu mà tư tưởng, âm thanh
145 và sự thông tuệ của y còn làm sinh động nó. Điều này đúng đối với một thông điệp, một tổ chức, và mọi hình thức sự sống, chúng vốn chỉ là các ý tưởng được thể hiện của một đấng sáng tạo thuộc vũ trụ, hoặc thuộc con người.
Các đạo sinh sẽ nhận thấy thật đáng để hiểu ba từ ngữ thiết yếu này, và truy ra mối liên hệ của chúng với tất cả các hình-tư-tưởng được thể hiện – một vũ trụ, một cõi giới, một giới trong thiên nhiên, một chủng tộc, một quốc gia, một con người. Hãy xem xét các nhóm năng lực sáng tạo khác nhau – các Thái Dương Thượng Đế (solar Logoi), các Thái Dương Thiên Thần, con người, và các thực thể khác. Hãy xem xét các lĩnh vực của diễn trình sáng tạo và thấy Cổ Luận thật là đúng khi nó nói rằng:
“Âm thanh vang dội giữa các bánh xe khác nhau (bầu thế giới − ND) của vật chất vô thủy vô chung, và kìa, mặt trời và tất cả các bánh xe nhỏ (các hành tinh − ND) đã xuất hiện. Ánh sáng chiếu ra giữa nhiều bánh xe, và như thế, nhiều dạng thức của Thượng Đế (God), những khía cạnh khác nhau của chiếc áo choàng rực rỡ của Ngài chiếu sáng rực.
“Các bánh xe đang phập phồng rung động đã quay đều. Sự sống, dưới nhiều giai đoạn của nó và trong nhiều cấp độ của nó đã bắt đầu tiến trình khai mở, và kìa, thiên luật đã bắt đầu hoạt động. Các hình tướng đã phát sinh và biến mất, nhưng sự sống vẫn tiếp tục tiến tới (moved on). Các giới (kingdoms) xuất hiện, chứa đựng nhiều hình thức của chúng vốn thu hút nhau, hướng về nhau, và sau đó tách riêng ra, nhưng sự sống vẫn tiếp tục tiến tới.
“Nhân loại, che giấu Con của Thượng Đế, Linh Từ (Word) nhập thế, đã tuôn ra thành ánh sáng của sự mặc khải. Các giống dân (races) đã xuất hiện và biến mất. Các hình tướng, đang che lấp linh hồn sáng chói, xuất hiện, đạt được mục đích của mình và biến mất vào bóng đêm, nhưng kìa, sự sống tiếp tục tiến tới, lần này được phối hợp với ánh sáng. Sự sống hòa hợp với ánh sáng, cả hai phối hợp lại để tiết lộ một sự mỹ lệ và một quyền năng, một lực giải thoát tích cực, một sự minh triết và một tình bác ái, mà chúng ta gọi là một Con của Thượng Đế.
“Nhờ bởi nhiều Con của Thượng Đế, mà ở trung tâm sâu xa nhất của họ, vốn chỉ là một, nên Thượng Đế trong cương vị Từ Phụ (Fatherhood) của Ngài được biết đến. Tuy nhiên, sự sống đã được chiếu sáng đó vẫn tiếp tục tiến lên đến một giai đoạn đáng kính nễ của quyền năng, của lực sáng tạo, liên quan đến cái mà chúng ta nói: Chính là Chân Như (the All), Cái Bao Trùm (Container) của Vũ Trụ, trung tâm bền bĩ của các Bầu Hành Tinh (Spheres), Đấng Duy Nhất (the One).”
Chúng ta đã đề cập đến hai từ có ý nghĩa trong Qui Luật thứ tư – âm thanhánh sáng – và một ý tưởng tối quan trọng nổi lên. Linh hồn được biết như là ánh sáng, như
146 là chủ-thể-mặc-khải (revealer), trong khi trạng thái Tinh Thần sau đó sẽ được nhận biết như là âm thanh. Ánh sáng và sự giác ngộ hoàn toàn là quyền của bậc đệ tử đạt đến cuộc điểm đạo thứ ba, trong khi sự hiểu biết thực sự về âm thanh, về AUM tam phân, tức yếu tố tổng hợp trong sự biểu lộ chỉ xuất hiện đối với kẻ nào làm chủ ba cõi thấp (three worlds).
Từ ngữ sự rung động (vibration) phải thu hút sự chú ý của chúng ta tiếp theo đó, nhưng nó không thể bị tách rời khỏi từ ngữ kế tiếp trong chuỗi là hình tướng (form). Sự rung động, hiệu quả của hoạt động thiêng liêng, có hai phần. Có hiệu quả đầu tiên mà trong đó sự rung động (phát xuất từ lĩnh vực chủ quan khi đáp ứng với âm thanhánh sáng) tạo ra sự đáp ứng trong vật chất, và do đó thu hút hoặc tập hợp các nguyên tử lại với nhau, nhờ đó mà các phân tử, tế bào, các cơ quan, và cuối cùng là hình tướng hợp-nhất có thể được tạo ra. Khi điều này được thực hiện, thì trạng thái rung động sẽ được ghi nhận như là một lưỡng nguyên.
Qua trung gian của năm giác quan, hình tướng mới biết được khía cạnh rung động của mọi hình tướng khác trong môi trường mà chính nó là một thực thể đang hoạt động trong đó. Về sau, trong thời giankhông gian, hình tướng hoạt động đó ngày càng trở nên ý thức về rung động bên trong của riêng nó, và bằng cách truy trở lại rung động đó đến cội nguồn phát sinh của nó, nó mới bắt đầu biết đến Chân Ngã (Self), và sau đó đến Giới (Kingdom) của Chân Ngã. Nhân loại nói chung ý thức về môi trường chung quanh của nó và, qua thông tin được truyền đạt bởi thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác và khứu giác, hiểu biết về thế giới hiện tượng, tức cái vỏ bọc bên ngoài của Thượng Đế, và thiết lập sự giao tiếp giữa Chân Ngã với những gì chúng ta gọi là thế giới tự nhiên. Khi thể trí tiếp nhận và tổng hợp kiến thức này, chủ thể cư ngụ trong hình tướng trải qua các giai đoạn sau:
1. Ghi nhận sự rung động, và môi trường chung quanh tạo ảnh hưởng của nó lên trên hình tướng.
2. Ảnh hưởng này được ghi nhận, nhưng không được
147 hiểu. Con người, dưới tác động chậm và ổn định của ảnh hưởng rung động này, từ từ khơi dậy ý thức hoặc sự hiểu biết.
3. Môi trường chung quanh bắt đầu làm cho con người quan tâm, và con người cho là nó đáng ưa thích. Sự hấp dẫn của ba cõi thấp phát triển đều đặn và giữ con người ở tình trạng đầu thai trở đi trở lại. (Từ ngữ “re-iterated” [“trở đi trở lại”] theo đúng nghĩa và chính xác về mặt học thuật hơn là từ ngữ “lặp đi lặp lại” [“repeated”]. Mỗi người chúng ta thực sự là một lời nói trở đi trở lại (re-iterated word), ngân lên trong thời giankhông gian).
4. Về sau, khi sự rung động của các hình tướng xung quanh của thế giới thiên nhiên trở nên đơn điệu do tác động thường xuyên qua nhiều kiếp sống, con người bắt đầu trở nên không còn nghe thấy đối với thế giới hiện tượng quen thuộc của dục vọng. Y trở nên vô cảm với ảnh hưởng rung động của nó và càng ngày càng ý thức về sự rung động của Bản-Ngã (Self).
5. Về sau, trên Con Đường Dự Bị và Con Đường Đệ Tử, hoạt động rung động tinh tế hơn này gây nên một sức lôi cuốn ngày càng tăng. Thế giới bên ngoài không còn thu hút nữa. Thế giới bên trong của Bản Ngã nắm giữ vị trí tối quan trọng trong bản chất dục vọng.
6. Bằng cách sử dụng ngôn ngữ của tâm lý học hiện đại thì bên trong hình tướng bề ngoài, vốn là bộ máy đáp ứng đối với tiến trình trở nên ý thức về thế giới hiện tượng, vị đệ tử dần dần kiến tạo một bộ máy đáp ứng mới tinh anh hơn, nhờ đó mà có thể hiểu biết được các cõi giới chủ quan (bên trong) .
Khi đạt đến giai đoạn này thì tiếp sau đó là một sự kiên định bỏ đi sự tiếp xúc rung động với thế giới sắc tướng bên ngoài, và một sự tiêu mòn (atrophying) dục vọng theo chiều hướng đó. Tất cả dường như vô vị và không đáng ưa thích, và tất cả không còn làm thỏa mãn linh hồn nồng nhiệt và đang khao khát. Tiến trình khó khăn của việc tái định hướng về phía một thế giới mới, một trạng thái mới của bản thể và một tình trạng nhận thức mới được thiết lập, và vì bộ máy
148 đáp ứng tinh tế bên trong chỉ đang ở trong tình trạng phôi thai, nên có một cảm giác mất mát đang tàn phá, một sự mò mẫm trong bóng tối, và một giai đoạn đấu tranh và khám phá tâm linh, nó trắc nghiệm sức chịu đựng và sự kiên định về mục tiêu của người tìm đạo đối với chính các sự hạn chế.
Nhưng (và đây là điểm khích lệ cần được ghi nhớ) tất cả “đều được tiến hành theo thiên luật, và không gì có thể cản trở công việc tiến tới”. Hãy lưu ý các lời này trong Qui Luật IV. Sẽ đến một giai đoạn khi mà một người quả thật và thực sự “được đặt nền móng trên đá” (“founded on the rock”), và mặc dù y có thể trải nghiệm sự luân phiên của ánh sáng và bóng tối, mặc dù những làn sóng của nước thanh luyện có thể chảy cuồn cuộn lên anh ta, và đe dọa cướp đi đôi chân của y, và mặc dù y có thể tự cảm thấy mình trở nên điếc, câm và mù, cuối cùng không gì có thể làm thất bại mục tiêu của linh hồn. Tất cả những gì còn đang thiếu là thể tinh thần phát triển, thể này vốn được trang bị để đáp ứng với sự rung động của thế giới tâm linh bên trong. Nó tồn tại ở dạng phôi thai, và điều bí mật để sử dụng nó nằm ở thái độ của não bộ đối với các chức năng của thể dĩ thái, vì nó tồn tại như một trung gian giữa não bộ, hệ thần kinhthể trí, hoặc giữa linh hồn, thể trínão bộ. Điều này không thể được nói chi tiết ở đây, nhưng lời gợi ý có thể được đưa ra cho người tìm đạo nhiệt tình suy ngẫm.
Do đó, chúng ta có các giai đoạn sau đây được đề cập đến trong Qui Luật IV và được nêu ra một cách rõ ràng dễ hiểu, nhưng với nguyên tắc tiết kiệm về cách diễn đạt, vốn là dấu hiệu đặc trưng cho tất cả các tác phẩm huyền bí và mang tính biểu tượng:
1. Sự tích hợp (integration) của hình tướng, như là kết quả của hoạt động của linh hồn, nhờ công dụng của:
a/ Âm thanh,
b/ Ánh sáng,
c/ Sự rung động.
2. Sự phát triển của một bộ máy đáp ứng để sử dụng trong thế giới hiện tượng.
3. Việc sau cùng quay lưng lại với thế giới hiện tượng, như là kết quả của việc sử dụng và sự chán ngấy tiếp theo 149 sau, và việc dần dần sử dụng bộ máy đáp ứng tinh tế hơn.
4. Bộ máy đáp ứng của linh hồn – gồm thể trí, thể dĩ thái, não và hệ thần kinh – được tái định hướng, và con người bắt đầu ý thức về giới linh hồn, tức một giới khác trong thiên nhiên.
5. Việc ngoảnh mặt đi khỏi lĩnh vực của thế gian sang lĩnh vực của linh hồn trở thành một thói quen huyền bí, và trong tư tưởng này có ẩn giấu bí mật của tâm lý học nội môn. Con người được trở nên ổn định trong đời sống tinh thần. Bây giờ không gì có thể cản trở được nữa.

KHOA HỌC VỀ HƠI THỞ

Bây giờ chúng ta đi đến các từ quan trọng trong Qui Luật IV. “Con người hít thở sâu”. Đây là một cụm từ bao gồm nhiều khía cạnh của cách sống nhịp nhàng. Đó là phương pháp kỳ diệu dành cho khoa học về kiểm soát sinh khí prana (Pranayama – sự điều khí). Nó bao hàm nghệ thuật của đời sống sáng tạo. Nó lôi cuốn một người vào sự hòa hợp với sự sống đang đập nhịp của chính Thượng Đế, và điều này nhờ vào tính dứt bỏ và sự tái định hướng (detachment and re- orientation).
Nó đặc biệt lý thú với tư cách là một sự thể hiện của tính súc tích (succinctness) và tính toàn diện của các cụm từ huyền bí như trong Qui Luật IV. Nghệ thuật thở được đề cập đến trong ba giai đoạn (phases), và Tôi giới thiệu ba giai đoạn này cho mỗi người trong các bạn để xem xét thật cẩn thận.
Đầu tiên có trạng thái Hít Vào (Inhalation). “Người hít thở sâu”. Từ tận nơi sâu nhất của bản thể (being) của y, y hít hơi thở vào. Trong diễn trình của đời sống hiện tượng, con người hít vào chính hơi thở của sự sống từ linh hồn. Đây là giai đoạn đầu tiên. Trong tiến trình tự tách mình ra khỏi đời sống hiện tượng, y rút sự sống từ nơi sâu nhất của bản thể của y, và trải nghiệm sự sống, để cho nó có thể được hoàn trả lại cho cội nguồn phát xuất của nó. Trong đời sống huyền linh của đệ tử, khi y phát triển một công dụng mới và tinh vi hơn của bộ máy đáp ứng của mình, đó là y thực tập khoa học
150 về hơi thở, và phát hiện ra rằng nhờ việc thở sâu (bao gồm ba giai đoạn hơi thở sâu, giữa, và đỉnh – three stages of deep, middle and top breath), y có thể đưa thể sinh lực của y với các trung-tâm-lực của nó vào hoạt động trong thế giới của các kinh nghiệm nội môn. Như thế, ba trạng thái của “việc hít thở sâu” bao gồm toàn bộ sự trải nghiệm của linh hồn, và mối quan hệ với ba kiểu thở, được đề cập đến ở trên, có thể được thực hiện bởi người tìm đạo có quan tâm.
Tiếp theo chúng ta đọc thấy “y tập trung các lực của mình”. Ở đây chúng ta có giai đoạn được ngụ ý, vốn có thể được gọi là sự giữ lại hơi thở (retention of the breath). Nó là việc giữ lại tất cả các lực của sự sống một cách kiên trì ở chốn im lặng, và khi điều này có thể được thực hiện dễ dàng và với việc quên lảng tiến trình nhờ sự quen thuộc và kinh nghiệm, thì khi đó con người có thể thấy, nghe và hiểu biết trong một lĩnh vực khác hơn thế giới hiện tượng. Theo ý nghĩa cao hơn thì đây là giai đoạn nhập định (contemplation), là giai đoạn “tạm lắng (lull) giữa hai hoạt động” như nó đã được gọi một cách thích hợp như vậy. Linh hồn, hơi thở, sự sống đã rút ra khỏi ba cõi thấp, và ở trong “chốn bí nhiệm của cõi cao thâm nhất”, trở nên thanh thản (at rest) và an bình (at peace), nhập định vào thị kiến phúc lạc (contemplating the beatific vision). Trong đời sống của vị đệ tử năng động, có những thời kỳ chuyển tiếp (interludes) được tạo ra mà mỗi đệ tử đều biết, khi mà (nhờ hạnh dứt bỏ và năng lực triệt thoái) y không còn bị bất cứ thứ gì trong thế giới sắc tướng nắm giữ. Trong khi y chỉ đang phấn đấu hướng về sự hoàn thiện và chưa đạt được, thì các khoảng thời gian tĩnh lặng, rút lui (withdrawingness) và không bị ràng buộc này thường thì khó khăn và đen tối. Mọi sự đều yên lặng và y trở nên kinh sợ bởi điều không được biết, và bởi cái có vẻ tĩnh mịch trống rỗng mà y đang ở trong đó. Trong các trường hợp tiến hóa thì sự kiện này được gọi là “đêm đen của linh hồn” – đó là khoảnh khắc trước lúc bình minh, giây phút trước khi ánh sáng tuôn tràn.
Trong khoa học về Thuật Điều Khí (Pranayama), đó là thời điểm đi theo với việc hít vào, trong đó tất cả các lực của cơ thể (qua trung gian của hơi thở) được đưa lên đầu, và được tập trung ở đó trước khi đến giai đoạn thở ra. Thời
151 điểm lưu giữ này, khi được tiến hành một cách thích hợp, tạo ra một khoảng thời gian tập trung mãnh liệt, và chính vào lúc này mà người tìm đạo phải nắm lấy cơ hội. Nơi đây có một gợi ý.
Rồi đến tiến trình thở ra (exhalation). Chúng ta đọc trong Qui Luật IV “y xua hình-tư-tưởng ra khỏi y”. Đây bao giờ cũng là kết quả của giai đoạn cuối cùng của khoa học về hơi thở. Hình-tư-tưởng đó, được truyền sinh khí (vitalized) bởi người hít thở đúng nhịp điệu, lại được gửi ra để thực hiện công việc của nó và hoàn thành nhiệm vụ của nó. Hãy nghiên cứu ý tưởng này một cách cẩn thận, vì nó nắm giữ bí mật của hoạt động sáng tạo.
Trong kinh nghiệm của linh hồn, hình thể cho sự biểu lộ trong ba cõi thấp được tạo ra nhờ sự thiền định mãnh liệt, nó bao giờ cũng là hoạt động song song của việc thở. Kế đó, bằng một tác động của ý chí dẫn đến việc “thở ra”, và được sinh ra hoặc được đạt đến một cách năng động trong thời gian chuyển tiếp (interlude) của sự nhập định hoặc lưu giữ hơi thở, hình thể tạo ra được đưa vào thế giới hiện tượng, để dùng như một đường truyền kinh nghiệm, một phương tiện biểu lộ và một bộ máy đáp ứng trong ba cõi thấp của đời sống con người.
Trong đời sống của người môn đệ, nhờ thiền định và giới luật, y học cách để đạt được những khoảnh khắc cao của thời kỳ chuyển tiếp, bất cứ khi nào y tập trung các sức mạnh của mình trên cõi của sự sống linh hồn, và sau đó một lần nữa bằng một tác động của ý chí của mình, y truyền thổi ra các mục đích tâm linh, các kế hoạch và sự sống vào thế giới của kinh nghiệm. Các hình-tư-tưởng mà y đã kiến tạo đối với phần việc mà y phải tham gia, và sự tập trung năng lượng mà y đã thành công trong việc mang lại, bắt đầu có hiệu quả. Năng lượng cần cho bước tiếp theo được linh hồn thở ra và chuyển xuống vào thể sinh lực, nhờ thế kiến tạo khí cụ vật chất với hoạt động xây dựng cần thiết. Khía cạnh đó của kế hoạch mà y đã thấu hiểu trong lúc nhập-định, và phần đó của mục đích chung của Thánh Đoàn, mà linh hồn của y cảm thấy được yêu cầu hợp tác trong đó, được thở ra cùng một 152 lúc, xuyên qua thể trí vào trong não bộ, và như thế “y xua các hình-tư-tưởng ra khỏi y”.
Cuối cùng, trong khoa học về Điều Khí, giai đoạn này bao gồm hơi thở ra đó, khi được tiến hành với tư tưởng và mục tiêu hữu thức đằng sau nó, dùng để tiếp sinh lực cho các trung tâm lực và lấp đầy mỗi trung tâm lực đó với sự sống năng động. Còn nhiều điều nữa không cần nói ở đây.
Như vậy, trong khoa học về việc “thở sâu” này, chúng ta có toàn bộ diễn trình về công việc sáng tạo và về sự khai mở dần dần của Thượng Đế trong thiên nhiên được bao gồm trong đó. Đó là diễn trình mà nhờ đó Sự Sống, Sự Hiện Tồn Duy Nhất, đã làm cho thế giới hiện tượng xuất hiện, và Qui Luật IV là một tóm tắt có hệ thống của Sự Sáng Tạo. Đó cũng là thể thức mà linh hồnnhân hoạt động theo đó, khi nó tập trung các sức mạnh của mình để biểu lộ trong ba cõi kinh nghiệm của con người.
Việc vận dụng đúng đắn Sinh-Khí (Life-Breath) là toàn bộ nghệ thuật mà người tìm đạo, bậc đệ tửđiểm đạo đồ đang hoạt động ở đó, tuy nhiên ghi nhớ kỹ rằng khoa học về hơi thở của xác thân là khía cạnh ít quan trọng nhất và nó liên tục theo sát việc sử dụng đúng đắn năng lượng, vốn là từ ngữ mà chúng ta áp dụng cho hơi thở thiêng liêng hay là sự sống.
Cuối cùng, trong đời sống trí tuệ của người môn đệ, và trong công việc lớn lao là học hỏi để thành một chủ thể sáng tạo hữu thức trong chất trí, và như thế tạo ra các kết quả trong thế giới hiện tượng, Qui Luật thứ tư này nắm giữ các hướng dẫn mà công việc này được dựa vào đó. Nó tiêu biểu cho khoa học về toàn bộ công tác huyền thuật (magical work).
Do đó, Qui Luật này bảo đảm cho việc xem xét và nghiên cứu chặt chẽ nhất. Được hiểu đúng và được nghiên cứu một cách đúng đắn, nó sẽ dẫn mỗi người tìm đạo ra khỏi thế giới hiện tượng, vào giới linh hồn. Các hướng dẫn của nó, nếu được thực hiện, sẽ dẫn dắt linh hồn trở lại vào thế giới hiện tượng với tư cách là lực sáng tạo trong huyền thuật về linh hồn và với tư cách là chủ thể vận dụng và là yếu tố chi phối hình tướng và thông qua hình tướng.
Trong việc đào tạo các đạo sinh Phương Tây không bao
153 giờ đòi hỏi việc tuân thủ mù quáng không biết thắc mắc. Các gợi ý được đưa ra về phương pháp và về một kỹ thuật vốn đã được chứng minh là có hiệu quả trong hàng ngàn năm nay và với nhiều đệ tử. Một số qui luật về việc thở, về tiến trình hữu ích và về cách sống thực tế trên cõi trần sẽ được truyền đạt, nhưng trong việc đào tạo loại đệ tử mới trong kỷ nguyên sắp tới, chính ý muốn của vị Gurus và Rishis đang trông nom là họ sẽ được để tự do hơn là trường hợp từ trước đến giờ. Điều này có thể hàm ý một sự phát triển hơi chậm hơn lúc đầu nhưng hy vọng sẽ đưa đến một sự khai mở (unfoldment) nhanh hơn trong các giai đoạn sau trên Con Đường Điểm Đạo.
Do đó, các đạo sinh được thúc đẩy tiến tới trong thời kỳ luyện tập của họ với lòng can đảm và niềm vui, do biết rằng họ là các thành viên của một nhóm các đệ tử, vì biết rằng họ không đơn độc mà biết rằng sức mạnh của nhóm là sức mạnh của họ, sự hiểu biết của nhóm cũng là hiểu biết của họ, khi họ phát triển khả năng để hiểu biết về nó, − và cũng biết rằng bác ái, minh triết và sự hiểu biết của các Huynh Trưởng (Elder Brothers) đang trông nom ở phía sau của mọi Đứa Con Thượng Đế đang cố gắng vươn lên, mặc dù có vẻ như (và một cách khôn ngoan) y bị bỏ mặc để chiến đấu đến cùng, đạt tới ánh sáng bằng sức mạnh của chính linh hồn toàn năng của mình.

155 Qui Luật Năm

Ba sự việc lôi cuốn Thái Dương Thiên Thần (Solar Angel) trước khi lớp vỏ (sheath) được tạo ra chuyển xuống phía dưới; tình trạng của nước, sự an toàn của người sáng tạo như thế, và sự nhập định kiên định. Như thế, tim, cổ họng và mắt, được kết hợp cho việc phụng sự tam phân.

Linh hồn và các Hình-Tư-Tưởng của nó.
Tim, cổ họng và mắt.
Việc khơi hoạt các bí huyệt.

157 Qui Luật Năm
LINH HỒN VÀ CÁC HÌNH-TƯ-TƯỞNG CỦA NÓ
Chúng ta đã bàn đến các tiến trình sáng tạo khi chúng liên quan với :
1. Đấng Tạo Hóa của một thái-dương-hệ hoặc một hành-tinh-hệ.
2. Chân Ngã (Ego), khi nó tạo ra thể biểu lộ của nó. Ở đây nên nhớ rằng toàn bộ gia đình nhân loại đã được đưa vào biểu lộ bởi một nhóm các egos tương đương.
3. Con người, khi y tạo ra các hình-tư-tưởng mà y tự thể hiện chính mình qua chúng, y hoạt động thông qua chúng, và y bị bao quanh bởi chúng. Ở đây cũng nên ghi nhớ rằng công việc sáng tạo xác định này chỉ có thể xảy ra với những người hoạt động trên các mức độ trí tuệ − các nhà tư tưởng của thế gian và các đệ tử của các Chân Sư.
Trong mọi trường hợp, như chúng ta đã thấy, hình tướng khách quan là kết quả của thiền định về mặt của lực sáng tạo, của sự đáp ứng từ vật chất được tác động vào bởi lực được sản sinh trong thiền định, nhờ đó tạo ra việc kiến tạo hình tướng, và việc sử dụng nó nhờ âm thanh. Điều này được nối tiếp bằng giai đoạn mà trong đó hình tướng được nhìn thấy trong thế giới khách quan, và trở thành một thực thể sinh động đầy ấn tượng. Như vậy là “Ngôi Lời Lâm Phàm”, và do đó làm cho mọi hình tướng – các vũ trụ, con người, và các tư tưởnglinh hồn (ensouled thoughts) – bắt đầu xuất hiện.
Qui luật thứ năm này đề cập đến ba yếu tố vốn lôi cuốn sự chú ý của tác nhân sáng tạo, trước khi hình hài vật chất (physical form) hiện ra trong tầm nhìn trên cõi bên ngoài. Ba yếu tố này là:
158 1. Tình trạng của nước (condition of the waters).
2. Sự an toàn của người sáng tạo như thế (the safety of the one who thus creates).
3. Sự nhập định kiên định (steady contemplation).
Chúng ta sẽ đề cập vắn tắt ba điều này, và kế đó chúng ta sẽ xem xét ba yếu tốđệ tử cần phải liên kết nếu y luôn luôn nhắm vào việc trở thành một người cộng tác tích cực và đầy năng lực với Thánh Đoàn. Các yếu tố này là Mắt, Tim, Cổ Họng. Việc giải thích và ý nghĩa của các qui luật này có thể được tiến hành theo một vài đường lối. Đối với các mục đích của chúng ta, đường lối được theo sẽ là đường lối liên quan đến đệ tử và công việc của y, và sẽ đề cập đến việc huấn luyện y theo công tác huyền thuật của Chân Ngã, khi Chân Ngã đó chiếm ngụ và sử dụng một hình hài vật chất. Những giáo huấn này được dự định trở thành thực tế; chúng sẽ nhấn mạnh việc luyện tập và giới luật của đệ tử, và được phổ biến khắp nơi, người ta sẽ tìm thấy những ngụ ý và gợi ý huyền bí mà, khi được noi theo, sẽ dẫn người tìm đạo đến thực nghiệm và trải nghiệm chân lý. Những người không phải là người tìm đạo thực sự sẽ không nhận ra các gợi ý, và do đó sẽ được giữ khỏi sự nguy hiểm và kinh nghiệm quá sớm.
Vậy, chúng ta hãy xem xét ba yếu tố đang thu hút sự chú ý của chúng ta, và chúng ta hãy xét chúng theo quan điểm của con người, tức là kẻ đang tạo ra các hình-tư-tưởng, chứ chủ yếu không theo quan điểm của một Đấng Sáng Tạo thái dương hệ (solar Creator), hoặc của một Chân Ngã (ego), đang chuẩn bị tái sinh qua trung gian của hình hài. Hai ý tưởng bổ sung ở đây thật có giá trị. Một là tiến-trình tạo ra các hình-tư-tưởng là một phần của công việc được thực hiện bởi mỗi người tìm đạo trong khi thiền định hằng ngày. Nếu đạo-sinh nhớ rằng mỗi lần y ngồi xuống cho việc thiền định buổi sáng là y đang học cách kiến tạo và làm linh hoạt các hình-tư-tưởng, thì công việc của y có thể có được sự quan tâm nhiều hơn. Khuynh hướng của hầu hết những người tìm đạo là bị bận rộn với các khuyết điểm của họ trong công việc thiền định và việc họ không thể kiểm soát thể trí của mình,
159 trong khi cả hai khía cạnh nỗ lực này của họ sẽ được trợ giúp, nếu chúng bị chiếm chỗ bởi công việc có tính cuốn hút sâu sắc là việc tạo ra hình-tư-tưởng.
Một ý tưởng phụ và ít quan trọng hơn, đó là khi các Chân Ngã đang chuẩn bị để có cơ thể con người, bị thu hút sâu vào việc thiền định, thì đồng tử (medium) bình thường rất khó có thể liên lạc với các Chân Ngã đó trong buổi cầu đồng thông thường. Cùng lắm, chỉ những ai vừa qua đời rất gần đây mới có thể được giao tiếp như thế, còn trong hầu hết trường hợp, họ ở trong tình trạng trừu xuất thâm sâu theo một loại khác. Không có thời gian hoặc mục đích trong việc mở rộng chủ đề này ở đây, nhưng thật là lý thú cho những ai tìm hiểu các vấn đề này.
1. Tình Trạng của Nước.
Tác nhân sáng tạo, tức con người, qua các thúc đẩy của một mục đích phối hợp, có ý định tham thiền và hoạt động sáng tạo, đã tạo ra hình-tư-tưởng mà y đang phú linh (ensouling) bằng sức sống riêng của mình và điều khiển với ý chí của mình. Đã đến lúc để cho hình-tư-tưởng đó được gửi đi theo sứ mệnh của nó, và để thực hiện mục tiêu tồn tại của nó. Như chúng ta đã thấy trong qui luật trước, hình-tư-tưởng được “xua” ra khỏi người tạo tác ra nó bằng sức mạnh của hơi thở ra. Đây là một phát biểu có tính biểu tượng, nhưng đồng thời là một sự kiện thực nghiệm trong công tác huyền thuật. Trong công việc của đệ tử, thường có sự thất bại do y không có khả năng để hiểu cả ý nghĩa huyền bí lẫn nghĩa đen của hơi thở ra này, khi y xúc tiến việc thiền định của mình. Hơi thở ra này là kết quả của giai đoạn đi trước của việc hít thở nhịp nhàng, được song hành bởi công việc thiền định có tập trung, rồi đến một sự tập trung chú ý rõ rệt và tập trung vào hơi thở, vì mục đích của hình-tư-tưởng tạo ra được xác định bằng trí, và cuối cùng là việc tiếp sinh lực cho hình-tưtưởng đó bởi người sáng tạo ra nó, và việc truyền năng lượng sau đó vào sự sống và hoạt động độc lập của nó.
Trở ngại đầu tiên cho hiệu lực của công việc là do sự
160 thất bại của vị đệ tử khi tiến hành các hoạt động này cùng một lúc. Nguyên nhân thứ hai của sự thất bại nằm ở việc y không chú ý xem xét tình trạng của nước, hay là trạng thái của chất liệu tình cảm (emotional substance) mà hình trí tuệ này phải đến, và như thế thu hút vào nó vật chất của cõi cảm dục, điều này sẽ cho phép nó trở thành một thực thể hoạt động trên cõi đó. Nếu nó không thể làm được điều này, thì cuối cùng nó chỉ là một hình-tư-tưởng chết trên cõi trí, vì nó sẽ thiếu lực thúc đẩy đó của dục vọng, vốn cần để đưa nó tiến tới chỗ hoàn tất trên cõi trần.
Thật thú vị khi nhớ điều này: Nếu một hình-tư-tưởng được đưa vào thế giới cảm xúc để thu thập cho nó một thể của ham muốn (lực thôi thúc vốn tạo ra mọi biểu lộ ngoại tại – objectivity) và được nhấn chìm vào một “tình trạng của nước”, vốn có thể được mô tả tốt nhất như là hoàn toàn ích kỷ, thì tất cả những gì xảy ra là như sau: Nó bị mất, do bị hút vào thể cảm dục của vị đệ tử, vốn là điểm tập trung cho mọi năng lượng cảm dục mà người đệ tử sử dụng. Nó bị cuốn vào một lốc xoáy, mà thể cảm dục cá nhân là trung tâm của lốc xoáy đó, và đánh mất sự sống riêng biệt của nó. Sự so sánh về xoáy nước có giá trị ở đây. Chủ thể tư tưởng giống như một người ném một chiếc thuyền đồ chơi từ trong bờ vào một dòng nước. Nếu anh ta ném chiếc thuyền đó vào một xoáy nước, nó bị hút ngay vào xoáy trung tâm và thế là biến mất. Nhiều hình-tư-tưởng được tạo ra như thế bởi một người tìm đạo trong công việc thiền định của y bị mất và thất bại trong mục tiêu của chúng, vì tình trạng hỗn loạn và xoay tít của thể tình cảm của người tìm đạo. Thế là các ý định tốt lành trở thành số không; thế là mục đích tốt đẹp và công việc được hoạch định cho Chân Sư không thành hiện thực, bởi vì, khi hình-tư-tưởng đi xuống vào cõi của ham muốn và cảm xúc, nó chỉ tiếp xúc với khối nước đang kích động vì sợ hãi, vì nghi ngờ, vì thù hận, vì sa đọa hoặc sự ham muốn hoàn toàn vật chất. Các điều này mạnh hơn hình-tư-tưởng bé nhỏ, nhấn chìm nó, và nó đi ra khỏi tầm mắt và ra khỏi sự tồn tại, và con người trở nên ý thức một nỗ lực nữa sớm thất bại.
161 Hoặc một lần nữa, “tình trạng của khối nước” không phải là tình trạng của một xoáy nước được tự sinh ra, mà được liên kết nhiều hơn với vòng xoáy của một vũng nước, bị khuấy động thành một cơn sóng nổi bọt và sôi sục, thông qua các hoạt động của các vòng xoáy khác. Có nhiều đệ tử đã đạt đến một mức độ khá cao về việc tự kiềm chế và sự vô vị lợi cá nhân. Họ không phải là những nạn nhân của sự ham muốn và các mục tiêu của phàm nhân; và tương đối thoát khỏi vòng xoáy của các xu hướng ích kỷ. Nhưng thể cảm dục của họ hết lần này đến lần khác bị cuốn vào một trạng thái kích động bởi tập thể mà vì đó và trong đó họ làm việc. Họ phấn chấn hoặc chán nản, hài lòng hoặc không hài lòng với các kết quả mà họ đạt được hoặc không đạt được; sự thành đạt hoặc thiếu thành đạt này, và sự trung kiên hoặc sự phản bội (disloyalties) của những người phụng sự cùng hội với họ, tạo ra sự kích động và sự xáo trộn tình cảm, và do phản ứng mạnh mẽ này, các hình-tư-tưởng của họ, được tạo ra một cách rất cần mẫn và đầy sùng tín, trở thành vô ích. “Kỹ năng trong hành động” của họ bị mất đi, bởi vì họ bị ràng buộc vào kết quả mong muốn và vì thế mà công sức của họ không tạo ra gì cả.
Có nhiều “tình trạng của nước” khác mà mỗi người tìm đạo có thể bổ khuyết cho chính mình. Tuy nhiên có một điều nữa mà Tôi muốn đề cập đến. Thể tình cảm của đệ tử, vốn phải nuôi nấng và chăm bón cho hình-tư-tưởng còn ấu trĩ (với hạt nhân trí tuệ của nó), là một phần tất yếu của hình thể tình cảm của hành tinh, và do đó rung động hòa hợp với hình thể đó. Điều này cũng nên được xem xét một cách cẩn thận, vì thể tình cảm được đưa vào một trạng thái hoạt động theo như tình trạng cảm dục chung, và phải được vận dụng một cách khôn ngoan từ góc độ này.
Vào lúc này có ba tính chất chiếm ưu thế trong hình thể cảm dục của hành tinh – sự sợ hãi, sự trông mong và một sự ham muốn tột độ (trong gia đình nhân loại) đối với việc sở hữu vật chất. Hãy lưu ý thuật ngữ “tột độ” (“climaxing”). Sự tổng kết ham muốn của con người đối với hạnh phúc vật chất đã được hoàn thành, và đỉnh cao của sự ham muốn đó đã được vượt qua; như thế nhân loại đã thành tựu và đã vượt qua phần lớn. Nhưng sự nhịp nhàng của các thời kỳ thì bền vững.
162 Ba tính chất này phải được người tìm đạo hiểu rõ và không cần để ý tới khi y tìm cách phụng sự từ các phân cảnh trí tuệ. Ở chỗ của sự sợ hãi, y phải thay thế bằng sự yên tĩnh vốn là đặc quyền của những người luôn luôn sống trong Ánh Sáng Vĩnh Hằng; ở nơi mà sự triển vọng không chắc chắn, y phải thay thế bằng sự quả quyết điềm tĩnh nhưng tích cực về mục tiêu cuối cùng vốn xuất phát từ một tầm nhìn rộng rãi về Thiên Cơ, và sự giao tiếp của y với các đệ tử khác, và sau đó với Chân Sư. Sự ham muốn sở hữu vật chất phải được thay thế bằng sự khao khát (aspiration) đối với các sở hữu vốn là niềm vui của linh hồn – đó là minh triết, bác ái và năng lực phụng sự. Sự yên tĩnh, sự quả quyết và khát vọng chân chính! Ba từ này, khi được hiểu rõ và được trải nghiệm trong đời sống mỗi ngày, sẽ mang lại “tình trạng của nước” đúng đắn, vốn sẽ đảm bảo sự tồn tại của mỗi hình-tư-tưởng, được tạo ra chính đáng trong khi tham thiền bởi người đang hoạt động như một linh hồn.
2. Sự AnToàn của Người Sáng Tạo Như Thế.
Ở đây, có thể nói với sự nhấn mạnh, mặc dù đó là một chuyện hiển nhiên được công nhận, rằng con người thường bị giết chết (theo nghĩa huyền bí và do đó theo ý nghĩa quan trọng hơn) bởi chính các hình-tư-tưởng của riêng họ. Việc tạo ra tư tưởng, qua định trí và thiền định, là một vấn đề rất đỗi nguy hiểm. Điều này phải không bao giờ được quên. Có các hình-tư-tưởng, không bị trở ngại bởi chất liệu đầy dục vọng (much desire matter), không chuyển xuống dưới, nên đầu độc con người trên các phân cảnh trí tuệ (mental levels). Chúng làm điều này theo hai cách:
1. Bằng cách phát triển quá mạnh trên cõi trí đến nỗi con người trở thành một nạn nhân cho sự việc mà y đã tạo ra. Đây là “định kiến” (“idée fixe”) của nhà tâm thần học; sự ám ảnh dẫn tới tình trạng điên rồ; đường lối tư tưởng nhất tâm cuối cùng đe dọa (terrorises) kẻ tạo ra nó.
2. Bằng cách tăng thêm quá nhanh, đến nỗi hào quang thể trí của con người trở nên giống như một đám mây dày 163 đặc mà ánh sáng của linh hồn không đi xuyên qua đó được, và tình thương của con người, các hoạt động đáng yêu, đẹp đẽ, và dễ chịu của thiên nhiên và của cuộc sống trong ba cõi thấp cũng không xuyên qua đó được. Con người bị phủ kín, bị ngạt thở bởi các hình-tư-tưởng của chính mình, và không chống nỗi với độc khí mà chính y đã tạo ra.
Hay, lại nữa, có những đường lối tư tưởng thu hút ra khỏi thể tình cảm một phản ứng có tính chất độc hại. Một đường lối tư tưởng nào đó mà một người theo đuổi có liên quan tới đạo hữu của y. Nó nuôi dưỡng lòng hận thù, ghen ghét và đố kỵ, và tác động đến cùng thành sự biểu lộ theo một cách thức đến nỗi mà nó tạo ra những hoạt động ở cõi trần, và những hoạt động này gây ra cái chết cho người tạo ra chúng. Điều này có thể đúng như trong trường hợp của tội giết người, mà trong nhiều trường hợp, là kết quả của ý định được kết tinh, hoặc nó có thể dẫn đến bệnh tật. Tư tưởng trong sạch, động cơ đúng đắn và ước vọng yêu thương, là các điều-chỉnh (correctives) thực sự của bệnh tật, và nơi nào mà sự mong muốn về các điều này (vốn tạo hứng thú cho nhiều người) được nâng lên thành cách suy nghĩ có tính xây dựng, thì sẽ có việc loại bỏ dần dần tật bệnh. Cho đến nay, mặc dù có nhiều người mong muốn, nhưng chỉ có ít người suy nghĩ như vậy. Đừng bao giờ quên rằng các Đấng Cao Cả không tìm kiếm những người chỉ có mong muốn và khát vọng. Các Ngài tìm kiếm những người biết phối hợp ước muốn của họ với sự quyết tâm học cách sử dụng thể trí của họ để trở thành những người sáng tạo, và những người sẽ làm việc một cách xây dựng hướng về những mục tiêu này.
Do đó người ta sẽ thấy tại sao, trong mọi hệ thống huấn luyện huyền linh thực sự, sự nhấn mạnh được đặt vào việc tư duy đúng đắn, ước muốn bác ái, và đời sống thanh khiết, trong sạch. Chỉ có như vậy thì công việc sáng tạo mới có thể được xúc tiến một cách an toàn, và chỉ có như vậy thì hìnhtư-tưởng mới có thể đi xuống vào thế giới khách quan, và là một tác nhân kiến tạo trên cõi hiện tồn của con người.
3. Sự nhập định kiên định (Steady Contemplation).
Bạn sẽ chú ý rằng ở đây từ ngữ “thiền định” (“meditation”) không được sử dụng. Tư tưởng là một điều
164 khác hẳn. Tiến trình thiền định, bao hàm việc sử dụng tư tưởng và kiến tạo hình thể của trí tuệ, để nó có thể được hoàn thành và được làm cho đầy đặn, và phù hợp với hình-tưtưởng của nhóm đệ tử đồng môn của vị đệ tử, và do đó đối với Thiên Cơ, tiến trình thiền định đã được hoàn thành đến hết khả năng của con người. Bây giờ y phải, một cách kiên định, chiêm nghiệm những gì mà y đã tạo ra, và cũng với sự kiên định, truyền cho nó sự sống cần thiết, để nó có thể hoàn thành chức năng của nó.
Y ngưng lý luận, ngưng suy tưởng, ngưng diễn đạt và ngưng kiến tạo trong chất trí. Y chỉ tuôn đổ sự sống của mình vào hình-tư-tưởng và gửi nó ra để tiến hành ý muốn của mình. Chỉ cần là y có thể suy ngẫm và giữ điềm tĩnh, nhờ đó sự sáng tạo của y sẽ hoàn thành ý định của y và tác động như là tác nhân (agent) của y.
Chỉ chừng nào y có thể tập trung sự chú ý của mình vào lý tưởng mà theo đó y đã tạo ra hình-tư-tưởng của mình, và có thể liên kết hình-tư-tưởng đó và lý tưởng lại với nhau trong một tầm nhìn vững chắc, chỉ khi đó hình tư tưởng đó mới phục vụ mục đích của y và thể hiện lý tưởng của y. Ở đây có ẩn cái bí mật của toàn bộ sự hợp tác thành công với Thiên-Cơ (Plan).
Bây giờ chúng ta sẽ nghiên cứu trong chốc lát các từ “tim, cổ họng và mắt”, vì chúng có một ý nghĩa đặc biệt. Ba bộ phận này tạo thành bộ máy mà mọi đệ tử đều dùng đến trong chu kỳ thế giới đang đến rất nhanh này.
Điều hết sức thật là cho đến nay không có được một đoàn thể rất rộng lớn của các đệ tử đang lâm phàm vào thời điểm này, và bộ máy với nhiều người đang hoạt động ở cấp độ đệ tử chỉ đang trong giai đoạn phôi thai. Tuy nhiên, nên nhớ rằng chu kỳ thế giới chỉ vừa mới được khai mở và sẽ bao gồm một khoảng thời gian rộng lớn. Chỉ có khoảng bốn trăm đệ tử nhập môn trên thế giới vào lúc này – nghĩa là, những người nam và nữ thực sự biết họ là đệ tử, biết công việc của họ là gì và đang thực hiện công việc đó. Tuy nhiên vẫn có hàng trăm người (trong thế hệ những người trẻ tuổi hiện tại) sắp được thu nhận, và hàng ngàn người đang ở trên con đường dự bị (probationary path).
165 Trong tất cả các nhóm nội môn thực sự, sẽ hình thành ở đó một nhóm mà trong đó một sự hiểu biết mang tính trí tuệ về cơ cấu này của tim, cổ họng và mắt sẽ được nhận thấy. Nó sẽ được thành lập gồm những người đang tự đặt mình vào một giới luật và một sự huấn luyện, việc đó sẽ làm cho công dụng của nó thành một sự thực được chứng minh trong thiên nhiên đối với họ. Tôi muốn kêu gọi chú ý đến những lời này, và đề nghị nghiên cứu chúng cẩn thận.
Một bộ máy trong cơ thể thiên nhiên được sử dụng theo hai cách: Thứ nhất, việc sử dụng nó là không cố tình, và không có sự hiểu biết về việc làm thế nào, hoặc tại sao, hoặc khi nào mà bộ máy được sử dụng. Một con thú sử dụng một bộ máy, trong nhiều khía cạnh, tương tự với bộ máy mà con người sử dụng. Nó thấy, nghe và hoạt động một cách có hệ thống theo các đường lối tương tự như con người, nhưng lại thiếu sự hiểu biết về trí tuệ và sự liên kết nhân và quả, vốn là đặc trưng của giới cao trong thiên nhiên.
Một tình trạng các sự việc tương tự tồn tại trong các giai đoạn đầu của con đường đệ tử và các giai đoạn cuối cùng của con đường dự bị. Đệ tử bắt đầu ý thức các khả năng và các quyền lực mà từ trước đến giờ không ở dưới sự kiểm soát sáng suốt của y. Y trải nghiệm các lóe sáng của nội nhãn thông, và của tri thức mà dường như không thể hiểu nổi và không có giá trị tức thì. Y tiếp xúc với các rung động và các hiện tượng của các lĩnh vực khác, nhưng vẫn không ý thức được tiến trình mà theo đó y đã làm như vậy, và thiếu năng lực hoặc là để làm lại, hoặc nhớ lại kinh nghiệm. Bên trong thể dĩ thái của mình, y cảm nhận các mãnh lực đang hoạt động. Đôi khi y có thể xác định vị trí của các lực đó, và bất luận thế nào, y thừa nhận về mặt lý thuyết rằng có một cấu trúc thất phân đang thức tỉnh để đi vào hoạt động có ý thức, cấu trúc này có tính biểu tượng về mặt hình thức, và có hiệu lực khi được sử dụng. Từ trước đến nay y không thể kiểm soát nó, và y hoàn toàn không có khả năng kêu gọi nó vào sự hợp tác sáng suốt với các mục tiêu và các ý tưởng của mình, bất kể y cố gắng vất vả như thế nào. Tất cả những gì y có thể làm là ghi nhận các hiện tượng như vậy và lưu giữ hồ sơ của những kinh nghiệm này, luôn luôn nhớ rằng trong các giai đoạn đầu của việc khai mở của mình, chỉ có những rung
166 động thô kệch nhất và vật chất nhất sẽ được ghi nhận vào ý thức não bộ của mình. Y chỉ phải chờ đợi và đưa tâm trí của mình tập trung vào việc thanh luyện các hiện thể của mình, và loại bỏ tất cả những gì mà y nhận thấy gây ra cái nhìn sai lệch cho y. Giai đoạn này có thể dài hoặc ngắn tùy theo người tìm đạo đang nhập vào tâm thức chủ quan lần đầu tiên, hoặc
là đang tiếp tục đường lối của một công cuộc cũ, hoặc công cuộc đã được thành tựu một phần.
Ở đây, Tôi muốn minh giải một cách thật rõ ràng cho tất cả những người tìm đạo chân chính và nhiệt tình rằng, trong việc đào tạo sẽ được đưa ra trong vài thập niên tới, việc khai mở nhãn thông cảm dục (astral vision) và nhĩ thông cảm dục sẽ bị ngăn chận hoàn toàn, hoặc (nếu có) thì cuối cùng sẽ phải được khắc phục. Vị đệ tử chân chính đã cố gắng để tập trung chính mình (an trụ) vào cõi trí với mục tiêu trước mắt là chuyển tâm thức của mình lên cao hơn nữa, vào ý thức rộng lớn hơn và có tính bao gồm của linh hồn.
Mục đích của y là hao gồm tâm thức cao hơn, và ở giai đoạn này, y không cần phục hồi khả năng cảm dục đó mà như bạn biết rõ, vốn là sở hữu của các giống dân ít tiến hóa của trái đất, và của nhiều động vật cao cấp. Sau này, khi đã đạt tới đạo quả (adeptship), y có thể hoạt động trên cõi cảm dục, có thể y lựa chọn như thế, nhưng nên nhớ rằng Chân Sư làm việc với khía cạnh linh hồn của nhân loại (và của mọi hình thái), chứ không làm việc với thể cảm dục của họ. Các huấn sư ở cả phương Đông lẫn phương Tây thường hay quên điều này.
Khi làm việc với các linh hồn thì kỹ thuật thực sự về tiến hóa mới được xúc tiến, vì chính linh hồn bên trong các hình tướng của mọi giới trong thiên nhiên, mới chịu trách nhiệm về việc phát triển của hình tướng và bên trong hình tướng. Thế nên, liệu Tôi có thể nói với các đạo sinh rằng mục tiêu chính của họ là trở nên ý thức về linh hồn, trau dồi tâm thức linh hồn, học cách sống và làm việc như các linh hồn. Cho đến khi mà việc sử dụng bộ máy của họ trở nên tự ý, khi đó họ sẽ được cho biết rõ để rèn luyện thể trí của họ, nghiên cứu
167 các định luật chi phối sự biểu lộ, và học cách để bao gồm tất cả những gì mà chúng ta hiện đang che đậy bằng từ ngữ “cao siêu” (“higher”) – một cách đặt tên sai, nhưng ắt hẳn nó đủ để đáp ứng.
Thứ hai, khi việc sử dụng các khí cụ chủ quan trở nên tự ý, và một người biết nó nên được sử dụng như thế nào, khi y đang dùng nó, và có thể không tiếp tục dùng nó hoặc lại tiếp tục dùng nó tùy thích, khi đó toàn bộ tình trạng của y thay đổi và sự hữu dụng của y tăng lên. Nhờ việc sử dụng thể trí, nhân loại đã bắt đầu ý thức các mục tiêu và cách sử dụng bộ máy vật chất (xác thân). Bây giờ nhờ việc sử dụng một quan năng còn cao hơn nữa, vốn là một đặc tính của linh hồn, con người đi vào kiểm soát có chủ định và sáng suốt khí cụ của mình, và học cách hiểu được các mục đích mà vì đó nó tồn tại.
Quan năng cao này chính là trực giác (intuition).
Liệu Tôi có thể thêm với sự nhấn mạnh rằng chỉ khi người nào bắt đầu có trực giác, y mới trở nên hữu dụng trong một nhóm của Chân Sư, và Tôi khuyến nghị với tất cả những người tìm đạo rằng, họ phải cẩn thận nghiên cứu ý nghĩa và sự quan trọng của trực giác. Khi nó đang bắt đầu hoạt động, bấy giờ đệ tử có thể chuyển từ giai đoạn dự bị sang giai đoạn nhập môn trong một nhóm của Chân Sư.
Ở đây, bạn có thể hỏi làm thế nào mà người đệ tử dự bị (probationer) có thể nhận biết, hoặc xác định điều này.
Một số lượng lớn việc đào tạo được dành cho một đệ tử dự bị, mà y thực sự không nhận biết nó một cách hữu thức. Các xu hướng lỗi lầm được chỉ ra cho y khi y tìm cách, với sự chân thành, tự huấn luyện mình cho việc phụng sự, và việc phân tích động cơ khi được cam kết một cách trung thực, dùng một cách không ngờ để nâng vị đệ tử tương lai ra khỏi cõi giới cảm dục hay tình cảm, đi vào cõi giới trí tuệ. Chính ở nơi cõi trí mà các Chân Sư (Masters) được giao tiếp lần đầu tiên, và phải tìm kiếm các Ngài ở nơi đó.
Nhưng đã đến lúc, khi Ánh Sáng (Light) trong đầu không chỉ hiện hữu, mà còn có thể được sử dụng phần nào. Nghiệp quả (karma) của người tìm đạo là thế, để y trở nên có thể, qua nỗ lực được áp dụng một cách bền bĩ, vận dụng cuộc
168 sống của y theo cách mà y không những chỉ có thể thi hành nghiệp quả của mình và thực hiện các nghĩa vụ của mình, mà còn có đủ sự kiên định để cho phép y xử lý các vấn đề và các nghĩa vụ ở cương vị đệ tử nữa. Việc y phụng sự những người khác được tiến hành với động cơ đúng đắn, và đang bắt đầu có giá trị và làm cho sức mạnh của nó được cảm nhận, và y đang mất đi việc nhìn thấy các lợi ích riêng của mình trong các lợi ích của những người khác. Khi điều này xảy ra, một số biến cố huyền bí (esoteric happenings) diễn ra.
Chân Sư bàn bạc với một số các đệ tử cao cấp của Ngài về việc nên làm (advisability) trong việc tiếp nhận người tìm đạo vào trong hào quang của nhóm, và trong việc phối hợp rung động của người này với rung động của nhóm. Sau đó, khi đạt được sự nhất trí, trong khoảng hai năm, một đệ tử thâm niên hoạt động như người trung gian giữa Chân Sư với người tìm đạo mới được chấp nhận. Vị này làm việc với đệ tử mới, rút lui ra khỏi (nếu Tôi có thể diễn tả điều đó như thế) sự rung động của Chân Sư để tập cho các thể của đệ tử mới quen với tốc độ tăng cao hơn. Vị này tạo ấn tượng lên thể trí của đệ tử mới, qua Chân Ngã (Ego) của y, với các kế hoạch và các lý tưởng của nhóm, đồng thời xem xét phản ứng của đệ tử này đối với các sự cố và các cơ hội của đời sống. Trong lúc này, vị đệ tử lớn đó thực tế đảm trách các nhiệm vụ và vị trí của Chân Sư.
Suốt thời gian này, người tìm đạo vẫn không biết về những gì đã xảy ra và không biết đến các tiếp xúc bên trong của y. Tuy nhiên, y nhận thấy ba việc trong y:
Hoạt động trí tuệ gia tăng. Lúc đầu, điều này sẽ mang lại cho y nhiều xáo trộn, và y sẽ cảm thấy như thể y đang mất kiểm soát thể trí thay vì có được nó, nhưng điều này chỉ là một tình trạng tạm thời và dần dần y sẽ nắm quyền điều khiển.
Việc đáp ứng với các ý tưởng tăng lên và sự gia tăng năng lực đối với tầm nhìn về kế hoạch của Thánh Đoàn. Trong các giai đoạn đầu, điều này sẽ làm cho y thành cuồng tín đến một mức độ nào đó. Y sẽ liên tục bị xúc động với những lý tưởng mới, học thuyết mới, các cách sống mới, các ước mơ mới để cải thiện nhân loại. Y sẽ bàn bạc hết phong trào này đến phong trào khác, vì chúng dường như có triển vọng cho thiên
169 niên kỷ tới. Nhưng sau một thời gian, y lấy lại thăng bằng của mình, và mục đích nắm quyền kiểm soát đời sống của y. Y làm công việc riêng của mình, và mang đến sự đóng góp của mình vào hoạt động chung, với hết khả năng của mình.
Tính nhạy cảm tâm linh tăng lên. Tính chất này là một dấu hiệu tăng trưởng mà đồng thời còn là một sự thử thách. Y thường hay bị lừa gạt bởi những sự quyến rũ (allurements) của các quyền năng tâm linh; y sẽ bị cám dỗ làm lệch hướng các nỗ lực của y ra khỏi công cuộc phụng sự chuyên biệt đối với nhân loại, trở thành việc khai thác các quyền năng tâm linh, và sử dụng chúng cho việc khẳng định bản ngã. Người tìm đạo phải phát triển về mọi phần của bản chất mình, nhưng cho tới khi y có thể hoạt động như linh hồn, tức tinh thần, một cách có ý thức và với việc sử dụng trí thông minh có phối hợp, nếu không thì các quyền năng thấp phải ở trong tình trạng không hoạt động (quiescent). Chúng chỉ có thể được sử dụng một cách an toàn bởi các đệ tử tiến hóa và các điểm đạo đồ. Chúng là các vũ khí và các công cụ phụng sự, khi đó sẽ được dùng trong ba cõi thấp bởi những người vẫn còn bị ràng buộc bởi Luật Luân Hồi vào những cõi này. Những người đã vượt qua sự Giải Thoát vĩ đại, và “về mặt huyền linh học đã vượt qua cầu” thì không còn cần phải dùng đến các quyền năng cố hữu trong các lớp vỏ thấp. Họ có thể sử dụng tri thức không thể sai lầm của trực giác, và sự soi sáng của nguyên khí Ánh Sáng.
Có nhiều sự hiểu sai trong trí con người về cách thức mà một Chân Sư để cho một đệ tử nhập môn biết được rằng y được thu nhận. Một cảm tưởng được phổ biến rằng y được bảo như thế, và rằng một sự gặp gỡ được chuẩn nhận, ở đó Chân Sư chấp nhận y và cho y bắt đầu làm việc. Sự việc không phải như thế đâu. Định luật huyền linh vẫn thích hợp trong tình trạng đệ tử cũng như trong sự điểm đạo, và con người tiến tới một cách mò mẫm. Y hy vọng, nhưng y không biết; y mong rằng nó có thể là thế, nhưng không có một sự bảo đảm cụ thể được đưa ra; từ một sự nghiên cứu về chính y và về các yêu cầu, y đi đến kết luận rằng có lẽ y đã đạt đến tình trạng của đệ tử nhập môn. Do đó y hành động dựa theo sự giả định đó, và y cẩn thận trông chừng các hành vi của mình, giữ gìn lời nói của mình, và kiểm soát các tư tưởng của mình để không có hành động công khai, lời nói không cần
170 thiết hoặc ý nghĩ không tử tế, sẽ phá vỡ nhịp điệu mà y tin rằng đã được thiết lập. Y tiếp tục công việc của mình nhưng tăng cường việc thiền định của mình; y rà soát các động cơ của mình, y tìm cách trang bị thể trí của mình; y đặt trước mặt mình lý tưởng phụng sự và bao giờ cũng tìm cách để phụng sự, và rồi (khi y quá bị cuốn hút vào công việc đang cáng đáng đến nỗi y đã quên đi chính mình), đột nhiên một ngày kia y nhìn thấy Đấng mà từ rất lâu Ngài đã nhìn thấy y.
Điều này có thể xảy ra theo hai cách: trong ý thức tỉnh táo hoàn toàn, hoặc bằng sự ghi nhận cuộc gặp gỡ trên bộ óc xác thân, khi bộ óc đó đã được tham dự trong khi ngủ.
Nhưng kèm theo sự nhận thức của vị đệ tử về biến cố đó, một số nhận thức khác sẽ xảy ra.
1. Biến cố đó được nhận biết như là sự thực không cần mọi sự tranh cãi. Không có nghi ngờ nào còn lại trong trí của đệ tử.
2. Có một sự ức chế được nhận biết về phần của đệ tử để đề cập đến việc xảy ra với bất kỳ ai. Nhiều tháng hoặc nhiều năm có thể trôi qua trước khi đệ tử sẽ nhắc đến nó, và khi ấy chỉ với những người cũng được nhận biết như là các đệ tử, hoặc với một người phụng sự cùng nhóm, cũng ở dưới cùng một ảnh hưởng của nhóm, mà họ có quyền biết và quyền của họ được Chân Sư của nhóm chuẩn nhận.
3. Một số yếu tố, chi phối mối quan hệ của Chân Sư với vị đệ tử, dần dần được nhận ra, và bắt đầu ngày càng chi phối cuộc sống của đệ tử.
a/ Y nhận ra rằng các phạm vi tiếp xúc của y với Chân Sư của mình bị chi phối bởi sự cấp bách và nhu cầu của nhóm, và liên quan với việc phụng sự của nhóm của y. Điều dần dần trở nên rõ ràng với y đó là Chân Sư của y chỉ quan tâm đến y trong chừng mực mà chân ngã (ego) của y có thể được dùng trong việc phụng sự, qua phàm ngã trên cõi trần. Y bắt đầu nhận ra rằng Chân Sư của y làm việc với linh hồn của y, và rằng chính là ego của y, do đó, mới có liên quan với Chân Sư chứ không phải là phàm ngã. Do đó, vấn đề của y ngày càng trở nên rõ ràng và đây là vấn đề của tất cả các đệ tử. Đó
171 là giữ cho vận hà giao tiếp mở ra giữa linh hồnnão bộ, xuyên qua thể trí, để khi Chân Sư muốn giao tiếp, Ngài có thể làm như vậy lập tức và dễ dàng. Đôi khi một Chân Sư phải chờ nhiều tuần trước khi Ngài có thể có sự lắng nghe của đệ tử của Ngài, vì vận-hà hướng lên bị đóng lại và linh hồn không giao tiếp được với não. Điều này đặc biệt đúng với các giai đoạn đầu của tình trạng đệ tử.
b/ Y nhận thấy rằng chính y là kẻ đóng cánh cửa trong đa số trường hợp do tâm-thông-thuật (psychism) thấp, sự yếu kém về thể chất và sự thiếu kiểm soát tâm trí, và do đó y phát hiện ra rằng y phải làm việc liên tục và không ngừng với phàm ngã (lower self) của mình.
c/ Y nhận thấy rằng một trong những việc đầu tiên y phải làm là học cách phân biệt giữa:
− Rung động của linh hồn của chính mình.
− Rung động của nhóm đệ tử mà y được cộng tác.
− Rung động của Chân Sư.
Cả ba rung động này khác nhau và rất dễ nhầm lẫn chúng, nhất là lúc đầu. Một quy tắc an toàn mà những người tìm đạo phải có khi họ tiếp xúc một rung động và tác nhân kích thích cao, rằng đó là chính linh hồn của họ tiếp xúc với chúng, tức vị Chủ Nhân (Master) trong tâm, và không tránh né ý tưởng (như thế làm tôn lên tính tự cao và phàm ngã của họ) rằng Chân Sư đang nỗ lực để đến với họ.
d/ Y cũng nhận thấy rằng các Chân Sư không có thói quen làm tôn lên hoặc hứa hẹn với các đệ tử của các Ngài. Các Ngài quá bận rộn và quá minh triết, các Ngài cũng không tự gây phiền toái cho các Ngài, khi nói với đệ tử của các Ngài rằng họ được dự định cho chức vụ cao, hoặc họ là những người trung gian của các Ngài và Thánh Đoàn đang nhờ cậy vào họ. Tham vọng, sự yêu thích quyền lực, và tính tự mãn vốn tiêu biểu cho nhiều kiểu mẫu trí tuệ, thử thách người tìm đạo đang phấn-đấu, và y nhận được từ phàm ngã của mình tất cả những gì y cần theo đường hướng đó. Những tính chất
172 này lừa dối y và dẫn y đi lạc lối, đẩy y lên một bệ cao mà cuối cùng y phải từ đó đi xuống. Các Chân Sư không nói gì để nuôi dưỡng tính tự cao nơi các đệ tử của các Ngài, các Ngài cũng không nói những lời nào với họ vốn có thể nuôi dưỡng tinh thần chia rẻ nơi các đệ tử của các Ngài.
e/ Các đệ tử cũng sớm nhận ra rằng không thể gặp gỡ các Chân Sư một cách dễ dàng. Các Ngài là những người rất bận rộn, khó có thể dành ngay cả một ít thời gian trong đó để giao tiếp với đệ tử, và chỉ trong các tình trạng cấp bách, trong trường hợp của một người sơ cơ trên Con Đường Đệ Tử, thì các Chân Sư mới sử dụng năng lượng cần thiết để có sự đồng cảm. Với các đệ tử cũ và đáng tin cậy, các tiếp xúc sẽ thường xuyên hơn, dễ dàng đạt được hơn và tạo ra kết quả nhanh chóng hơn. Tuy nhiên, nên nhớ rằng, đệ tử càng mới thì y càng đòi hỏi sự quan tâm nhiều hơn và càng cho rằng y nên có nó nhiều hơn. Những người phụng sự cũ và nhiều kinh nghiệm đều tìm cách hoàn thành các nghĩa vụ của họ, và xúc tiến công việc của họ với sự tiếp xúc với các Chân Sư càng ít càng tốt. Họ tìm cách tiết kiệm thời gian của Chân Sư, và thường cho rằng một sự gặp gỡ với Chân Sư như chứng tỏ sự thất bại về phần họ, và do đó, gây nên sự hối tiếc rằng họ đã phí thời gian quý báu của Sư Phụ, và buộc Ngài phải sử dụng năng lượng của Ngài để bảo vệ công việc khỏi lỗi lầm, và có lẽ bảo vệ người đệ tử khỏi tổn hại. Mục đích của mọi đệ tử cao cấp là hoàn thành công việc của mình, và được liên kết với trung-tâm-lực tinh thần là nhóm của y, và như thế ở trong sự tiếp xúc ỗn định với Chân Sư, mà không cần những sự gặp gỡ và tiếp xúc ở cõi hiện tượng. Nhiều người chỉ mong tiếp xúc với Chân Sư của họ mỗi năm một lần, thường là vào thời điểm trăng tròn tháng Năm.
f/ Y cũng nhận thấy rằng mối liên hệ giữa Chân Sư với đệ tử được chi phối bởi thiên luật, và có những giai đoạn tiếp xúc nhất định và các mức độ nhất định trong mối quan hệ mong muốn. Các điều này có thể được liệt kê, nhưng không thể được bàn sâu về chúng.
1. Giai đoạn mà trong đó một đệ tử được Chân Sư tiếp xúc thông qua một đệ tử khác trên cõi trần. Đây là giai đoạn của Tình Trạng Tiểu Đệ Tử (Little Chelaship).
173 2. Giai đoạn mà trong đó một đệ tử cao cấp hướng dẫn môn đệ từ cõi Chân Ngã. Đây là giai đoạn được gọi là “Đệ Tử trong Ánh Sáng” (“Chela in the Light”).
3. Giai đoạn mà trong đó, tùy theo sự cần thiết, Chân Sư tiếp xúc với đệ tử thông qua:
a/ Một trải nghiệm giấc mơ sống động.
b/ Một sự giảng dạy có tính biểu tượng.
c/ Một việc dùng một hình-tư-tưởng của Đức Thầy.
d/ Một sự tiếp xúc trong khi thiền định.
e/ Một cuộc gặp rõ ràng, được ghi nhớ trong Đạo Viện (Ashram) của Chân Sư.
Đây chắc chắn là giai đoạn Đệ Tử Nhập Môn.
4. Giai đoạn mà trong đó, nhờ đã thể hiện sự khôn ngoan của y trong công việc, và