TRUNG TÂM TƯ VẤN NHÂN MỆNH HỌC

CHUẨN BỊ KHAI CHƯƠNG

TTTV QL va PT nhan luc

+ Tư vấn TU CẢI MỆNH miễn phí: Vào sáng thứ bảy hàng tuần, xin liên hệ trước, mời đọcVPTV Số mệnh

+ Các quy định và tiện ích của chúng tôi, mời đọc: Các quy định và hướng dẫn

    Nhân Trắc Học kính chúc quí vị vạn sự như ý!

Luận Về Lửa Vũ Trụ - Tập II

LUẬN VỀ LỬA CÀN KHÔN
(A TREATISE ON COSMIC FIRE)

ALICE A. BAILEY

TẬP II

Việt dịch: Thông Thiên Học

"Sách Minh Triết Mới rất khó dịch, các bản dịch có thể khác nhau, đề nghị xem thêm: Bản tiếng Anh"

A- GIỚI THIỂU VỀ CHÂN SƯ D.K VÀ BẢN QUYỀN SÁCH: Mời xem tại đây

"Quyển sách này triển khai giáo huấn đã đưa ra trong Giáo Lý Bí Nhiệm về ba loại lửa — lửa điện, lửa thái dương và lửa ma sát — và nó đã đúng theo lịch trình mà người ta mong đợi. Nó cũng đưa ra chìa khóa tâm lý cho bộ Giảo Lý Bí Nhiệm và nhằm cung ứng tài liệu nghiên cứu cho những người đệ tử và các điểm đạo đồ ở cuối thế kỷ này và đầu thế kỷ tới, mãi đến năm 2025 - Trích Bài viết của Chân Sư Tây Tạng)

TIẾP THEO TẬP I
Bản đang sửa, chỉ tham khảo.
Đề nghị thường đối chiếu với bản PDF: Xem Tập II tại đây

658 Agnisuryans – Các Devas Cõi Cảm Dục

Ở đây, chúng ta bắt đầu dựa vào việc xem xét các nhóm devas, vốn là chất liệu của cõi cảm dục, tức là các Agnisuryans. Các hỏa thần này có thể được xem xét theo cách sau đây, và bằng cách dùng các thuật ngữ đồng nghĩa, một số ý tưởng tổng quát về chức năng các thần này có thể được đạt đến, trước khi chúng ta bắt đầu tách phân họ thành các nhóm và nghiên cứu sự liên hệ của họ với :
1. Các thực thể khác nhau vốn là điển hình của các giới khác nhau, hoặc các nhóm khác nhau, như là giới động vật, giới nhân loại và ở giai tầng tâm thức cao hơn con người – Hành Tinh Thượng Đế.
2. Chính con người.
3. Cõi giới dưới hình thức toàn bộ.
Chúng ta có thể xem xét các devas này :
Thứ nhất, dưới hình thức chất liệu của cõi cảm dục với bảy mức độ của nó.
Thứ hai, dưới hình thức trạng thái biểu lộ của Thượng Đế vốn tương ứng với cõi phụ chất lỏng trong cõi hồng trần của thái dương hệ.
Thứ ba, dưới hình thức hiện thể (vehicle, vận thể/hoạt thể) của thiên thần chủ quản Varuna.
Thứ tư, dưới hình thức các sự sống linh hoạt của vật chất tiến hóa giáng hạ của cõi cảm dục mà chúng ta gọi là linh khí tinh hoa chất (elemental essence), và dưới hình thức sinh lực làm kích hoạt các tinh hoa chất dục vọng của tất cả những gì có khả năng cảm thụ (sentient, có tri giác). Xét ở khía cạnh này đặc biệt có liên quan với con người, các thần này là sự tương ứng trên cõi cảm dục với các “thiên thần của bóng tối”, vì các thể dục vọng (desire bodies) của mọi con người đều được tạo thành bằng vật chất của các cõi phụ thứ hai, thứ ba và thứ tư của cõi cảm dục. Đây là một điểm cần được xem xét kỹ càng, và sự tương đồng giữa thể dĩ thái, tức hoạt thể prana
659 đem lại sinh lực cho nhục thân, với thể cảm dục của con người, và phương pháp đem lại sinh lực của nó sẽ được thấy là sáng suốt.
Thứ năm, theo quan điểm của cõi trần, dưới hình thức toàn thể hoạt động vật chất (cho dù có tính cách bên trong) vẫn tạo ra những gì hữu hình và thuộc bên ngoài. Giống như thái dương hệ là một “Đứa Con Cần Yếu” hay của ước vọng, cũng thế các thể vật chất của vạn vật đang hiện hữu là sản phẩm của ước vọng của một thực thể nào đó quan trọng hoặc kém cỏi trong thái dương hệ.
Ở đây có thể là thích hợp khi nêu ra các đường lối theo đó năng lượng – dù thuộc trí tuệ, prana hay thuộc cảm dục – đi vào hệ thống và đạt đến cõi đặc biệt, như vậy tìm ra con đường của nó cho mọi đơn vị tâm thức, từ một nguyên tử đến một Thái Dương Thượng Đế.
Chính cõi trần trọng trược được kích hoạt xuyên qua :
a. Thể dĩ thái hành tinh.
b. Cõi trí, hay là cõi phụ chất hơi vũ trụ.
c. Cõi niết bàn, hay cõi dĩ thái thứ ba vũ trụ.
d. Cõi adi, hay là cõi dĩ thái thứ nhất vũ trụ.
và rút ra từ suy luận (nhờ vào nguyên tử thường tồn Thượng Đế) một dòng thần lực tương tự đi vào từ các cõi vũ trụ.
Cõi cảm dục được kích hoạt xuyên qua :
a. Cõi bồ đề, cõi dĩ thái thứ tư vũ trụ.

b. Cõi Chân Thần, cõi dĩ thái thứ hai vũ trụ.
c. Cõi cảm dục vũ trụ, và như vậy đến Tâm của mọi Sinh Linh.
Cõi trí được đem lại sinh lực, kích hoạt xuyên qua :
a. Cõi niết bàn, cõi dĩ thái thứ ba vũ trụ.
b. Cõi adi, cõi dĩ thái thứ nhất vũ trụ.
c. Cõi trí vũ trụ, chúng ta không cần đi thêm nữa.
Người nghiên cứu thận trọng nên ghi nhận rằng các cõi
660 này có thể được xem như liên quan với ba cõi thấp khi biểu hiện hai loại thần lực – thứ nhất, một lực có khuynh hướng phân hóa như trên cõi trí (cõi có sự cách ly cố hữu) và trên cõi trần (cõi có sự cách ly hiện nay); thứ hai, một lực có khuynh hướng hợp nhất, như là trên cõi cảm dục, và ở trên cõi có sự hài hòa chủ yếu, tức cõi bồ đề. Cần phải nhớ rằng, chúng ta đang xem xét lực khi nó tuôn đổ qua, hoặc là thấm nhuần, thần chất. Một ẩn ngữ về chân lý nằm trong sự kiện rằng hiện nay thể cảm dục của con người là dương so với cõi trần, âm so với cõi trí, và dương so với cõi bồ đề. Khi cơ tiến hóa tiếp tục, thể cảm dục sẽ trở nên dương so với thể trí, và như vậy tỏ ra không có khả năng để được gây ảnh hưởng bởi các luồng tư tưởng, và các diễn trình tách ra của cõi đó, đồng thời lại âm so với cõi bồ đề, hay là dễ thụ cảm đối với các lực từ cõi đó. Khi điều đó đã đạt đến mức quân bình và các lực được cân bằng đồng đều, thể cảm dục sẽ trở thành tác nhân truyền chuyển từ cõi bồ đề, tức cõi dĩ thái thứ tư của vũ trụ, xuyên qua cõi chất hơi, đến cõi hồng trần trọng trược. Ý tưởng này nên được nghiên cứu liên quan đến sự cháy mạng lưới dĩ thái của hành tinh, như vậy sự giác ngộ có thể xảy đến. Theo nghĩa đen, không có sự phân chia nào như thế trên cõi cảm dục như chúng ta tìm thấy trên cõi trí hoặc trên cõi trần. Trên cả hai cõi này, chúng ta có một phân chia thành
hai: cõi trí được phân thành thượng và hạ trí, sắc tướng và vô sắc tướng, cụ thể và trừu tượng, còn cõi trần được chia thành các cõi phụ dĩ thái và các cõi phụ trọng trược.
Do đó, có sự tương ứng giữa hai cõi này. Lý do của việc phân chia rõ rệt này (xét vấn đề tách biệt với các trạng thái tâm thức của con người) là do giai đoạn phát triển của các đại thiên thần biểu hiện cho cõi, các Ngài làm linh hoạt cõi đó, và các Ngài biểu lộ qua cõi đó như con người biểu lộ qua cơ thể của y. Varuna, Thần Chủ Quản (Lord) của cõi cảm dục đã đạt được một sự kiểm soát hữu thức thống nhất hơn là các huynh
661 đệ của Ngài thuộc cõi trí và cõi trần. Ngài bắt đầu biểu lộ liên quan với một trong các Hành Tinh Thượng Đế, Đấng này là Đấng Chủ Quản của một Cung chính. Hai vị kia có liên kết với các Đấng Chủ Quản của một Cung thứ yếu. Có một ẩn ngữ gợi ý cho các nhà nghiên cứu trong chi tiết này. Chúng ta có thể hết sức thắc mắc tại sao, nếu điều này xảy ra như thế, nó sẽ biểu lộ một cách thảm hại hiển nhiên liên quan với con người không? Có nhiều lý do giải thích việc này, một chính là lý do thần lực đang lưu chuyển qua hoạt thể của đại thiên thần, tức cõi giới, tất nhiên là mạnh hơn trong hai trường hợp kia, và điều này là do mức phát triển tiến bộ hơn của Ngài và cũng do sự kiện là chính Thượng Đế an trụ trong thể cảm dục của Ngài. Một lý do khác đó là Ngài có một liên kết đặc biệt với Đấng Cai Quản (Ruler) của giới động vật, và vì con người chưa tách chính mình ra khỏi, cũng như không học được cách kiểm soát, bản chất con thú (animal nature) của mình, con người cũng ở dưới ảnh hưởng của mãnh lực khủng khiếp này. Có các lý do khác ẩn tàng trong karma của Hành Tinh Thượng Đế chúng ta, nhưng các lý do nêu trên cũng đủ rồi.
1. Chức năng của các Agnisuryans. Các devas của cõi cảm dục là các thần mà con người có liên quan rất đặc biệt với các Ngài vào lúc này, do bởi sự an trụ vào cõi cảm dục của con người, và cũng do bởi vai trò mà dục vọng và xúc cảm (feeling) nắm giữ trong sự phát triển của con người. Tâm thức mở rộng qua sự tiếp xúc, qua sự hiểu biết sáng suốt về những gì được tiếp xúc, và qua việc nhận thức những gì được thu thập qua một tiếp xúc đặc biệt. Những gì được tiếp xúc, tùy thuộc vào rung động hỗ tương, và do đó vai trò của dục vọng (vốn là cái hiện ra đàng sau cảm giác) và của cảm xúc (vốn là phản xạ của dục vọng đó) thực là quan trọng; chúng luôn luôn đặt con người vào sự tiếp xúc – cho dù con người không biết được điều đó – với thần chất thuộc loại này hoặc loại khác. Dù cho khi con người đã đạt đến một giai đoạn tiến hóa tương đối cao, việc chứng minh mức thành đạt đó được nhận thấy trong kiểu mẫu (type) phi ngã mà y tiếp xúc; chỉ
662 khi nào y là một điểm đạo đồ mà y bắt đầu đạt gần được và bắt đầu hiểu được ý nghĩa của sự hợp nhất chủ yếu vốn nằm ở tâm của Hữu Thể (Being), và bắt đầu hiểu được tính duy nhất (oneness) của Đại Hồn (Universal Soul) và Sự Duy Nhất (Unity) của Sự Sống chủ quan đó vốn tự che giấu phía sau hình tướng của mọi loài. Đừng bao giờ quên rằng khía cạnh vật chất được thấy trên mọi cõi giới; cũng như các hình hài đó luôn luôn được tìm thấy, chỉ khi nào vòng giới hạn thái dương bị vượt qua và Thượng Đế thoát ra khỏi giới hạn hiện tại của Ngài. Do việc này, các devas của cõi cảm dục đảm trách một vai trò vô cùng quan trọng trong ba cõi thấp.
Trước đây, chúng ta đã xem xét các Thần này ở năm khía cạnh, phân họ thành năm nhóm. Ở đây chúng ta sẽ giới hạn việc xem xét của chúng ta vào liên hệ của các đơn vị hữu ngã thức như là Con Người và Hành Tinh Thượng Đế đối với thần chất này. Một phân biệt lớn hiện có giữa con người với nguyên mẫu của con người, một Heavenly Man (Thiên Đế).
Cõi cảm dục đóng một vai trò rất thực tế trong cơ tiến hóa nhân loại, do có một liên quan chặt chẽ với một trong các nguyên khí của con người. Chất cảm dục và sức rung động là một trong các yếu tố kiểm soát trong các sự sống của đại đa số con người. Đối với Hành Tinh Thượng Đế, chất cảm dục tương ứng với phần lỏng trong xác thân con người, do đó đối với Ngài không phải là nguyên khí nào cả.
Cõi cảm dục là chiến trường chính của con người và là lĩnh vực của trường xáo động mạnh mẽ nhất – xáo động tâm trí (hiểu về mặt nội môn) đối với con người cho đến nay chỉ là một điều khả hữu. Thể cảm dục là trung tâm có rung động dữ dội nhất của con người, và các rung động này là một nguyên nhân mạnh mẽ của các hoạt động cõi trần của con người. Giá mà con người hiểu được điều đó, các devas cõi cảm dục hiện giờ kiểm soát ở mức độ rất lớn những gì con người làm và nói, và mục tiêu tiến hóa của con người (mục tiêu trước mắt của y) là giải phóng chính mình ra khỏi sự kiềm chế của các devas cốt để con người, tức Chân Ngã đích thực hay chủ thể suy tưởng, có thể có ảnh hưởng khống chế. Để làm rõ và như thế để minh họa điểm này: các sự sống tinh hoa chất nhỏ bé vốn hợp thành thể của các xúc cảm, và sự
663 sống tích cực của bất cứ deva tiến hóa nào (qua sự tương tự của rung động), Ngài được liên kết với bất cứ con người đặc biệt nào và Ngài đem lại cho người đó một thể cảm dục có một năng lực cố kết và tích cực, cho đến nay gần như đang kiểm soát đa số. Thường thường con người làm khi các ham muốn và các thiên hướng của y thúc đẩy y. Nếu vị deva tiến hóa này thuộc hàng cao siêu (giống như trường hợp một người tiến hóa cao) rung động sẽ cao siêu, còn các ham muốn và các thiên hướng (instincts) sẽ tốt lành và đúng theo bề ngoài. Tuy thế, ước gì con người được deva tiến hóa cao kiểm soát, cho đến nay, y đang ở dưới ảnh hưởng của deva thấp và phải tự giải phóng chính mình. Nếu sự sống deva thuộc hạng thấp, con người sẽ để lộ các thiên hướng/ bản tính thấp và đồi bại, và các ham muốn sẽ thuộc loại thấp hèn.
Nếu các nhận xét này được hiểu đúng, một cảm thông nào đó sẽ đến đối với điều được hàm ý khi cơ tiến hóa thiên thần được nói đến như là một “tiến hóa song hành” với tiến hóa của con người. Trong ba cõi thấp, hai đường tiến hóa đi song song nhau và đừng nên được hiểu là một. Trong các cõi của Tam Thượng Thể, chúng được biết như là một nhất nguyên (unity) tạo ra Divine Hermaphrodite hay là Hành Tinh Thượng Đế, - các đơn vị con người hữu ngã thức biểu hiện cho ba trạng thái của thánh linh, trong khi các đơn vị thiên thần hữu thức biểu hiện cho các thuộc tính thiêng liêng. Cả hai, được phối hợp cùng nhau, tạo thành một thể biểu lộ, các trung tâm lực và vật chất của Hành Tinh Thượng Đế. Cái bí ẩn thật vĩ đại, và cho đến khi con người biết được vai trò của mình bên trong cái tổng thể hữu thức, con người mới dè chừng ý kiến của mình đối với ý nghĩa của việc đó. Do đó, điều sẽ rõ rệt khi xét về sự liên hệ giữa cõi cảm dục với công việc hợp nhất của cõi đó, và cõi bồ đề với sự hài hòa hữu thức được trải qua ở đó, và thể cảm dục của con người cần có sự khảo cứu và hiểu biết sát sao nhất. Một khoen nối sẽ được tìm thấy nhờ trung gian của nó với cõi bồ đề và hoạt động hài hòa trên cõi trần sẽ được tạo ra. Nhà nghiên cứu về huyền linh học nên cẩn thận nghiên cứu về điều này:
664 a. Mặt trời hồng trần và liên quan của mặt trời đó với prana và thể dĩ thái.
b. Mặt trời bên trong và liên quan của nó với cõi cảm
dục, với nguyên khí trí cảm và thể cảm dục.
c. Mặt trời tinh thần trung ương và liên hệ của nó với Tinh Thần hay atma trong con người. (GLBN II, 250, 251).
d. Tâm của mặt trời, và liên hệ của nó với thể hạ trí và thượng trí, tạo ra biểu lộ đặc biệt mà chúng ta gọi là thể nguyên nhân. Trong mối liên hệ này, cần nhớ rằng thần lực đang tuôn chảy từ tâm mặt trời, tác động qua một tam giác được tạo thành bởi hành tinh hệ Venus, Địa Cầu và Mặt Trời.
Một tam giác khác cũng được tạo thành liên quan đến hai hành tinh vẫn còn được chờ theo thiên luật, và các tam giác này thay đổi theo hành tinh hệ có liên quan.
Về mặt vũ trụ, có một loạt tam giác rất đáng chú ý sẽ được tìm thấy bởi nhà nghiên cứu về thiên văn học huyền bí, và về các chu kỳ huyền linh. Chúng bắt nguồn trong mặt trời trung ương của nhóm các thái dương hệ đặc biệt của chúng ta. Loạt tam giác này bao gồm chòm sao Rua. Sự kiện như thế sẽ không được biết mãi đến thập niên cuối của thế kỷ hiện đại, và sẽ không được khoa học nhận biết cho đến khi một số đường hướng tri thức và khám phá sẽ đưa các nhà khoa học đến nhận thức rằng có một loại điện thứ ba, bao giờ cũng quân bình và hợp thành chóp đỉnh của tam giác. Nhưng chưa đến lúc đó.
Tất cả những gì được nói đến ở đây đều được diễn tả bằng các thuật ngữ về các nhóm thiên thần và các lực thiên thần, vốn tạo thành (xét toàn thể của chúng) chất liệu đáp ứng với rung động tương tự. Điều này được diễn tả về mặt huyền linh dưới một vài danh xưng nhất định. Do đó có thể truyền đạt một cách an toàn thông tin về một đặc điểm không thể hiểu được đối với kẻ thế tục bằng một câu, thí dụ như: “Tam giác của … của… và của Nhóm… của các Agnisuryans hợp thành chính nó, và khi xoay chuyển Bánh Xe tạo ra cái thứ ba”. Việc này truyền đạt cho tâm trí của nhà huyền linh 665 học tri thức rằng trong dòng chảy của thần lực từ một chòm sao đặc biệt, nằm ngoài toàn bộ thái dương hệ chúng ta, qua một hành tinh hệ đặc biệt, và như vậy thông qua thể cảm dục của một Hành Tinh Thượng Đế, một tình trạng xảy ra vốn tạo ra sự xuất hiện của giới thứ ba trong thiên nhiên, giới động vật có tri giác hữu thức. Một số tập ngữ tương tự như thế cũng biểu hiện sự nối tiếp thiên thần với sự biệt ngã hóa của con người, nhưng việc đó chỉ có lợi khi không vượt quá; điều trên chỉ được dẫn chứng để làm ba điều:
1. Chứng minh phần nào bản chất và mức độ của các lực đang tuôn chảy qua thái dương hệ chúng ta.
2. Chứng minh mối quan hệ chặt chẽ mà chúng ta đangcó với cuộc tiến hóa thiên thần.
3. Nhấn mạnh về bản chất tam giác và liên quan hỗ tương của tất cả những gì đang xảy ra.
Ở đây có thể là thích hợp khi đưa ra một điểm liên quan đến các devas của các cõi thấp (con người đặc biệt có liên quan đến các devas này). Các thần này có thể được chia thành vài nhóm, bằng cách nêu rõ địa vị của họ theo mức độ tâm thức. Ở đây có thể câu hỏi được đưa ra là tại sao chúng ta chỉ bàn đến các nhóm deva thuộc về ba cõi thấp. Hiểu về mặt huyền linh, các devas này (thuộc nhóm chúng ta đang nghiên cứu) chỉ được tìm thấy trong thể hồng trần của Thượng Đế, - vốn là vật chất thuộc ba cõi phụ thấp của cõi hồng trần vũ trụ. Cổ Luận nói như sau :
“Các khối cầu lửa tìm vị trí dựa vào ba lĩnh vực thấp. Chúng xuất phát nhờ cái thứ năm, tuy nhiên hòa nhập trên các cõi của yoga. Khi các tinh chất lửa thấm nhuần vạn vật, kế đó không có thêm cái thứ năm, không có cái thứ sáu, lẫn không cái thứ bảy, mà chỉ có ba cái tỏa chiếu bằng phương tiện cái thứ tư”.
Do đó, với các mục đích nghiên cứu hiện nay của chúng ta, các devas chỉ được tìm thấy trong ba cõi thấp. Vượt quá ba cõi này, chúng ta có ba trạng thái của ba cái chính đang biểu
666 lộ qua cái thứ tư; tất nhiên chúng ta có các bầu (spheres) của các Hành Tinh Thượng Đế trên cõi bồ đề. Các Ngài tổng hợp tất cả những gì đã được phát triển qua biểu lộ trọng trược hơn. Theo quan điểm của triết học huyền bí, cõi hồng trần vũ trụ mà toàn thể thái dương hệ chúng ta có vị trí của nó trên đó phải được nghiên cứu theo hai mặt :
1. Theo quan điểm của Hành Tinh Thượng Đế, bao gồm các sự tiến hóa của bốn cõi cao, hay là các cõi phụ (levels) dĩ thái. Chúng ta có thể gần như không biết gì cả mãi tới sau khi được điểm đạo, đó là lúc mà tâm thức của nhân loại được chuyển đổi từ từ lên các cõi dĩ thái vũ trụ.
2. Theo quan điểm của con người trong ba cõi thấp. Con người là sự tiến hóa hoàn hảo trong ba cõi thấp, giống như các Hành Tinh Thượng Đế là sự tiến hóa hoàn hảo trong bốn cõi cao.
Trong ba cõi thấp, chúng ta có các tiến hóa song song – tiến hóa thiên thần và tiến hóa của con người dưới nhiều mức khác nhau – tất nhiên tiến hóa của con người liên quan đến chúng ta mật thiết nhất, dù cho cả hai phát triển qua sự tương tác với nhau. Trong bốn cõi cao, chúng ta có cặp đôi này được xem như một thuần nhất, và trạng thái của sự tiến hóa tổng hợp của các Hành Tinh Thượng Đế là trạng thái được xem xét. Điều đó thường làm cho chúng ta quan tâm nhiều nếu chúng ta chỉ hiểu chút ít về quan điểm của các Đại Thiên Thần, là các Đấng cộng tác sáng suốt vào thiên cơ. Các Ngài có cách riêng của các Ngài để diễn đạt các ý tưởng này, phương tiện là màu sắc vốn có thể được nghe, và âm thanh vốn có thể được nhìn thấy. Con người đảo ngược tiến trình, tức là thấy các màu và nghe các âm. Một ẩn ngữ nằm ở đây về sự cần yếu đối với các biểu tượng, vì chúng là các dấu hiệu để diễn đạt các chân lý vũ trụ, và sự giáo huấn và có thể được hiểu như nhau bởi kẻ thông thạo cả hai hệ tiến hóa. Như trước đây có nêu ra, cần nên nhớ rằng :
667 a. Con người đang biểu lộ các trạng thái của thánh linh. Các devas đang biểu lộ các thuộc tính (attributes) của thánh linh (divinity).
b. Con người đang phát triển nội nhãn thông (inner vision) và phải học cách thấy. Các devas đang phát triển nội nhĩ (inner hearing) và phải học cách nghe.
c. Cho đến nay, cả hai đều bất toàn và kết quả là một
thế giới bất toàn.
d. Con người đang tiến hóa bằng cách dùng tiếp xúc và kinh nghiệm. Y đang mở rộng. Các devas tiến hóa bằng cách giảm bớt tiếp xúc. Giới hạn là định luật đối với họ.
e. Con người nhắm vào sự tự chủ (tự kiềm chế). Devas
phải phát triển bằng cách được kiềm chế (being controlled).
f. Con người bẩm sinh là Bác Ái, – Mãnh Lực vốn tạo ra sự cố kết (coherency). Các devas bẩm sinh có trí khôn, - mãnh lực vốn tạo ra hoạt động.
g. Loại lực thứ ba, lực của Ý Chí, tình trạng cân bằng giữ quân bình của hiện tượng điện, phải đóng vai trò bằng nhau dựa vào và qua cả hai hệ tiến hóa, nhưng trong một hệ, nó biểu lộ dưới hình thức ngã thức, còn trong hệ kia, dưới hình thức rung động xây dựng.
Trong Hành Tinh Thượng Đế, cả hai trạng thái lớn này của thánh linh được hòa lẫn bằng nhau, và trong đại kỳ mahaman -vantara, các Thượng Đế (Gods) bất toàn trở nên hoàn thiện. Các phân biệt rộng lớn và khái quát này được nêu ra khi chúng chiếu ánh sáng vào mối liên hệ của Con Người với các devas.
Các devas của cõi trần, dù được chia thành ba nhóm A, B,
C, đều ở dưới một nhóm khác được nhắc đến dưới tên “Các Devas thuộc Đẳng Cấp Thứ Bảy”. Đẳng cấp thứ bảy được liên kết đặc biệt với các devas của đẳng cấp thứ nhất trên cõi thứ nhất. Các thần này là các tác nhân phản xạ (reflectors) của
Thiên Trí mà cấp đẳng thứ nhất là biểu hiện và biểu lộ Thiên
668 Trí đó như nó đã thể hiện qua từ cõi nguyên hình. Cấp đẳng thiên thần thứ bảy này trực tiếp ở dưới ảnh hưởng của Cung Bảy, và Hành Tinh Thượng Đế của Cung đó hoạt động trong sự hợp tác chặt chẽ với thiên thần Raja-Lord của cõi thứ bảy. Vì mục tiêu của tiến hóa cho các devas là nội nhĩ thông, điều trở thành hiển nhiên là tại sao các âm của thần chú và các điều biến quân bình (balanced modulations) là cách để tiếp xúc với họ và để tạo ra hiện tượng khác nhau. Cấp đẳng thiên thần thứ bảy này là cấp đẳng mà những nhà hoạt động trên tả đạo có liên quan đến, tác động qua hiện tượng ma cà rồng (vampirism) và việc hút sinh lực (devitalisation) các nạn nhân của họ. Họ đối phó với các thể dĩ thái của các kẻ thù của họ, và nhờ vào âm thanh, họ tác động vào thần chất, như thế tạo ra các kết quả theo ý muốn. Nhà Huyền Linh Thuật không hoạt động trên cõi trần với chất hồng trần. Ngài chuyển các hoạt động của Ngài lên một cõi cao hơn và từ đó đối phó với các dục vọng và các động cơ. Ngài làm việc qua các devas của cấp đẳng thứ sáu.
Các devas thuộc cấp đẳng thứ sáu là các thần thuộc cõi cảm dục, và là các thần có liên quan nhiều nhất với các Lực vốn tạo ra hiện tượng mà chúng ta gọi là yêu thương, thôi thúc tính dục, bản năng, hoặc là thúc đẩy dữ dội và động cơ mãnh liệt, nó hiện ra sau đó trên cõi trần bằng hoạt động nào đó.
Rung động tích cực được tạo ra trên cõi cảm dục đem lại các kết quả trên cõi trần và đó là lý do tại sao vị Huynh Đệ Chính Phái, Ngài không làm việc với các devas ở mọi nơi mà chỉ công việc ở trên cõi cảm dục mới có trạng thái tích cực.
Các devas thuộc đẳng cấp thứ sáu theo mong đợi, được liên kết chặt chẽ với các devas của đẳng cấp thứ hai trên cõi Chân Thần, và với bí huyệt của vị Hành Tinh Thượng Đế đặc biệt mà trên Cung của Ngài có các devas đó. Họ cũng liên kết với các lực của devas trên cõi bồ đề trong ba đẳng cấp lớn này của các devas, chúng ta có một tam giác điện lực mạnh mẽ, - ba kiểu mẫu điện vốn quen thuộc trong các sách huyền học. Cần nên nhớ rằng kiểu mẫu thần lực cân bằng (hiện tại
669 là một kiểu chưa biết) đang tuôn chảy từ cõi bồ đề vào lúc này và đỉnh của tam giác nằm ở đó.
Monadic
Buddhic
Astral
Ba đẳng cấp này (trong thái dương hệ này) là mạnh nhất, nhất là trong vòng tuần hoàn thứ tư này. Chúng đặc biệt ảnh hưởng đến giới thứ tư của thiên nhiên, và là nền tảng của việc tìm kiếm thăng bằng, của khao khát hướng về sự hài hòa, hợp nhất và yoga vốn phân biệt con người trong mọi mức độ; nó xuất hiện trong biểu lộ thấp của nó dưới hình thức bản năng tính dục theo như chúng ta biết, và trong hình thức cao của nó như là khao khát hợp nhất với Thượng Đế.
Các devas thuộc đẳng cấp thứ sáu này đến dưới ảnh hưởng của Đấng Chủ Quản của Cung Sáu, Cung Lý Tưởng Trừu Tượng và chính sự liên quan của các devas này với Đấng Chủ Quản tạo dễ dàng cho sự thể hiện của ý tưởng nguyên hình lên trên cõi trần. Huyền Giai Sáng Tạo thứ sáu cũng đặc biệt có liên hệ với đẳng cấp thiên thần đặc biệt này, và qua ảnh hưởng song đôi này đã tạo ra biểu lộ hồng trần đó vốn có tính khách quan rõ rệt - một kiểu thần lực tác động qua biểu lộ dĩ thái và biểu lộ khác qua xác thân.
Cho đến nay, điều này cho thấy là một bí ẩn không thể giải thích được đối với kẻ nghiên cứu, nhưng trong ý nghĩa về số, nhiều điều có thể được khám phá. Khía cạnh vật chất này nên được nghiên cứu để mang lại ý nghĩa thực của đẳng cấp devas thứ sáu này, có biểu tượng là Ngôi Sao sáu cánh đặt ở một góc đặc biệt và biểu lộ đầy đủ. Ngôi sao sáu cánh là
670 dấu hiệu mà một “Đứa Con Cần Thiết” (bất luận là Thượng Đế hoặc con người) đã tìm cách lâm phàm ở cõi trần. Các devas ở đẳng cấp thứ sáu, Agnisuryans, là yếu tố hàng đầu để mang lại điều này. Trong vòng tuần hoàn thứ sáu, các devas này sẽ bắt đầu làm cho sự hiện hữu của họ được cảm nhận ngày càng mạnh, nhưng cường độ rung động của họ sẽ được chuyển lên trên rất từ từ, chớ không chuyển xuống vào cõi trần. Điều này sẽ liên quan đến việc chuyển hóa của dục vọng thành hoài bão và sau rốt sẽ tạo ra việc giải phóng của Hành Tinh Thượng Đế, và đưa một manvantara (hay là chu kỳ lâm phàm hồng trần của Ngài) đến kết thúc. Sự triệt thoái của mãnh lực dục vọng cũng tạo kết quả trong việc ngưng sự hiện hữu ở cõi trần của con người. Cổ Luận diễn tả chân lý này bằng các lời sau :
“Cái Thứ Sáu rút về trong chính chúng; chúng chuyển vào cái Thứ Năm, chừa lại một mình cái Thứ Bảy”.
Tiếp nối việc xem xét của chúng ta về các đẳng cấp devas này, cần nêu ra rằng, ba đẳng cấp deva thấp này – thứ năm, thứ sáu và thứ bảy – có liên lạc mật thiết với mặt trăng. Các thần này là các tác nhân kiến tạo vốn [tác động trên vật chất tiến hóa giáng hạ của ba cõi thấp] tạo ra ba thể thấp của con người đang lâm phàm. Họ là một nhánh của các lunar Pitris, nhưng sự kiện cần nhớ rằng nhánh các Pitris đặc biệt này là các thần đang hoạt động trong hành tinh hệ đặc biệt của chúng ta, và được liên kết chặt chẽ với Hành Tinh Thượng Đế chúng ta. Các nhóm Pitris này được thấy nơi nào mà con người đang lâm phàm trong mọi hành tinh hệ, nhưng trong các hành tinh hệ khác, họ có phần nào khác với hành tinh hệ chúng ta, vì “Bí ẩn của Mặt Trăng” có liên quan với một tình trạng huyền bí đặc biệt vốn liên quan với Hành Tinh Thượng Đế riêng biệt của chúng ta.
Nơi nào con người đang luân hồi, các Thần Kiến Tạo các thể của con người đều có mặt, nhưng họ sẽ khác ở :
a. Tốc độ rung động của họ.
b. Giai đoạn phát triển của họ.
671 c. Tâm thức.
d. Lực Fohat, từ lực và lực năng động.
Cũng cần nên nhớ rằng, mỗi vòng tuần hoàn đều thấy thần chất hay là sự tiến hóa thiên thần thay đổi; họ cũng tiến hóa và, do đó, chủ đề về các devas trong khía cạnh hai mặt của họ dưới hình thức chất liệu âm và dương, vốn tạo ra biểu lộ (objectivity) phải được nghiên cứu theo ba cách nếu một ý tưởng thực sự cần được tiến đến gần. Do đó, các devas – họ là toàn bộ vật chất – phải được xét theo :
- Quan điểm phát triển vòng tuần hoàn.
- Quan điểm của bất luận Hành Tinh Thượng Đế đặc biệt nào khi các devas làm thành thể biểu lộ của Ngài, tức một hành tinh hệ.
- Quan điểm của giới nhân loại.
Khi điều này không được thực hiện, kết quả sẽ tạo ra một ý tưởng sai lầm và chật hẹp. Trong tương lai, khi nghiên cứu bộ Giáo Lý Bí Nhiệm (I, 288, II, 179, 187), người ta có thể thấy Thượng Đế trong Bản Thể thất phân của Ngài có thể được nhận ra như là Đại Thiên Địa đối với Con Người, trong khi Tiểu Thiên Địa, tức chính Con Người, cũng sẽ được thấy như là Đại Thiên Địa đối với ba giới thấp. Đây chỉ là một cách để nghiên cứu sự tiến hóa của Thực Thể hữu thức – Thượng Đế, Con Người, hoặc sự sống thứ yếu – nhờ vào thần chất; nó bao gồm việc nghiên cứu sự tương tác dương và âm. Lần nữa Cổ Luận có nói :
“Khi Cha đến gần Mẹ, tương lai sẽ là hình tướng. Sự hợp nhất của cả hai ẩn giấu bí ẩn thực sự của Hiện Tồn (Being).
Khi hai đại thiên thần tìm kiếm nhau, khi họ gặp gỡ và hòa nhập, triển vọng sự sống được hoàn thành.
Khi kẻ nào thấy và biết đứng giữa cha mẹ của y, bấy giờ có thể được thấy kết quả của tri thức, và mọi sự được biết trên các cõi của tâm thức.
Khi Anu, tức cái cực tiểu (the infinitesimal), được nhìn thấy chứa Ishvara với tiềm năng của Ngài, khi các bầu hành tinh nhỏ và các chu kỳ bành trướng thành vòng tròn của các bầu trời, kế đó 672 Nhất Nguyên bản thể sẽ được nhận biết và được biểu lộ đầy đủ.
Khi cái Duy Nhất nắm giữ sự sống trở thành ba đàng sau cái mà sự sống bị che giấu; khi do sự tiến hóa, ba trở thành bảy và mười; khi 300 000 tỉ sự sống thiên thần lặp lại sự thay đổi triệt để (revolution); khi điểm trung ương được đạt đến và tiết lộ ba, chín và Bảo Ngọc chói sáng bên trong, kế đó vòng biểu lộ lên tới tột
đỉnh, và cái Duy Nhất lại trở nên mười, bảy, ba và dấu chấm.”
Ở đây tàng ẩn mấu chốt đưa đến phối ngẫu huyền bí và đem đến cho nhà nghiên cứu huyền linh học nhiều điều có thể được tiết lộ qua việc nghiên cứu các cặp đối ứng này, điều đó sẽ tạo nên sự thiên khải về diễn trình (trong thời gian và không gian) nơi mà sự hợp nhất này và kết quả của nó đạt tới tột đỉnh và theo sau là sự sáng tạo của Hermaphrodite thiêng liêng (tức là Heavenly Man, Thiên Nhân, xin xem lại trang 438 - ND), được nhìn thấy trên cõi cao của chính Ngài.
Chúng ta phải luôn luôn nhớ kỹ rằng, trong đoạn này, chúng ta đang bàn đến các devas tiến hóa thăng thượng, họ là Sự Sống tích cực đang làm sinh động chất liệu tiến hóa giáng hạ hay thần chất. Tất nhiên sự tương ứng của phối ngẫu huyền bí của Tinh Thần và Vật Chất có thể được nhận thấy cũng thể hiện trong chính thần chất, qua sự tương tác của các sự sống thiên thần dương và âm. Chính vật chất tượng trưng cho nhị nguyên chủ yếu; các sắc tướng lặp lại cùng nhị nguyên đó, và khi chúng ta đạt đến chính con người lần nữa, chúng ta có nhị nguyên cộng với một yếu tố thứ ba. Ba đẳng cấp thần chất này – đẳng cấp thấp thứ năm, thứ sáu, và thứ bảy là một nhóm rất bí ẩn đối với con người. ( ) Cho đến giờ, hiếm khi các thần này được ám chỉ đến trong văn liệu huyền  
673 học, nhưng họ chứa trong chính họ cái bí ẩn về sự biệt ngã hóa của hành tinh chúng ta. Họ là nhóm có liên can nhiều với “tội của kẻ vô trí” và kết hợp rất chặt chẽ với người thú. Đối với quyền năng và sự kiểm soát mà các pitris này nắm giữ, phải được quy cho nhiều trong các diễn biến bất hạnh buổi đầu được nhắc đến trong bộ Giáo Lý Bí Nhiệm, như là “tội lỗi” nói trên và cũng như “các sai hỏng” ban đầu trong việc tạo ra các hoạt thể thích hợp cho các Spirits tìm cách lâm phàm. Ở đây cũng có thể cái khởi đầu của loại bất đồng huyền bí mà chúng ta gọi là “con đường chính và tà”, vốn chi phối (đang hiện hữu trong cơ thể Thượng Đế và tất nhiên là một phần của tâm thức thiêng liêng) bắt nguồn trong “khoảng trống của thời gian” xa xăm, khi các con của Thượng Đế đang tìm kiếm hình hài. Điều đó có liên quan đến một tình trạng đặc biệt trong thể cảm dục của Hành Tinh Thượng Đế chúng ta và với lịch sử của Ngài khi nó còn ẩn trong cảm dục quang.
Nó liên quan tới những gì mà Ngài phải khắc phục và nhiều vấn đề mà nhà huyền linh học đang đối phó, kể cả “tội lỗi của người vô trí”, thất bại trong thời Atlantis, và ngay đến “thất bại” huyền bí của Đức Phật (vốn có một ý nghĩa hành tinh chỉ được nói bóng gió trong bộ GLBN) ( ) có thể được truy nguyên đến tình trạng của thần chất mà thể cảm dục của hành tinh chúng ta và các thể cảm dục của mọi hình hài được tạo ra từ đó. Hành Tinh Thượng Đế chúng ta là một trong các Đấng chủ quản được nói đến như là một chủ quản cấp thấp (lesser lord), và “đầy dục vọng” hơn cả ba chủ quản cấp cao.
674 Ngay đến công việc của Ngài chưa được hoàn tất, và thần chất trong các cấp đẳng linh hoạt khác nhau của nó vẫn chưa được sự kiềm chế hoàn toàn của Ngài. Giai đoạn tiến hóa thiên thần còn xa mới đi qua.
Nếu ý tưởng này được trải rộng đến thái dương hệ, thì điều hiển nhiên là các thể cảm dục của các Hành Tinh Thượng Đế khác nhau cũng khác nhau. Tất nhiên sự dị biệt này tùy vào sự sống ở cõi cảm dục vũ trụ của các Ngài, nó ảnh hưởng trực tiếp đến cõi cảm dục thái dương hệ, hay là cõi phụ chất lỏng hồng trần của cõi hồng trần vũ trụ. Đây là một điểm chỉ được biết ít thôi. Thể hồng trần của Hành Tinh Thượng Đế, theo như chúng ta biết, hiện hữu trong ba trạng thái đặc, lỏng và hơi – và mỗi trạng thái được tác động trực tiếp từ cõi vũ trụ tương ứng. Tình trạng của các hành tinh vật chất khác nhau, một ngày nào đó sẽ được thấy là tùy vào sự kiện này.
Khi bản chất thông linh của Hành Tinh Thượng Đế được hiểu rõ (tri thức đó bắt đầu đi vào sau khi được điểm đạo, vốn là một phần của minh triết) bản chất của các hành tinh hệ khác nhau, còn về trạng thái nước của chúng, chẳng hạn, sẽ được tìm thấy liên quan với một tình trạng cảm dục đặc biệt. Khi điểm đạo đồ tiến bộ về minh triết, ngài thấu hiểu bằng trực giác bản chất chủ yếu của bảy nhóm, hay là Thất Bộ Thượng Đế (logoic Septenate), vốn là cái có liên quan đến sắc thái hoặc tính chất của chúng. Sắc thái hoặc tính chất này tùy vào bản chất thông linh của bất cứ Hành Tinh Thượng Đế đặc biệt nào, và bản chất tình cảm hoặc ước vọng có thể nhờ đó được điểm đạo đồ nghiên cứu phần nào. Sau rốt điều này sẽ dẫn đến một xem xét khoa học về hiệu quả của bản chất này trên thể hồng trần trọng trược của Ngài và đặc biệt phần tử của nó mà chúng ta gọi là cõi cảm dục, tức là cõi phụ chất lỏng của cõi hồng trần vũ trụ. Một phản ảnh của điều này (hay là một thể hiện xa hơn, nếu thuật ngữ đó được ưa thích hơn) được tìm thấy trong các phần tử lỏng của hành tinh vật chất.
Cõi phụ thứ bảy của cõi hồng trần vũ trụ có thể được chia nhỏ thành 7, chính là 7 cõi phụ hồng trần của chúng ta. Chính
675 tri thức này giúp một nhà huyền thuật làm việc căn cứ vào một vài hiện tượng vật chất – như là sức nặng của nước chẳng hạn trên một hành tinh – và một điểm đạo đồ thuộc các đẳng cấp cao có thể đúc kết các suy diễn từ đó đối với tính chất của Sự Sống cao siêu đang biểu lộ qua một cõi, Điểm đạo đồ đạt đến tri thức này qua một tiến trình lý luận từ cõi phụ chất lỏng (thứ sáu) của cõi trần thái dương hệ đến:
a. Cõi phụ chất lỏng của cõi trần vũ trụ, tức cõi cảm dục
của thái dương hệ chúng ta.
b. Cõi dĩ thái thứ tư của vũ trụ, tức cõi bồ đề.
c. Cõi dĩ thái thứ hai vũ trụ, tức cõi Chân Thần hay là cõi
của Bảy Vị Hành Tinh Thượng Đế.
d. Cõi cảm dục vũ trụ, nhờ thế liên lạc được với bản chất
ý muốn (desire nature) của Thượng Đế.
Dĩ nhiên cách này liên quan đến một tri thức bao la về thần chất và bao hàm một nhận thức bằng trực giác về các đẳng cấp và các nhóm của họ, các chủ âm của các đẳng cấp này và của các cõi, cũng như bản chất ba mặt của vật chất và một tri thức về cách thức làm việc với loại điện lực thứ ba này, vốn là loại năng lượng giúp cho con người tiếp xúc với các hiện tượng bên ngoài thái dương hệ. Do mãnh lực đó vẫn còn chưa được biết tới, và cho đến nay chỉ được tiếp xúc bởi các điểm đạo đồ cao cấp.
Một lần nữa, điều sẽ hiển nhiên là tại sao các Agnisuryans lại quan trọng như thế; các hỏa thần này biểu hiện cho lực vốn là một phóng phát trực tiếp từ cõi cảm dục vũ trụ và vốn tiết lộ - khi tam bộ được phối hợp – bản chất ý muốn của Hành Tinh Thượng Đế chúng ta, và của bất cứ Hành Tinh Thượng Đế đặc biệt nào. Trong hai trái ngược mà người theo thần học gọi là “Thiên Đường và Địa Ngục”, chúng ta có hai trong các loại mãnh lực này được ám chỉ, và trong ý tưởng này chúng ta đã nêu ra một trong các chìa khóa đưa tới cõi cảm dục.
2. Tóm tắt. Trước khi chuyển qua việc xem xét về các devas
676 có liên quan với việc kiến tạo thể nguyên nhân của con người, các thần này là nhóm liên kết giữa Triad với Quaterny, cả trong con người lẫn trong Thượng Đế, chúng ta sẽ liệt kê vắn tắt các nhóm chính của Agnisuryans trên cõi cảm dục thái dương hệ, vì toàn bộ các thần này hợp thành thể biểu lộ của đại thiên thần hay Thần Chủ Quản (Raja Lord) của cõi.
Thứ nhất. Raja Lord của cõi, đại thiên thần Varuna, Ngài là Sự Sống trung ương của vật chất thuộc cõi cảm dục của hành tinh hệ chúng ta. Chính Ngài là tiền đồn của tâm thức của Thiên Thần vĩ đại hơn, Đấng biểu hiện cho vật chất của cõi cảm dục thái dương hệ, hay là cõi phụ thứ sáu của cõi hồng trần vũ trụ. Đến lượt Đấng sau này, Ngài lại phản ảnh nguyên hình mẫu của Ngài, tức Thực Thể vũ trụ vĩ đại tức Đấng làm linh hoạt cõi cảm dục vũ trụ.
Thứ hai. Bảy Đại Thiên Thần, các vị này là mãnh lực dương của mỗi một trong 7 cõi phụ của cõi cảm dục thái dương hệ.
Thứ ba. Các nhóm devas khác nhau, thi hành các chức năng khác, xúc tiến các hoạt động đa dạng, và tạo ra các kết quả có tính xây dựng. Các thần này có thể được liệt kê như sau, ghi nhớ sự kiện rằng chúng ta chỉ nhắc tới một vài trong số nhiều nhóm và có nhiều vị mà con người hoàn toàn không biết tên, và sẽ là không thể hiểu được nếu nêu lên :
1. Các devas đang tạo thành chất liệu nguyên tử thường tồn của mọi Chân Thần, cả trong khi lẫn hết lúc lâm phàm ở cõi trần. Các thần này được chia thành bảy nhóm tùy theo Cung của Monad.
2. Các devas hợp thành trạng thái “lỏng” trong thể hồng trần của Hành Tinh Thượng Đế và của Thái Dương Thượng Đế. Các thần này đông vô số, và kể cả các sự sống thiên thần kéo dài khắp mọi hướng, từ các thần làm linh hoạt cõi cảm dục, và các dòng cảm dục (astral currents) có bản chất tôn giáo và đạo tâm cao siêu nhất, đến các thủy
677 thần nhỏ bé (little water spirits) vốn là các phản ảnh/ hình ảnh của các thực thể cảm dục đó được cô đọng trong chất nước cõi trần.
3. Một nhóm devas, hợp thành thể dục vọng (desire body) của thực thể vĩ đại đang làm linh hoạt giới động vật. Các thần này là toàn thể biểu lộ dục vọng (tách khỏi tính chất trí tuệ) của dục vọng thú tính (animal desire) trong trạng thái thôi thúc bốc đồng của nó.
4. Một số devas – thuộc đẳng cấp thứ ba – tạo thành (form) Thiên Đường của Cơ Đốc nhân chính thống bình thường hoặc là tín đồ của bất cứ đức tin nào. Một nhóm khác – thuộc đẳng cấp thứ bảy – tạo thành Địa Ngục cho hạng người cùng đức tin.
5. Các devas tạo thành sự sống cõi cảm dục của bất luận hình tư tưởng nào. Về sau, khi nghiên cứu việc tạo ra hình tư tưởng, chúng ta sẽ bàn đến các devas này.
6. Một nhóm các devas bí ẩn có liên quan chặt chẽ vào lúc này với biểu lộ tính dục trong gia đình nhân loại trên cõi trần. Họ là một nhóm mà trong giai đoạn này được đưa vào hiện tồn và họ biểu hiện cho lửa của biểu hiện tính dục (sex expression) theo cách chúng ta hiểu việc đó. Các thần này là xung lực, hay bản năng, ở đàng sau ham muốn tính dục hồng trần. Họ đặc biệt có ưu thế trong căn chủng thứ tư, vào thời kỳ đó các tình trạng tính dục đạt đến một giai đoạn khủng khiếp không thể tin được theo quan điểm của chúng ta. Họ dần dần được kiểm soát, và khi cái cuối cùng trong số các Egos của thời Lemuria đã chuyển thành căn chủng thứ năm, họ sẽ dần dần bị chuyển ra khỏi thái dương hệ hoàn toàn. Họ có liên hệ với “lửa” đam mê (passional “fire”, dục hỏa) của Thái Dương Thượng Đế và liên quan với một trong các trung tâm lực của Ngài một cách đặc biệt; trung tâm lực này dần dần bị che khuất (obscured) và lửa của nó được chuyển vào một trung tâm lực cao hơn.
7. Cũng có một nhóm devas liên kết với Thánh Đoàn (Lodge of Master), có nhiệm vụ kiến tạo các hình thức đạo tâm mà bình thường có thể mong hướng tới. Họ được chia thành vài nhóm – 3 nhóm – liên kết với khoa học, tôn giáo, triết học và qua các nhóm thần chất này, các Đấng Lãnh Đạo của ba bộ môn đó đạt đến con người.
678 Đó là một trong các vận hà hoạt động của các Ngài. Chân Sư Jesus đặc biệt linh hoạt vào lúc này theo đường lối này, đang hoạt động trong sự cộng tác với một số cao đồ (adepts) trên đường lối khoa học, các vị này – qua sự hợp nhất mong muốn của khoa học và tôn giáo – tìm cách làm sụp đổ thuyết duy vật của phương Tây ở một mặt, còn mặt kia là sùng bái tình cảm của nhiều kẻ sùng tín thuộc mọi đức tin. Ngày nay điều này được làm cho khả hữu qua việc kết thúc của Cung 6 và việc tiến nhập của Cung 7. Tất cả mọi nhà nghiên cứu cần nhớ khi xem xét các cõi, chất liệu và năng lượng của cõi mà
họ đang ở vào tình trạng thay đổi liên tục và thay đổi mọi lúc. Vật chất của mọi cõi đều tuần hoàn và theo chu kỳ, một vài phần tử (portions) trở nên được truyền năng lượng nhiều hơn các phần khác; vật chất của các cõi đó như vậy ở dưới ảnh hưởng ba mặt, hay là – nói cách khác – thần chất lệ thuộc vào một kích thước theo chu kỳ ba mặt :
a. Kích thích của Cung, tùy vào bất cứ Cung nào đang phát huy hay nằm ngoài quyền lực. Điều đó nằm trong thái dương hệ và hành tinh.
b. Kích thích do Hoàng Đạo (Zodiacal Stimulation), vốn là kích thích ngoài thái dương hệ, và cũng thuộc vũ trụ và theo chu kỳ.
c. Kích thích thái dương, hay là tác động của lực hay năng lượng thái dương trực tiếp lên trên vật chất của một cõi; kích thích này xuất phát từ “Tâm Mặt Trời” và là kích thích đặc biệt mãnh liệt.
Mọi cõi đều lệ thuộc ảnh hưởng ba mặt này, nhưng trong trường hợp cõi bồ đề và cõi cảm dục, lực của kích thích thứ ba này rất lớn. Các adepts – làm việc kết hợp với các đại thiên thần – vận dụng cơ hội theo chu kỳ để gây nên các kết quả có tính xây dựng rõ rệt.
8. Một nhóm các devas có liên lạc chặt chẽ với các bí pháp điểm đạo. Họ tạo thành cái mà về mặt huyền bí được gọi là “con đường của Tâm”, và là cầu nối giữa cõi cảm dục với cõi bồ đề. Họ không hề liên kết với các nguyên tử
679 thường tồn trong thể nguyên nhân, mà kết hợp rất rõ rệt với lớp các cánh hoa giữa trong hoa sen chân ngã, hay là với “các cánh hoa bác ái”. Lực tương tác giữa ba cánh hoa này trên một mặt và các devas vốn hợp thành “Con Đường của Tâm” trên mặt kia, các devas này vốn là cầu
nối của chất bồ đề - cảm dục, nhờ đó mà các điểm đạo đồ thuộc một mẫu thần bí nào đó tạo được “tiếp cận lớn lao”.
9. Các devas thuộc mọi trình độ và năng lực rung động, họ tạo thành phần lớn các hình thức dục vọng thuộc đủ loại.
10. Các devas của lực chuyển hóa. Họ là nhóm devas đặc biệt biểu hiện cho “lửa chuyển hóa” và được gọi bằng các tên khác nhau, như là :
- Lò tinh luyện (furnaces of purifications).
- Các yếu tố làm tan chảy (the melting elements).
- Các thần của trầm hương (the gods of incense).
Hiện nay không thể liệt kê thêm nữa, và cũng không ích gì, xem ra làm như thế chỉ đưa nhiều loại thần chất vào sự lưu ý của nhà nghiên cứu vì tầm quan trọng vượt trội của thể cảm dục trong ba cõi thấp. Chính do sự chế ngự của các sự sống thiên thần này, và “sự chuyển hóa của dục vọng” thành đạo tâm, và do các ngọn lửa thanh luyện của cõi cảm dục mà sau rốt con người thành công trong việc đạt được tâm thức bồ đề.
Đã có sự thừa nhận về năng lực tẩy sạch của các lưu chất huyền linh – nước và máu – vốn đưa đến việc nhấn mạnh do các Cơ Đốc nhân đưa ra (dù được diễn giải sai lầm) về hai lưu chất này.
3. Các Thiên Thần Thái Dương, các Agnishvattas. Các nhận xét mở đầu.
Ở đây chúng ta bắt đầu xem xét về các Agnishvattas , hay là các Hỏa thiên thần của cõi trí và như vậy tiến vào chủ đề
680 kỳ diệu nhất có liên quan với sự tiến hóa hành tinh của chúng ta; đó là chủ đề có ý nghĩa huyền bí nhất đối với con người vì
các Thái Dương Thiên Thần ( ) này liên quan đến bản chất thiết yếu của chính họ và cũng là năng lực sáng tạo theo đó họ hoạt động. Với mọi mục đích thực tiễn và để làm sáng tỏ sự tiến hóa tinh thần của con người, đoạn ngay trước mắt rất đáng chú ý và quan trọng nhất; đoạn đó cần được nghiên cứu rộng nhất của bộ luận này. Con người luôn luôn quan tâm quá mức vào chính mình, và trước khi con người có thể phát triển đúng mức, y phải hiểu một cách khoa học các định luật về bản chất của chính mình và cấu tạo của “cách biểu lộ” của riêng mình. Y cũng phải hiểu một phần nào về liên hệ hỗ tương của ba loại lửa để cho chính mình có thể vào một lúc sau này có thể “chiếu diệu” (“blaze forth”).
- Vấn đề của các Fire Dhyanis này và mối liên hệ của các Hỏa Thần Quân này với con người là một bí ẩn sâu xa nhất, và toàn bộ vấn đề bị khoác trong các truyền thuyết phức tạp đến nỗi các nhà nghiên cứu thường thất vọng hầu như chẳng đạt đến sự sáng tỏ mong muốn và cần thiết của tư tưởng. Tuy nhiên sẽ không thể hoàn toàn xua tan các đám mây đang che giấu cái bí mật chính yếu, mà có lẽ bằng liệt kê và tổng hợp đúng, và bằng một bàn rộng thận trọng về các dữ kiện đã được truyền đạt, các ý tưởng của nhà nghiên cứu khôn ngoan có thể trở nên phần nào ít rối rắm.
Có hai phát biểu trong bộ GLBN vốn thường bị độc giả vô tâm bỏ sót, nhưng nếu xem xét kỹ, nó gợi ra nhiều chi tiết. 681 Chúng ta hãy ghi nhận hai phát biểu này :
1. Hai nguyên khí nối kết đều cần thiết. Điều này đòi hỏi Linh Hỏa tâm linh sống động của nguyên khí giữa, từ trạng thái thứ năm và thứ ba của Pleroma (Linh Hồn Vũ Trụ). Lửa này là cái sở hữu của các Tam Giác.
2. Các Đấng Cao Cả (Beings) này là các Đấng Nhập Niết Bàn (Nirvanis) từ một Mahamanvantara trước.
Chúng ta đã xem qua các devas có khuynh hướng tiến hóa thăng thượng, họ cùng nhau tập hợp một cách lỏng lẻo dưới hình thức các Lunar Pitris (1). Các Lunar Pitris này được chia thành bốn nhóm và có liên quan với việc tạo ra thể xác

1 Các Lunar Pitris đều là Nature Spirits (Thần Thiên Nhiên).
GLBN II, 107. 1. Các thần này sở đắc, hoặc là các nơi chứa (containers) lửa của Ngôi Ba
(third aspect). GLBN II, 81.
2. Công việc của họ có trước công việc của các Solar Angels.
GLBN I, 268.
3. Họ có bảy hạng giống như các Solar Angels. GLBN II, 46.
a. Ba hạng phi vật chất (incorporeal), vốn là ba giới tinh hoa chất (elemental kingdoms) của Thiên nhiên, cung cấp cho con người thể dĩ thái, thể cảm dục và thể hạ trí.
b. Bốn hạng có hình tướng (corporeal, vật chất) vốn là các hình hài của bốn giới trong thiên nhiên. GLBN II, 93. c. Xem GLBN II, 233.
nhị phân của con người, cùng với thể cảm dục và thể hạ trí của y. Các thể này được cấp năng lượng bằng thần lực của các Lunar Pitris qua trung gian các vi tử thường tồn. Nhưng đối với các mục tiêu cuả bản chất bên trong của con người, các thần này phải được xét theo ba nhóm của họ - dĩ thái, cảm dục và hạ trí. Công việc của các Agnishvattas (các nguyên khí có ngã thức, các Thần Kiến Tạo hoặc là các nhà xây dựng thể Chân Ngã trên các phân cảnh trí tuệ cao) là nối kết ba nguyên khí cao – atma, buddhi, manas – với ba nguyên khí thấp, và như thế thực sự trở thành nguyên khí trung gian trong con người. Chính các Ngài bắt nguồn từ nguyên khí trung gian của Thượng Đế (GLBN II, 83). Như vậy bảy nội môn được hoàn tất. Như chúng ta biết, nhục thân dưới biểu lộ trọng trược của nó, về mặt nội môn, không được xem là một nguyên khí.
Các devas của các phân cảnh hạ trí có liên quan với công
682 việc của con người qua vi tử thường tồn hạ trí, và nói chung, được chia thành 4 nhóm, thực sự vốn là cô đặc đầu tiên của thể tam phân hạ đẳng của con người. Họ tạo thành một phần của nguyệt thể (lunar body) con người. Họ liên kết trực tiếp với các tinh hoa (essences) tinh thần cao nhất, và tiêu biểu cho biểu lộ thấp nhất của thần lực phát ra từ cõi trí vũ trụ, và tìm được khoen nối của lực đó với Huyền Giai con người qua các vi tử thường tồn hạ trí. Các Ngài là các thiên thần thể hơi của thể xác Thượng Đế. Vào lúc này chúng ta sẽ không bàn đến họ tỉ mỉ hơn vì khi chúng ta nghiên cứu vấn đề về nguyên khí thứ năm, một vài điểm sẽ trở nên sáng tỏ hơn; công việc có liên quan đến con người của các thần này có thể được mở rộng khi chúng ta tiếp tục. Vào lúc này, nhiều chi tiết hơn sẽ chỉ làm cho phức tạp.
Chúng ta hãy giữ thật rõ ràng trong trí chỉ những gì chúng ta đang xem xét. Chúng ta bàn đến :
1. Trạng thái thứ năm của tâm thức gọi là cõi trí,
2. Vật chất của cõi đó khi nó hiện hữu dưới hai trạng thái, sắc tướng và vô sắc tướng (xem lại định nghĩa trang 615, 616).
3. Các sự sống đem sinh khí (ensoul) cho vật chất đó, nhất là trong liên hệ của chúng với con người,
4. Các Egos hay là các đơn vị hữu ngã thức hợp thành điểm trung gian trong biểu lộ,
5. Việc kiến tạo thể nguyên nhân, mở đầu của Hoa Sen Chân Ngã, và cấu tạo của các nhóm mà chúng ta gọi là các nhóm Chân Ngã,
6. Biệt ngã (individuality) của các Đấng (Existences) mà chúng ta gọi là :
a. Các Agnishvattas.
b. Các Manasa devas.
c. Các Hỏa Thần quân (Fire dhyanis).
d. Các Solar angels, hay Solar Pitris.
e. Các Asuras.
và nhiều danh xưng khác được nhắc đến trong kinh sách huyền linh.
683 Nhiều nhầm lẫn xảy ra trong trí của các nhà nghiên cứu về sự phân biệt giữa các Agnishvattas đang lâm phàm trong con người với các Agnishvattas chỉ chịu trách nhiệm cho việc gieo cấy (the implanting) tia sáng trí tuệ trong người thú. Điều này cung cấp cho chúng ta toàn bộ vấn đề về chính hiện tượng biệt ngã hóa, và sự lâm phàm của một vài thực thể tinh thần, các vị này – khi ở trong hình hài xác thân – được nói đến như là các Avatars, như là các Hoạt Động Phật, hay là như các biểu lộ trực tiếp của Thượng Đế. Toàn bộ cái bí nhiệm được ẩn giấu trong mối liên hệ của các Monads cá biệt đang hợp thành các trung tâm lực khác nhau trong cơ thể của một Hành Tinh Thượng Đế và trong Chủ Thể hữu ngã thức của chính Hành Tinh Thượng Đế đó. Ở đây nhà nghiên cứu phải ghi nhớ sự kiện rằng cõi trí là trạng thái thứ nhất của thể xác trọng trược của Hành Tinh Thượng Đế, cõi bồ đề là cõi dĩ thái vũ trụ, và là cõi mà trên đó có các trung tâm lực dĩ thái của một Hành Tinh Thượng Đế.
Từ cõi bồ đề (theo nghĩa hành tinh hoặc thái dương) phát ra sinh lực và xung lực vốn làm khích động thể hồng trần trọng trược đi vào hoạt động có mục đích và mạch lạc; do đó, chính trên cõi trí mà xung lực này được cảm nhận đầu tiên và sự tiếp xúc giữa cả hai được nhận ra. Ở đây có chứa một ẩn ngữ vốn sẽ được dùng làm mục tiêu suy cứu. Người nghiên cứu sẽ khảo sát vị trí và mục tiêu của cõi trí và liên hệ của cõi đó với Hành Tinh Thượng Đế và Thái Dương Thượng Đế. Khi khảo sát kỹ hơn bản chất của thể dĩ thái của chính mình, y phải mở rộng tri thức đó đến các mức độ cao hơn và phải cố hiểu được cấu tạo của các lĩnh vực lớn hơn mà y chỉ là một phần của nó. Khi bản chất các trung tâm lực của chính y và hoạt động hiệu quả của chúng trên nhục thể con người được hiểu rõ hơn, y sẽ chuyển qua một hiểu biết đầy đủ hơn về hiệu quả tương ứng trong cơ thể Thượng Đế.
Chính trên cõi trí (phản ảnh trong ba cõi thấp của các trạng thái thứ ba và thứ năm của Pleroma) mà mãnh lực đầy
684 đủ của sinh lực dĩ thái được cảm nhận. Một ẩn ngữ về ý nghĩa của điều này có thể được tìm thấy trong sự kiện rằng thể dĩ thái của con người nhận và truyền prana trực tiếp đến thể xác, và chính sinh lực của cơ cấu xác thân được đánh giá phần lớn bằng tình trạng và hoạt động của tim. Quả tim truyền đi sinh lực cho vô số tế bào vốn tạo nên lớp vỏ vật chất trọng trược; một điều tương tự được nhìn thấy nơi sự kiện rằng các hỏa thiên thần này là “Tâm của cơ thể Đức Dhyan Chohan” (danh xưng này được dành cho các thần đó trong GLBN, quyển II, trang 96), vì năng lượng của các thần này đến từ mặt trời tinh thần, theo cùng ý nghĩa rằng năng lượng của thiên thần sinh lực (pranic devas) của thể dĩ thái đến từ mặt trời hồng trần. Năng lượng này của các
Agnishvattas biểu lộ trên cõi trí, tức cõi phụ chất hơi của cõi hồng trần vũ trụ, giống như năng lượng của các trung tâm lực dĩ thái trên cõi phụ dĩ thái thứ tư biểu lộ trước tiên và mạnh mẽ trên chất hơi của thể xác. Điều này giải thích tại sao Các Con của Minh Triết, biểu hiện cho nguyên khí bồ đề, sinh lực, hay trạng thái bác ái, tuy thế được biết trên cõi thứ năm như là các nguyên khí ngã thức; buddhi dùng manas như một hiện thể và các tác giả huyền linh học thường nói đến như là vehicle (chiếc xe, phương tiện truyền bá, hiện thể). Ego, hay là Chủ Thể (Identity) hữu ngã thức, về cơ bản và thật sự là Bác Ái – Minh Triết, nhưng biểu lộ trước tiên dưới hình thức tâm thức sáng suốt.
Chúng ta nên cố gắng nghiên cứu cẩn thận câu nói sau vốn có liên quan đến trí-cảm (kama-manas) và dính dáng tới các tình trạng vốn tạo ra sự biệt ngã hóa, hay là nó làm cho Bản Thể hữu ngã thức, các Chân Thần, tìm cách tự biểu hiện đầy đủ. Điều đó diễn ra như sau:
Chỉ khi nào bí huyệt tim của một Hành Tinh Thượng Đế (mỗi bí huyệt trong chu kỳ của Ngài và mỗi bí huyệt khác nhau về mặt chu kỳ) trở nên được tiếp sinh khí và đạt đến một năng lực rung động nào đó thì sự biệt ngã hóa của các Chân Thần trở nên có thể xảy ra theo Thiên Luật.
Lại nữa, chỉ khi nào thể vật chất trọng trược tam phân của một Hành Tinh Thượng Đế (như được biểu lộ bởi ba cõi thấp của chúng ta, cõi hạ trí, cảm dục và hồng trần trọng trược) đã 685 đạt đến một rung động tương ứng và lặp lại việc phát triển theo chu kỳ của mahamanvantara trước đây, để rồi tạo ra nơi đó loại tiếp xúc rung động nó gây nên sự tỏa chiếu trên cõi trí của các nhóm chân ngã. Nó làm xuất hiện một biểu lộ của các xung lực tim của Hành Tinh Thượng Đế, và như vậy đưa ra ngoại cảnh các Chân Thần (được cấp năng lượng bằng sự sống của Tim) vốn tạo thành các bí huyệt khác nhau. Cổ Luận nói:
“Khi Quả Tim của Cơ Thể đập nhịp với năng lượng tinh thần, khi cái tích lũy thất phân của nó rung động dưới xung lực tinh thần, lúc đó các dòng thần lực trải rộng, lưu chuyển và biểu lộ thiêng liêng trở thành một Thực Tại; Con Người thiêng liêng lâm phàm”.
Sự tương đồng trên cõi trần được nhìn thấy ở việc kích thích sự sống vốn được cảm nhận giữa tháng thứ ba với thứ tư trong thời kỳ trước khi sinh, khi quả tim của đứa trẻ rung động theo sự sống và cuộc sống cá nhân trở thành một sự khả hữu.
Rung động sự sống này xuất phát từ linh hồn của người mẹ (tương ứng với Pleroma hay linh hồn thế giới – universal soul) và trùng hợp với sự khơi hoạt của loa tuyến thứ ba trong nguyên tử thường tồn hồng trần của đứa trẻ. Phải nhớ rằng giống như trong mỗi vòng tuần hoàn, mọi giai đoạn đi trước đều được tóm tắt nhanh, và cũng như trong thời kỳ trước khi sinh, bào thai lặp lại trong tiến trình tạo hình, lịch sử của các giới đi trước, cũng thế trong thái dương hệ, một diễn biến tương tự có thể được nhận ra. Khi một điểm nào đó được đạt đến và ba cõi thấp trở nên rung động, hay là được truyền năng lượng, bấy giờ việc lâm phàm vũ trụ trở nên có thể xảy ra; về mặt huyền linh, “Tim” khơi hoạt và “Con của Thượng Đế”, tức biểu hiện của ước muốn và tình thương của Thượng Đế, được sinh ra (GLBN I, 203; II, 108, 122, 279) ( ). Cuộc lâm phàm vũ trụ của một vài Đấng Cao Cả trở nên hoàn thiện và một trong các chỉ dẫn của điều này là sự xuất
686 hiện của các nhóm chân ngã trên các phân cảnh trí tuệ, đưa tới kết quả là sự biệt ngã hóa. Phương pháp và thời gian có thể thay đổi tùy theo bản chất của bất cứ Hành Tinh Thượng Đế đặc biệt nào, nhưng vì mỗi một và tất cả “Quả tim của Thân Thể” đều phải rung động với sự sống đang thức tỉnh trước khi sự đáp ứng đến từ bên dưới. Các Lunar Pitris phải xúc tiến công việc của họ trong hành tinh hệ và thái dương hệ chúng ta trước khi các Solar Angels (Thái Dương Thiên Thần), rung động với sự háo hức, thủ đắc các hình hài được chuẩn bị nhờ nỗ lực của họ, và thúc đẩy họ đi vào sự sống hữu ngã thức và cách sống tách biệt. Như thế, bốn hành tinh hệ lớn trong thái dương hệ, vốn là các hiện thể (vehicles, phương tiện) cho bốn vị Hành Tinh Thượng Đế (các Ngài tạo ra Tứ Bộ của Thượng Đế), phải đạt đến một giai đoạn có khả năng rung động nào đó, và có ý thức trước một sự việc tương tự đang xảy ra trong sự toàn vẹn của nó trong thái dương hệ, và bốn cái thấp và ba cái cao được tổng hợp. Tâm Thượng Đế đang rung động, và sự đáp ứng đã đến từ mọi hành tinh hệ, vì ba loa tuyến đang rung động trong mọi hành tinh hệ đó, nhưng Con của Thượng Đế thì chưa có ngã thức đầy đủ về mặt vũ trụ. Khi sự đáp ứng đến, các bí huyệt trở nên thức tỉnh. Một bí huyệt Thượng Đế đáp ứng đầy đủ với sự kích thích nơi tim, và đó là Venus, vốn đang vượt qua vòng tuần hoàn cuối cùng.
Nếu nhà nghiên cứu cố tách thái dương hệ chúng ta ra khỏi thái dương hệ trước nó, và nếu y xem kỳ qui nguyên ở cuối chu kỳ đại khai nguyên này như là chu kỳ cuối cùng, và tột đỉnh hoàn toàn của mọi việc, y sẽ sai lầm. Trong thái dương hệ trước, cõi hồng trần vũ trụ đã đạt đến một khả năng rung động nào đó, và các devas của các lò lửa bên trong trở nên (nói một cách tương đối) tiến hóa cao, “các lửa vật chất” lúc đó chiếu sáng. Một số Sự Sống đạt đến ngã thức trong thái dương hệ ban đầu đó, và là các “nirvanis”(“kẻ nhập niết bàn”) mà H.P.B. nói đến (GLBN II, 83, 84, 243). Như có thể được mong đợi, họ được đặc trưng bởi sự thông tuệ linh hoạt, đạt được và phát triển được bằng cách tiến hóa vật chất trong kỳ đại khai nguyên trước. Họ là các Manasa devas
687 và trong toàn bộ của họ là các hiện thể của trí Thiêng Liêng, các thần lực Dhyan Chohan, tập hợp của Ah-hi. Trong thái dương hệ này, rung động của cõi cảm dục vũ trụ đang trở nên vượt trội, và qua rung động đó, việc di chuyển xuyên qua chất dĩ thái vũ trụ thứ tư (nơi mà như trước có nói, là các trung tâm lực dĩ thái của các Hành Tinh Thượng Đế) và cõi cảm dục của thái dương hệ chúng ta, một vài sự kiện có thể xảy ra. “Các Con của ước vọng” của Thượng Đế hoặc con người, có thể học được một số bài học, trải qua một số kinh nghiệm, và cộng thêm khả năng bác ái-minh triết vào cái sáng suốt có được trước kia.
Thái Dương Thượng Đế chúng ta và các Hành Tinh Thượng Đế, đều an trụ trên cõi cảm dục vũ trụ, và kết quả của năng lượng sự sống của các Ngài khi nó tuôn đổ qua “Tâm” thái dương hệ có thể được nhận thấy trong hoạt động của cõi cảm dục và trong vai trò mà tính dục và đam mê nắm giữ trong sự phát triển của con người. Vào cuối mahamanvantara này nơi đó sẽ sẵn sàng cho sự biểu lộ trong thái dương hệ thứ ba sắp tới, các vị nhập niết bàn, trong chính cơ bản, các vị này sẽ là “bác ái sáng suốt linh hoạt”; họ sẽ phải chờ cho đến khi năm cõi thấp của thái dương hệ đã đạt đến một giai đoạn phát triển rung động, giai đoạn này sẽ giúp họ tiến nhập vào, trong khi các nirvanis trong thái dương hệ này chờ cho đến khi ba cõi thấp hơn trở nên thích hợp trong rung động đáp ứng. Ở đây chúng ta đang nói về các Hành Tinh Thượng Đế. Trong Địa Cầu, sự tương đồng ẩn tàng trong sự đi đến của các Egos trong vòng tuần hoàn thứ ba, trong căn chủng thứ ba và trong dãy thứ ba. Theo chúng ta hiểu, việc biệt ngã hóa chỉ xảy ra sau khi “trạng thái thứ ba của pleroma” được đạt đến, hoặc là về mặt vũ trụ khi xét về một Hành Tinh Thượng Đế, hoặc một cách tương đối khi liên quan đến con người.
Xét cùng một chủ đề từ dưới lên trên, chính động vật trong giới thứ ba mới biệt ngã hóa (individualises, lên làm người). Xét việc đó từ trên xuống dưới, thì chính giới thứ năm, tức giới tinh thần, mới làm sinh động (ensouls) giới thứ ba và tạo nên (produces) giới thứ tư, tức là giới nhân loại hữu
688 ngã thức. Các hình ảnh này nên được nghiên cứu vì chúng nắm giữ cái bí mật còn ẩn giấu và dù cho hàm ý huyền linh đích thực sẽ không được tiết lộ cho đến kỳ Điểm Đạo chính yếu thứ ba, cũng như không được hiểu đầy đủ cho đến kỳ Điểm Đạo năm, tuy nhiên ánh sáng có thể tuôn vào ở một điểm khó hiểu. Tương tự như thế trong thái dương hệ sắp tới, hiện tượng biệt ngã hóa (nếu một thuật ngữ không thích hợp như thế có thể được dùng để chỉ một trạng thái tâm thức không thể hình dung được ngay cả đối với một điểm đạo đồ ở mức Điểm Đạo ba) sẽ không thể xảy ra cho đến giai đoạn thứ hai hoặc giai đoạn thứ sáu của Pleroma. Lúc bấy giờ tâm thức sẽ tỏa chiếu trên cõi Chân Thần, và nó sẽ là cõi của sự
biệt ngã hóa. Mọi trạng thái tâm thức dưới mức cao đó sẽ trở thành những gì mà đối với Thượng Đế tâm thức của ba cõi thấp đối với Ngài hiện giờ đang hiện hữu. Giống như thể xác của con người không phải là một nguyên khí, cũng thế mọi cõi vào lúc này ở dưới cõi dĩ thái thứ tư của vũ trụ đều không được Thượng Đế xem như là một nguyên khí.
Các Solar Angels hiện tại của chúng ta hay là các hỏa thần lúc bấy giờ sẽ có một vị thế tương tự với vị thế của Lunar Pitris hiện nay, vì tất cả sẽ hợp thành một phần của tâm thức thiêng liêng, và tuy thế, về mặt huyền bí sẽ được xem như “dưới ngưỡng” của tâm thức. Con người phải học cách kiềm chế, hướng dẫn và vận dụng các thần chất mà các thể thấp của con người được tạo ra từ đó; mục tiêu này liên quan đến việc phát triển ngã thức đầy đủ vốn được mang lại do tác động của các Solar Angels hay là các thần kiến tạo (builders) và các thần đem sinh khí (vitalisers) cho thể chân ngã; họ là các thần mà nhờ họ ngã thức trở thành hiện thực. Trong thái dương hệ tới, họ cũng sẽ không còn biểu hiện cho loại tâm thức hướng về những gì mà con người mong mỏi nữa; họ sẽ phải nâng lên đến các nhận thức còn to lớn hơn, và lần nữa, bằng phương pháp huyền linh “dẫm chân lên chúng”, các nhận thức cao siêu này sẽ trở nên chấp nhận được. Trong thái dương hệ này con người phải leo lên bằng cách đặt chân của mình lên con rắn vật chất. Y vươn lên bằng cách chế ngự vật chất và chính mình trở thành con rắn minh triết. Trong thái dương hệ tới y sẽ trèo lên bằng “con rắn minh triết” và bằng
689 cách chế ngự và kiểm soát của các Agnishvattas, đạt đến một điều mà ngay cả thể trí giác ngộ của vị Dhyan-Chohan cao nhất cũng không thể nhận thức được.
a. Nguyên khí thứ năm :
Các Solar Angels là các Pitris, các thần kiến tạo của thể Chân Ngã, và các thần tạo ra hiện tượng biệt ngã hóa hay là tâm thức được nhận thức, các Agnishvattas, các đại thiên thần của Trí Tuệ.
Một vài xác nhận rộng rãi và tổng quát đã được đưa ra với mục tiêu trước mắt là mở ra vấn đề kỳ diệu và thực tiễn này, và bằng một nỗ lực để liên kết thái dương hệ này trong trạng thái trí tuệ căn bản của nó với quá khứ và tương lai.
Tiết đoạn mà hiện nay chúng ta đang tiếp cận, liên quan đến sự phát triển của các Manasaputras thiêng liêng, xét họ như một tổng thể tổng hợp, chứa đựng Trí Thiêng Liêng, và xét Chân Thần cá nhân, đang đáp ứng với Sự Sống các Ngài như một phần của cơ thể của các Dhyani Buddhas này.
(a) Xét về mặt vũ trụ. Một châm ngôn huyền linh có vị trí của nó nơi đây. Nó nắm giữ bí quyết của Dhyanis ngũ phân :
“Ba cái Cao trong sự hợp nhất theo chu kỳ tìm cách biết và để được biết. Ba cái Thấp (vì ở đây chúng ta không tính cái thứ 8) không biết cũng không thấy; họ chỉ nghe và sờ. Cái thứ tư không có một vị trí. Cái thứ năm (cũng vốn là cái thứ tư) tạo ra ở trung điểm một TAU vũ trụ, vốn được phản chiếu trên Cái Thứ Bảy vũ trụ”.
H.P.B. nói rằng (trong GLBN I, 200, 201 – II, 251, 252)
Monad biệt ngã hóa có tâm thức tinh thần nhiều hơn là chính Monad trên cõi riêng của nó, cõi thứ hai. Ở đây phải nhớ rằng các Hành Tinh Thượng Đế chỉ lâm phàm trong vật chất trong thái dương hệ chúng ta, các thể biệt ngã hóa của các Ngài ở trên cõi trí vũ trụ, do đó biểu lộ đầy đủ đối với các thể này
690 không thể xảy ra trong kỳ biểu lộ. Do đó, một cách tương đối, trong khi biểu lộ, con người có thể biểu lộ chính mình một cách đầy đủ khi y đạt đến “tâm thức của các chốn cao”. Do đó cần nêu ra rằng ở ngay chính lúc bắt đầu việc nghiên cứu
của chúng ta về nguyên khí thứ năm này mà các
Manasaputras thiêng liêng trên cõi riêng của các Ngài phải được xét theo quan điểm lâm phàm hồng trần, trong khi đó, con người có thể được xét theo những gì, đối với y, là một trạng thái tinh thần.(1)
Sự biệt ngã hóa của con người, hay là sự xuất hiện của các đơn vị hữu ngã thức trên cõi trí, được bao hàm trong một phát triển rộng hơn, vì nó trùng hợp với sự chiếm hữu một thể hồng trần trọng trược của Hành Tinh Thượng Đế; thể này được làm bằng vật chất của ba cõi thấp của chúng ta. Khi các trung tâm lực dĩ thái của các Manasaputras trên cõi dĩ thái thứ tư của vũ trụ trở nên được truyền sinh khí, chúng tạo ra hoạt động tăng bội trên cõi trí của thái dương hệ, tức cõi chất hơi của vũ trụ, và tâm thức của Hành Tinh Thượng Đế và năng lượng sự sống của Ngài bắt đầu làm cho chính nó được cảm nhận. Đồng thời, theo Thiên Luật, lực trí tuệ hay là năng lượng trí tuệ tuôn đổ vào từ cõi vũ trụ thứ năm, tức cõi trí vũ trụ. Năng lượng hai mặt này, nhờ tiếp nhận những gì có sẵn trong thể hồng trần của chính Thượng Đế, tạo ra các tương ứng với các trung tâm lực trên cõi đó và các nhóm Chân Ngã xuất hiện. Chúng hòa lẫn dần dần ba loại điện, và chính chúng là hiện tượng điện. Chúng được tạo thành bằng các nguyên tử này, hay là các kiểu mẫu sự sống, vốn là một phần
691 của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, tức toàn bộ của Chân Thần nhân loại thuần túy. Tương tự, mãnh lực tam phân này, được

1 Giới _____ 1. 2. 3. 4. ____ Nguyên khí (principle)
5. 6. 7. 8.
Điều này có một ý nghĩa vũ trụ và thái dương hệ và đưa ra ánh sáng về sự kiện xuất hiện vốn có liên quan đến hành tinh hệ chúng ta, ĐOẠN KINH (STANZAS) về sự xuất hiện của các Hỏa Tinh Quân (Lords of Flame) nên được nghiên cứu ở đây.
tạo ra bằng sự chiếm hữu có ý thức của Hành Tinh Thượng Đế, làm sinh động thần chất và thể hồng trần trọng trược của Hành Tinh Thượng Đế được biểu lộ một cách trung thực. Đây là những gì được nói đến bằng các phát biểu rằng các devas chỉ được tìm thấy trong ba cõi thấp. Đó là một cách nói tương tự với cách nói rằng nhân loại chỉ có trong ba cõi thấp; tuy nhiên, các Chân Thần nhân loại dưới bảy kiểu mẫu, đều có trên cõi tinh thần – vì đó là cõi của lưỡng nguyên – các Chân Thần của deva cũng có ở đó.
Các nhà nghiên cứu nên luôn luôn nhớ rằng các vấn đề huyền linh học này có thể được diễn tả theo hai cách :
- Liên quan tới ba cõi thấp, hay là theo quan điểm của thể xác của Thượng Đế.
- Liên quan tới lực hay năng lượng, hoặc là theo quan điểm của thể prana của Thượng Đế tức sinh lực, tức dĩ thái thứ tư của vũ trụ.
Cái mà chúng ta hiểu qua nguyên khí thứ năm chỉ là cách diễn đạt trên cõi nguyên nhân (causal plane) của mãnh lực hay năng lượng vốn phát ra từ thể nguyên nhân của Thượng Đế trên cõi thứ năm vũ trụ, xuyên qua tương ứng của Thượng Đế với nguyên tử thường tồn hạ trí. (Các tương ứng này bao gồm một ý niệm tiến bộ hơn nhiều những gì có thể có được ngay cả đối với một điểm đạo đồ vào lúc này). Trong vòng tuần hoàn thứ năm, ý nghĩa bên trong có thể trở nên lộ rõ đối với đệ tử. Khi thiên ý dần dần chuyển hóa thành ước muốn và như vậy việc lâm phàm hồng trần được tạo ra, một giáng lưu (down flow) mãnh liệt của lực mang sinh khí (vitalising force) từ cõi thứ năm của vũ trụ xảy ra, cho đến khi giáng lưu đó đi đến cõi thứ năm của chúng ta, tức cõi trí. Vào đúng chu kỳ, chính lực này gây ra một vài sự việc có thể xảy ra trong thời gian và không gian và trong ba cõi thấp, tức thể hồng trần trọng trược của Thượng Đế. Cái đầu tiên trong các biến cố này là sự chiếm hữu, của Thượng Đế, thể hồng trần trọng trược đó, và việc tiến vào biểu lộ của Mặt Trời vật chất
692 và các hành tinh vật chất. Theo quan điểm chúng ta, dù điều này trải dài một thời kỳ rộng lớn không thể hình dung được, đối với Thượng Đế đó chỉ là một giai đoạn tụ sinh (gestation) ngắn mà mọi cơ thể đều trải qua. Một biến cố quan trọng thứ nhì là sự chiếm hữu của các Prajapatis khác nhau hay là Hành Tinh Thượng Đế với các thể hồng trần của các Ngài – lần nữa ở các thời điểm khác nhau và tùy theo trình độ tiến hóa của các Ngài. Điều này thuộc về niên đại sau đối với bảy hơn là đối với ba. Một ý tưởng về ý nghĩa của sự phân biệt này có thể được nhà nghiên cứu góp nhặt, khi y khảo cứu tiến trình của chân ngã luân hồi.
Thế là chúng ta tìm được gì ? Trước tiên, sức thôi thúc hay là ý-muốn-tồn-tại (will-to-be), phát ra từ cõi trí; kế đó là ước vọng (desire) phát ra từ cõi cảm dục, tạo ra biểu lộ trên cõi trần.
Ý tưởng này phải được trải rộng tới ba Thượng Đế hay là Ba Ngôi Thượng Đế và kế đó chúng ta có chìa khóa đưa tới bí ẩn về chín Sephiroth, Tam Vị Nhất Thể.
Biến cố khác có thể được ghi nhận – sự chiếm hữu ở một giai đoạn còn muộn hơn trong thời gian và không gian bởi các Chân Thần cá biệt đối với các thể biểu lộ của các Chân Thần đó.
Việc tuôn đổ vào của mãnh lực này của năng lượng, phát ra từ Nguyên Khí thứ năm của Thượng Đế, mang lại hai điều:
- Việc chiếm hữu bởi Thượng Đế thất phân đối với thể hồng trần trọng trược của Ngài.
- Sự xuất hiện trên cõi thứ năm của thái dương hệ các thể nguyên nhân của các Chân Thần nhân loại. hoặc là:
- Đối với Sự Sống vĩ đại hơn đó là sự luân hồi.
- Đối với các sự sống thứ yếu, đó chính là sự biệt ngã hóa (individualisation, lên làm người).
Điều này cần thêm cân nhắc.
693 Do đó điều sẽ lộ rõ với mọi nhà suy tưởng vì sao nguyên khí thứ năm này khuấy trộn trạng thái thứ ba này thành hoạt động hữu ngã thức.
(b) Xét về mặt vật hoạt luận.(1) Khi tiếp tục nghiên cứu Nguyên Khí thứ năm của Thượng Đế, giờ đây chúng ta sẽ xét nó theo khía cạnh vật hoạt luận của nó. Chúng ta đã thấy rằng nguyên khí đó có thể được xem như lực, năng lượng hoặc tính chất vốn bắt nguồn từ nguyên tử thường tồn của Thượng Đế trên cõi trí vũ trụ; tất nhiên việc này có một hiệu quả rõ rệt trên cõi thứ năm của thái dương hệ và trên cõi phụ thứ năm của cõi trần, tức cõi chất hơi. Trước khi nói đến chủ đề về các Agnishvattas đầy đủ, có ba điểm cần nhớ.

1 Vật hoạt thuyết (Hylozoism). Do tiếng Hy Lạp “ule”, vật chất (matter) “zoon”, động vật (animal); và “ism” (học thuyết, chủ nghĩa).
“Ism” là một tiếp vĩ ngữ/hậu tố biểu hiện cho học thuyết hoặc ý tưởng trừu tượng của danh từ mà ism được gắn vào. Hylozoism là học thuyết cho rằng mọi vật chất đều được phú cho sự sống.
“Khi chúng ta đạt đến khái niệm hylozoism này về một vũ trụ vật chất sống động, cái bí ẩn của thiên nhiên sẽ được giải quyết”.
Tự Điển Tiêu Chuẩn
Thứ nhất, cần nhớ rằng mọi cõi của thái dương hệ chúng ta, xét chúng dưới hình thức thần chất, đều hợp thành loa tuyến trong nguyên tử thường tồn hồng trần của Thái Dương Thượng Đế. Điều này trước kia đã được nêu ra, nhưng cần nhấn mạnh lại ở đây. Mọi tâm thức, mọi ký ức, mọi năng lực đều được chứa trong các nguyên tử thường tồn, và vì vậy ở đây chúng ta bàn đến tâm thức đó; tuy nhiên nhà nghiên cứu cần nên nhớ rằng chính ở trên cõi phụ nguyên tử mà thiên thức (logoic consciousness) (cho dù điều đó có thể vẫn còn cách xa với Thực Tại) tự tập trung. Nguyên tử thường tồn này của thái dương hệ, vốn giữ cùng mối liên hệ với thể hồng trần của Thượng Đế giống như nguyên tử thường tồn con người giữ liên hệ với thể xác của con người, là một nơi nhận thần lực, và do đó có tính tiếp nhận đối với các phóng phát thần lực từ một nguồn khác ngoài thái dương hệ. Ý tưởng nào đó về tính hư ảo của biểu lộ, cả con người lẫn Thượng Đế, có thể được gom góp từ mối liên hệ của các nguyên tử thường tồn đối với phần còn lại của cơ cấu. Tách ra khỏi vi tử 694 thường tồn, thể xác con người không tồn tại được.
Lại nữa, các hình hài khác nhau, cũng như các giới khác nhau tùy theo bản chất của lực tuôn chảy qua chúng. Trong giới động vật những gì tương ứng với nguyên tử thường tồn đáp ứng với lực của một tính chất tiến hóa giáng hạ tỏa ra từ một nhóm đặc thù. Nguyên tử thường tồn của con người đáp ứng với Lực phát ra từ một nhóm trên vòng cung tiến hóa thăng thượng và Cung của Hành Tinh Thượng Đế đặc biệt mà trong cơ thể Ngài, một Chân Thần nhân loại có một vị trí nhất định.
Thứ hai, cần phải ghi nhận rằng vì cái nói trên, điều sẽ hiển nhiên là ở giai đoạn này của dòng lưu nhập và phát triển trí tuệ, chúng ta có can hệ tới việc xuất hiện nguồn sinh lực và hoạt động hoàn mãn của loa tuyến thứ năm của Thượng Đế; việc đem lại sinh khí này tự lộ rõ trong hoạt động mãnh liệt của cõi trí, và bản chất ba mặt của hiện tượng điện để lộ trên đó.
a. Cõi phụ nguyên tử… nguyên tử thường tồn thượng trí… Dương
b. Cõi phụ thứ tư… . . . nguyên tử thường tồn hạ trí… . . . . Âm
c. Các nhóm Chân ngã… các thể nguyên nhân… . . . . . . . . . Thăng bằng
hay trung hòa
Điều này đang trong tiến trình biểu hiện trong quá trình tiến hóa. Ở đây, chúng ta đang bàn đến trạng thái vật chất và xét năng lượng trong nhiều biểu lộ khác nhau của nó. Sự đáp ứng của thần chất với dòng lực lưu nhập trên cõi trí có hiệu quả ba mặt liên quan với Thượng Đế hay là Thất Bộ :
1. Nó tạo ra một sức sống tăng mạnh trong các trung tâm lực Thượng Đế trên cõi dĩ thái thứ tư vũ trụ, do tác động phản xạ, nó được cảm nhận cả trên lẫn dưới cõi hoạt động.
2. Nó kích thích các nỗ lực của các kiểu mẫu của giới thứ
695 ba và một hiệu ứng kép được tạo ra qua việc này, vì giới thứ tư trong thiên nhiên xuất hiện trên cõi trần và các Tam Thượng Thể được phản chiếu trên cõi trí trong các thể nguyên nhân nơi đó.
3. Như trước kia có nói, thể xác được liên kết và phối hợp với các thể dĩ thái của Thái Dương Thượng Đế và của Hành Tinh Thượng Đế. Do đó ba cõi thấp được tổng hợp với bốn cõi cao, và các devas của một mahamanvantara trước hay là chu kỳ thái dương trước kia được kết hợp với các devas thuộc đẳng cấp mới hơn họ đang chờ đúng các tình trạng. Cuộc lâm phàm hồng trần của Thượng Đế được hoàn tất. Ba giới thấp, vốn là âm đối với mãnh lực cao, sức hút hỗ tương của hai cái này và sự tương tác của chúng đưa vào hiện tồn giới thứ tư hay giới nhân loại. Ba loại lửa, tức lửa Trí Tuệ, lửa Tinh Thần và lửa Vật Chất được đưa chung lại và công việc của ngã thức đầy đủ bắt đầu.
Sau rốt, nhà nghiên cứu nên rất cẩn thận nghiên cứu ở đây ý nghĩa của các số ba, tư và năm trong sự tiến hóa của tâm thức. Từ trước đến giờ khoa huyền số học (numerology) đã được nghiên cứu trước tiên, và một cách hợp lý (rightly), theo trạng thái vật chất, nhưng không phải theo quan điểm của năng lượng hữu thức. Thí dụ Triad thường được các nhà nghiên cứu xem như là tam giác được hợp thành bởi các nguyên tử thường tồn manas, buddhi và atma; hình khối (cube) thay cho con người vật chất hạ đẳng, còn ngôi sao năm cánh thường có một giải thích rất vật chất. Tất cả các góc nhìn này đều cần thiết và phải đi trước việc nghiên cứu khía cạnh bên trong, nhưng chúng nhấn mạnh vào khía cạnh vật chất hơn là vào khía cạnh bên trong; tuy nhiên vấn đề nên được nghiên cứu về mặt tâm lý. Trong thái dương hệ này, các số nêu trên là quan trọng nhất theo quan điểm tiến hóa của tâm
696 thức. Trong thái dương hệ trước, con số 6 và 7 nắm giữ bí mật còn ẩn tàng. Trong thái dương hệ tới, số đó sẽ là 2 và 1. Điều này chỉ nói tới sự phát triển tâm linh. Tôi xin minh giải: Ngôi Sao 5 cánh trên cõi trí hàm ý (trong số các sự kiện khác) sự tiến hóa, nhờ vào năm giác quan trong ba cõi thấp (vốn cũng có thể thuộc về biến phân theo năm mặt) của nguyên khí thứ năm, việc đạt được ngã thức, và phát triển loa tuyến thứ năm.
Trên cõi bồ đề, khi lóe lên ánh sáng lúc điểm đạo, con số này có nghĩa là sự phát triển đầy đủ nguyên khí thứ năm hay tính chất, tức chu kỳ hoàn tất của Ego trên năm Cung dưới sự cai quản của Đức Mahachohan, và việc đồng hóa của tất cả những gì cần được học hỏi nơi chúng và việc đạt đến – không những ngã thức đầy đủ, mà còn của tâm thức của nhóm mà một người có mặt trong đó. Nó còn rút ra sự khai mở đầy đủ của năm trong số các cánh hoa Chân Ngã, chừa lại bốn cánh sẽ khai mở trước cuộc điểm đạo cuối cùng.
Ngôi sao năm cánh ở các cuộc điểm đạo trên cõi trí chiếu sáng trên đầu của điểm đạo đồ. Điều này liên quan tới ba cuộc điểm đạo đầu tiên vốn được trải qua trong thể nguyên nhân. Cần nói rằng hai cuộc điểm đạo đầu xảy ra trên cõi cảm dục và điều này đúng, nhưng cũng đã tạo ra hiểu lầm. Chúng được cảm thấy có liên hệ sâu xa với thể cảm dục, thể xác và với thể hạ trí, và ảnh hưởng đến sự kiểm soát của chúng. Ảnh hưởng chính được cảm thấy trong các thể này, điểm đạo đồ có thể giải thích chúng như là đang xảy ra trên các cõi liên hệ, vì sự sống động của hiệu quả, và sự kích thích tiến hành phần lớn trong thể cảm dục. Nhưng phải luôn luôn nhớ rằng các cuộc điểm đạo chính được chọn trong thể nguyên nhân hoặc – tách ra khỏi thể đó – trên cõi bồ đề. Ở hai cuộc điểm đạo cuối, vốn phóng thích một người ra khỏi ba cõi thấp, và giúp cho y hoạt động trong thể sinh lực của Thượng Đế và vận dụng được sức mạnh, sức mạnh này làm sinh động hiện thể
697 Thượng Đế đó, điểm đạo đồ trở thành ngôi sao năm cánh, và nó giáng xuống Ngài, nhập vào Ngài, và Ngài được nhìn thấy ở ngay tâm của ngôi sao. Việc giáng xuống này xảy ra qua tác động của Đấng Điểm Đạo (Initiator), đang vận dụng Quyền Lực Trượng, và đặt một người tiếp xúc với trung tâm lực trong Cơ Thể của Hành Tinh Thượng Đế mà người này là một phần của Ngài; điều này được thực hiện một cách hữu thức. Hai cuộc điểm đạo thứ sáu và thứ bảy, xảy ra trên cõi Niết Bàn; ngôi sao năm cánh “chiếu diệu từ trong chính nó” theo cách nói huyền môn, và trở nên ngôi sao bảy cánh; nó giáng xuống trên con người và người này nhập vào Linh Hỏa.
Điểm đạo và bí ẩn của con số trước tiên có liên quan tới tâm thức, và về căn bản không phải là “khả năng hoạt động trên một cõi”, cũng không phải là năng lượng của vật chất, như có thể góp nhặt từ biết bao nhiêu sách vở huyền bí. Chúng bàn đến sự sống bên trong, sự sống dưới hình thức thành phần của tâm thức và ngã thức của một Hành Tinh Thượng Đế hay Đấng Chủ Quản của một Cung năng lượng (Ray), chứ không phải sự sống trong vật chất theo chúng ta hiểu. Một Hành Tinh Thượng Đế hoạt động trong hiện thể sinh lực của Ngài, và ở mức độ liên quan tới chúng ta trong thái dương hệ này; Ngài làm việc một cách hữu thức qua các trung tâm lực của Ngài.
Tổng kết: Có một giai đoạn trong sự tiến hóa của tâm thức lúc mà ba, bốn, và năm phối hợp và hòa nhập một cách hoàn hảo. Sự nhầm lẫn về điểm này xuất phát từ hai nguyên nhân vốn là mức thành đạt cá nhân của nhà nghiên cứu. Chúng ta diễn giải và tô điểm các diễn đạt tùy theo trạng thái tâm thức bên trong chúng ta. H.P.B. ám chỉ điều này (GLBN III, 456) khi bàn về các nguyên khí; cũng là cách diễn dịch các hình ảnh này thay đổi tùy theo bí quyết được dùng. Giới thứ năm hay giới tinh thần được nhập vào khi các đơn vị của giới thứ tư thành công trong việc làm linh hoạt loa tuyến thứ năm
698 trong mọi nguyên tử của con người tam phân thấp; khi chúng khai mở ba trong các cánh hoa Chân Ngã và ở trong diễn trình khai mở cánh hoa thứ tư và năm khi chúng bắt đầu trở nên có ý thức về sinh lực (pranic force) của Hành Tinh Thượng Đế.
(c) Các Solar Angels và Nguyên khí Thứ Năm. Bây giờ chúng ta có thể nghiên cứu các Thực Thể liên quan đến nguyên khí thứ năm này và ảnh hưởng của các Thực Thể đó lên sự tiến hóa tâm thức.
Nơi mà con người có liên quan đến các Solar Angels này, các Agnishvattas, tạo ra sự hợp nhất của Tam Thượng Thể tinh thần, hay là Linh Ngã (divine Self), và Tứ hạ thể (Quaternary) hay phàm ngã. Nơi nào Thượng Đế có liên quan, dù là Thái Dương hay Hành Tinh Thượng Đế, các Ngài cũng tạo ra các tình trạng nhờ đó thể dĩ thái và nhục thân trở thành một đơn vị.
Các Ngài tiêu biểu cho một loại điện lực đặc biệt; công việc của các Ngài là pha trộn và phối hợp, và trên hết, các Ngài là “các lửa chuyển hóa” của thái dương hệ, và là các trợ thủ giúp chuyển sự sống của Thượng Đế thông qua các hỏa thể (bodies of flame) của các Ngài khi sự sống đó từ trên cao đi xuống vào chỗ thấp, và khi sự sống vươn từ thấp lên cao trở lại. Các Ngài được nối liền với các nhóm cao nhất của các Ngài với phần của bí huyệt ở đầu của Thượng Đế, nó tương ứng với bí huyệt tim, và đây là manh mối đưa tới bí ẩn về kama-manas. Các thiên thần cảm dục (kamic angels) được truyền sinh lực từ bí huyệt “tim”, còn các thiên thần trí tuệ từ bí huyệt đầu của Thượng Đế, xuyên qua điểm mà bên trong đó trung tâm lực tiếp nối với tim. Hai nhóm chiếm ưu thế này là toàn thể kama-manas (trí cảm) trong mọi biểu lộ của nó. Các Solar Angels hiện hữu trong ba nhóm, tất cả đều liên hệ với trạng thái ngã thức, tất cả đều được truyền năng lượng và có liên quan với loa tuyến thứ năm của nguyên tử thường tồn Thượng Đế, và tất cả đều hoạt động như một đơn vị.
Một nhóm cao nhất có liên hệ với bí huyệt đầu của Thượng Đế, dù là Thái Dương hoặc Hành Tinh Thượng Đế. Các vị này hoạt động với các nguyên tử thường tồn thượng trí và biểu hiện ý-muốn-tồn-tại trong việc lâm phàm trong xác thân trọng trược. Sức mạnh của các Ngài được cảm nhận trên cõi phụ nguyên tử và trên cõi thứ nhì; các Ngài là vật 699 chất và sự sống của các cõi này. Một nhóm khác có liên kết rõ rệt với các thể nguyên nhân của mọi Egos và có tầm quan trọng hàng đầu trong thái dương hệ này. Họ đến từ bí huyệt tim và biểu lộ thần lực đó. Nhóm thứ ba, tương ứng với bí huyệt cổ họng, để lộ sức mạnh của họ trên cõi phụ thứ tư qua các nguyên tử thường tồn hạ trí. Họ là toàn bộ quyền năng của Chân Ngã để thấy, để nghe và để nói (hoặc phát âm) theo ý nghĩa hoàn toàn huyền linh.
Một ẩn ngữ có thể được đưa ra đây cho những ai có năng lực để hiểu. Ba chòm sao được liên kết với nguyên khí thứ năm của Thượng Đế trong biểu lộ ba mặt của nó :Sirius, hai của chòm sao Pleiades và một chòm sao nhỏ mà tên gọi của nó phải được nhận biết bằng trực giác của kẻ nghiên cứu. Cả ba chòm sao này chi phối sự chiếm hữu của Thượng Đế đối với thể trọng trược của Ngài. Khi kỳ pralaya vừa qua kết thúc và thể dĩ thái đã được phối kết, một tam giác trong các Cõi Trời (Heavens) được tạo ra theo thiên luật, nó cho phép một dòng thần lực, tạo ra rung động trên cõi thứ năm của thái dương hệ. Tam giác đó vẫn tồn tại và là nguyên nhân của dòng lưu nhập liên tục của Lực trí tuệ; nó nối kết với loa tuyến trong nguyên tử thường tồn hạ trí của Thượng Đế và bao lâu mà ý-muốn-tồn-tại của Ngài còn tiếp tục tồn tại, năng lượng sẽ tiếp tục tuôn đổ qua. Trong vòng tuần hoàn thứ 5, nó sẽ được cảm thấy ở tột đỉnh của nó. Khi xem xét các Thực Thể ( ) ban cấp nguyên khí trí tuệ cho con người, chúng ta phải nhớ rằng họ là các thực thể (beings), mà trong các chu kỳ khai nguyên trước đã thành đạt, và họ - trong vòng tuần hoàn này – chờ một thời điểm đặc biệt nào đó để tiến nhập
700 vào và như thế nối tiếp công việc của họ. Một trường hợp song hành có thể được nhìn thấy ở lối vào – trong thời Atlantis – của các Egos từ dãy nguyệt cầu. Sự song hành không chính xác, như một tình huống đặc biệt phổ biến trên nguyệt cầu và một mục đích nghiệp quả đặc biệt gom tất cả họ lại trong thời đó.
Ở đây nên nhớ rằng trong dãy nguyệt cầu, nguyên khí thứ năm, hay nguyên khí trí tuệ, phát triển một cách bình thường, và bản năng từ từ phát triển đến khi nó hòa nhập một cách tinh tế vào manas, vốn có bản chất tương tự; trong vòng tuần hoàn này một tình trạng đặc biệt đòi hỏi phải có sự kích hoạt ngoài hành tinh, và nhóm Pitris đặc biệt này đã tiến hành một sự chuyển tiếp của cái thấp thành cái cao qua một dòng năng lượng giáng lưu xuyên qua Trung Tâm Nguyên Sơ (Primary) của Địa Cầu từ một trung tâm ngoài thái dương hệ.
Ba vòng tuần hoàn chính, như trong các cõi và các nguyên khí, là quan trọng nhất đối với sự tiến hóa của các đơn vị hữu ngã thức trong thái dương hệ này, và việc làm hướng về sự

thành hình hài qua quyền năng của Định Luật điện; tất cả những gì có thể được biết chỉ là hình hài được cấp sinh khí (ensouled) bằng các ý tưởng. Thứ hai là, những gì ở trong tri thức của các tiến trình sáng tạo của thái dương hệ, con người đều phải học cho chính mình để làm thế nào theo thời gian qua sẽ trở thành đấng sáng tạo. Chúng ta có thể minh họa điều này bằng nhận xét rằng một trong các nhiệm vụ chính của phong trào Minh Triết Thiêng Liêng trong mọi chi bộ của nó là tạo nên một hình hài vốn có thể được cấp sinh khí, vào đúng lúc, bằng ý tưởng của Brotherhood (Thánh Đoàn).
hoàn thiện của vòng tuần hoàn ba, tư và năm, đối với Hành Tinh Thượng Đế, cũng như đối với con người, đánh dấu chu kỳ trưởng thành. Các chu kỳ trước và sau đó đánh dấu chu kỳ tăng trưởng hướng về sự thành thục và tích chứa thành quả của kinh nghiệm trước kia. Lần nữa, ba Phòng có thể được xem xét ở đây theo trạng thái này, và giai đoạn chủ yếu được dành riêng cho Phòng Học Tập.
Trên mọi hành tinh, các manasadevas này được nhìn thấy làm việc, luôn luôn trong ba nhóm của họ nhưng thay đổi các phương pháp được dùng tùy theo giai đoạn tiến hóa của hành tinh có liên hệ, và tùy karma của Đấng Chủ Quản hành tinh đó. Phương pháp làm việc trên Địa Cầu của họ, có thể được nghiên cứu trong GLBN và có một quan tâm có ý nghĩa nhất đối với con người vào lúc này. (Xem mọi phần trước của bộ GLBN, quyển II). Ba nhóm nên được cẩn thận xem xét theo quan điểm công việc huyền linh của họ, vốn được ám chỉ đến bằng các danh xưng :
a. Những kẻ từ khước luân hồi (nhập thế).
b. Những người gieo trồng tia lửa trí tuệ.
c. Những người khoác lấy các thể và uốn nắn khuôn mẫu.
701 Nhóm thứ hai, nhóm trung gian, có thể được chia nhỏ thành hai nhóm nhỏ :
a. Các thần gieo trồng tia lửa trí tuệ,
b. Các thần thổi bùng và cung cấp ngọn lửa tiềm tàng
trong các mẫu người thú thích hợp nhất,
như vậy lại tạo thành năm. Các diễn đạt này được chấp nhận ở giá trị bề ngoài của chúng, nhưng ít được chú ý về ý nghĩa thực sự. Nhiều thuận lợi sẽ đến nếu kẻ nghiên cứu quyết tâm nghiên cứu vấn đề theo quan điểm năng lượng và quan điểm tương tác từ lực. Những người khước từ luân hồi hoặc khước từ cung cấp năng lượng với sự sống của họ cho các hình hài được chuẩn bị, đang chịu tác động theo Thiên Luật, và sự đối kháng của họ với sự luân hồi trong các hình hài này được dựa vào sức đẩy từ lực (magnetic repulsion). Họ không thể mang lại năng lượng cho các hình hài được cung cấp, vì nó liên quan đến sự đối kháng của những gì giống nhau về mặt huyền linh. Sự Sống nhỏ bé không hẳn tiêu cực so với Sự Sống vĩ đại hơn. Nơi nào Tia Linh Quang (Spark) được gieo cấy, chúng ta có sự dễ tiếp nhận trạng thái âm so với thần lực dương và do đó có sự tiến triển của công việc. Trong mọi trường hợp, chúng ta đều có thần chất của một đối cực được truyền năng lượng bởi một sự phân cực khác với mục đích tạo ra – qua sự tương tác với nhau của chúng – sự cân bằng các mãnh lực, và việc đạt đến một loại hiện tượng điện thứ ba.
Vấn đề giáng lâm của các Hỏa Tinh Quân được bàn đến sau này dưới đề mục “Biệt ngã hóa” (“Individualisation”). Ở thời điểm này, chúng ta chỉ bàn đến công việc của các thần lực Chohan trong một thái dương hệ và theo ý nghĩa vũ trụ. Các thực thể thái dương này, nguyên là các Bản Thể (Essences) sáng suốt phóng khoáng thuộc kỳ pralaya với bản chất thứ yếu khi đến lúc tái xuất hiện của các Ngài khi biểu lộ. Khi Linh Từ được dóng lên, nó tạo ra ước muốn trong Triade để tự biểu hiện, và khi âm thanh của biểu lộ thấp hơn được pha trộn với nó, và đã hiện ra trong các Cõi Trời, như
702 các sách huyền linh diễn tả, một hiệu ứng được tạo ra, nó gây nên một đáp ứng trong một số chòm sao có liên kết; việc này phóng thích năng lượng tuôn đổ vào thái dương hệ, mang theo với nó các thái dương thiên thần này, các Ngài “trụ vào trong Tâm của Thượng Đế cho đến khi giờ lại đến”. Sự xuất hiện của các Thần này trên cõi Trí đã mang lại sự hợp nhất của Tinh Thần và Vật Chất, và từ sự hợp nhất này mà sinh ra
Chủ Thể hữu ngã thức, tức Ego. Trên các mức độ vũ trụ, một diễn tiến tương tự xảy ra liên quan với các Chủ Thể kỳ diệu đó dưới hình thức một Thái Dương Thượng Đế và các Sự Sống thất phân.
Cũng như năng lượng của một con người, tìm cách luân hồi, trải qua từ cõi có mục đích tập trung, tức cõi trí, đi vào hiện thể vật chất trên cõi phụ chất hơi, tức cõi phụ thứ năm, cũng thế, một sự kích thích hơi giống vậy xảy ra trong cơ thể Thượng Đế. Một diễn trình có phần tương tự cũng có thể được nhìn thấy liên quan đến năng lượng này trong một cơ thể người khi nó kích thích sự sống của tế bào cá nhân và mang lại sự hợp tác tương đối sáng suốt của nó trong công việc tập thể, và năng lực của nó để thế chỗ của nó trong thể hợp nhất đó. Cũng y như thế với các Chân Thần nhân loại, tức các tế bào trong cơ thể Thượng Đế. Khi khoa học nhận biết được sự thực này (cho đến nay ít khi được nhận ra) sự chú ý sẽ được chuyển sang các chất dễ bay hơi của cơ thể, đặc biệt đến bí huyệt tim và liên hệ của nó với các yếu tố hơi này. Tim sẽ được nhận thấy không những chỉ là bộ máy/ phương tiện vận chuyển các chất lỏng sự sống, mà còn là chỗ tạo ra một loại tinh chất sáng suốt nào đó vốn là yếu tố tích cực trong sự sống của tế bào.
Một ý tưởng nào đó có thể được góp nhặt từ sự việc này đối với diễn biến trong tiểu thiên địa về sự biệt ngã hóa của các đơn vị được mang lại qua một biến cố đại thiên địa vốn tạo ra các hiệu quả trong tiểu thiên địa.
Một điểm sau cùng cần nhấn mạnh ở đây. Hiểu về mặt huyền linh, năm vị Kumaras hay là năm Con sinh ra từ trí của Brahma, là các tác nhân biểu hiện của mãnh lực trí tuệ
703 này trên hành tinh chúng ta, nhưng các Ngài chỉ phản ảnh (trong Thánh Đoàn của hành tinh chúng ta) chức năng của
năm vị Kumaras hay Rishis vốn là các Thần Chủ Quản của năm Cung đang biểu lộ qua bốn hành tinh thứ yếu và hành tinh tổng hợp.
Năm vị Kumaras này là các vận hà cho thần lực này và một trong năm vị, Đấng Chủ Quản của hành tinh Venus, biểu hiện trong Chính Ngài chức năng của Huyền Giai thứ năm. Điều này giải thích cho hoạt động của Venus vào lúc biệt ngã hóa trong vòng tuần hoàn này. Trong vòng tuần hoàn tới, Huyền Giai thứ năm này sẽ được vận dụng trên hệ thống Địa Cầu chúng ta theo cách này, lúc đó chúng ta sẽ thấy manas với sự hoàn mãn đang thể hiện trong nhân loại. Huyền Giai thứ năm này của các Agnishvattas trong nhiều đẳng cấp của họ biểu hiện cho “I principle” và là các chủ thể sáng tạo (producers) của sự tự tri (self-consciousness), và là các vị kiến tạo thể nhận thức (body of realisation) của con người. Trong thời gian và không gian, và trên cõi trí, các Ngài là chính Con Người trong bản chất thiết yếu; các Ngài giúp con người tạo nên thể nguyên nhân của chính con người, khai mở Hoa sen chân ngã của chính con người và dần dần giải thoát chính con người ra khỏi các giới hạn của hình hài mà y đã tạo nên, và như thế đặt chính con người – vào đúng lúc – vào đường lối của loại kiểu mẫu năng lượng khác, kiểu mẫu của thể bồ đề. Nói cách khác, nhờ công việc của các Ngài, con người có thể trở nên hữu thức mà không có hiện thể trí tuệ, vì manas chỉ là hình thức qua đó nguyên khí cao hơn đang làm cho chính nó được nhận biết mà thôi. Sự Sống của Thượng Đế tiến vào theo chu kỳ dưới ảnh hưởng của các Hệ Cấp hay các mãnh lực khác nhau, tất cả các lực này đều tạm thời tạo cho sự sống đó một hiện thể, truyền cho nó qua chất liệu của chúng, bằng cách này ban cho nó một tính chất hoặc sắc thái nào đó, và nhờ đó làm tăng năng lực rung động của nó cho đến khi sau rốt sự sống đó thoát khỏi giới hạn của hệ cấp. Lúc đó, nó quay lại với Cội Nguồn vĩnh cửu của nó cộng thêm việc thu thập các kinh nghiệm của nó và với năng lượng tăng lên vốn là kết quả của các chuyển tiếp khác nhau của nó.
Chúng ta hãy ghi nhớ rằng các Cung là trạng thái dương/ tích cực (positive) trong biểu lộ và truyền vào trong vật chất
704 âm/ tiêu cực, deva hoặc chất liệu của hệ cấp (hierarchical substance), nhờ thế gây nên vài chứng tích của hoạt động. Các Hệ Cấp là trạng thái âm đối với các Cung và chịu trách nhiệm cho xung lực của Cung. Nhưng bên trong mỗi Cung và mỗi Hệ Cấp trong thái dương hệ này lại có một lực nhị phân. Các Con của Thượng Đế đều lưỡng tính (bisexual). Thần chất thì cũng hai tính chất (dual), vì các thiên thần tiến hóa thăng thượng đều là năng lượng dương của nguyên tử, tế bào hoặc hình hài dưới con người chẳng hạn, trong khi đó các âm điện tử hoặc các sự sống nhỏ bé bên trong hình hài là âm.
Bí ẩn của các Manasaputras nằm ở đây, và trong chức năng của Huyền Giai thứ năm, và không thể tiết lộ nhiều việc đó. Bí ẩn của thể Bồ Đề, tức là nguyên khí thứ sáu, hay nguyên khí Christ, vốn liên quan với Các Con của Thượng Đế này, và bí ẩn của Huyền Giai thứ năm vốn là hiện thể hay nơi nhận (recipient) của buddhi, không thể được nói tới bên ngoài các phạm vi điểm đạo. Nó che giấu khả năng của việc khai mở Chân Ngã và nắm giữ bí ẩn Karma của các Hành Tinh Thượng Đế, năm vị Kumaras.
Nguyên khí thứ năm, tức nguyên khí manas được biểu hiện trong năm vị Kumaras, và nếu đạo sinh nghiên cứu ý nghĩa của năm cánh hoa đầu tiên, chúng được khai mở trong hoa sen chân ngã, thì y có thể tiếp xúc được bìa của bí mật. Cung năm vốn là Cung của vị Kumara thứ năm, đáp ứng mạnh mẽ với năng lượng tuôn đổ qua Huyền Giai thứ năm. Như đạo sinh huyền linh học biết, Đấng Chủ Quản Cung 5 giữ vị trí đó trong bảng liệt kê thất phân, nhưng dưới phân loại ngũ phân, Ngài giữ vị trí thứ ba hay vị trí giữa.
1. Đấng Chủ Quản Ý Chí hay Quyền Năng vũ trụ.
2. Đấng Chủ Quản Bác Ái – Minh Triết vũ trụ.
3. Đấng Chủ Quản Thông Tuệ Linh Hoạt vũ trụ. ............... 1
4. Đấng Chủ Quản Hài Hòa vũ trụ ....................................... 2
5. Đấng Chủ Quản Kiến Thức Cụ Thể vũ trụ ..................... 3
6. Đấng Chủ Quản Lý Tưởng Trừu Tượng vũ trụ ............. 4
7. Đấng Chủ Quản Nghi Lễ Huyền Thuật vũ trụ .............. 5
705 Điều này cần được xem xét kỹ, do đó sự liên quan chặt chẽ của Ngài, với cương vị Đấng Truyền Chuyển thần lực trong dãy Nguyệt cầu, tức dãy thứ ba, liên quan với giới thứ ba, giới động vật, và với vòng tuần hoàn thứ ba, phải được ghi nhớ. Một biểu tượng vốn có thể được thấy trong các di tích cổ thay cho Thánh Danh của Ngài hay là mô tả về Ngài là một ngôi sao năm cánh đảo ngược với Tam Giác chiếu sáng ở tâm. Nên ghi nhận rằng các điểm có liên quan trong biểu tượng số 8 này – một minh họa về trạng thái đặc biệt của tâm thức được tạo ra khi thể trí được xem là Kẻ Giết Sự Thực. Cái bí ẩn của trạng thái avitchi ( hành tinh được giấu nơi đây, cũng như hành tinh hệ chính yếu thứ ba có thể được xem là avitchi (a tỳ) của thái dương hệ, còn nguyệt cầu có thời được xem như một vị trí tương tự liên quan với hành tinh hệ chúng
ta. Điều này phải được diễn dịch bằng các thuật ngữ chỉ tâm thức, chứ không chỉ vị trí.
Trong vòng tuần hoàn 5, ở điểm giữa của nó, một số điều sẽ xảy ra.
Huyền Giai thứ 5 sẽ gia tăng sức mạnh đầy đủ của nó. Điều này sẽ xảy ra trước Ngày Phán Xét, và sẽ đánh dấu một mức đấu tranh dữ dội, vì hiện thể trí tuệ “manas” (mà chúng biểu hiện) sẽ nổi loạn chống lại sự chuyển dịch của sự sống bên trong (thể bồ đề). Do đó nơi đây sẽ chứng kiến trên một giai tầng nhân loại và hàng triệu người có liên hệ đồng thời, một sự lặp lại cuộc đấu tranh giống hệt, nó lôi cuốn người đang tìm cách vượt qua thể trí và sống cuộc sống Tinh Thần. Đây là trận chiến Armageddon cuối cùng, tức bãi chiến trường của hành tinh (planetary Kurushetra) và sẽ được tiếp nối bởi Ngày Phán Xét khi các Con của Trí Tuệ sẽ bị ném ra và các Rồng Minh Triết ngự trị. Điều này chỉ hàm ý rằng những kẻ mà nguyên khí trí tuệ trong họ quá mạnh hoặc là
706 kém phát triển sẽ được xem như các thất bại và sẽ phải chờ một giai đoạn phát triển thích hợp hơn, trong khi những người đang sống cuộc sống trực giác, và nơi họ, sự sống đó đang trở nên mạnh mẽ hơn – người thiên về tâm linh, người tìm đạo, đệ tử thuộc mọi trình độ, điểm đạo đồ và các adepts – sẽ được dành riêng để theo đuổi con đường tiến hóa tự nhiên trên hành tinh hệ này.
Bí ẩn của Capricorn (Nam Dương) được che giấu trong các bộ năm này và trong các lời của Thánh Kinh “chiên và dê” (TK. Rev. 20 : 6 – 7. Matt. 25: 32). Các ẩn ngữ của Thiên Chúa giáo về điều này khi Ngài nói đến sự ngự trị của Đức Christ trên cõi trần một ngàn năm trong đó con rắn đang bị giam nhốt. Nguyên khí Christ sẽ chiến thắng trong phần còn lại của Manvantara, còn bản chất vật chất thấp kém và trí tuệ sẽ bị đình chỉ tạm cho đến vòng tuần hoàn tới, khi cơ hội mới sẽ xuất hiện đối với một vài nhóm thuộc số bị loại, mặc dù đa số sẽ bị trì hoãn cho đến một thái dương hệ khác. Một điều tương tự lại sẽ xảy ra trên dãy thứ năm chỉ vì nó liên quan đến một trung tâm lực trong Hành Tinh Thượng Đế mà chúng ta chỉ biết ít, ở đây chúng ta không cần bàn thêm về việc đó.
Các dãy hành tinh biểu hiện cho các trung tâm lực, và khi chúng được khơi hoạt và đến dưới sự kích thích, chúng đưa vào lâm phàm ở cõi trần một vài mẫu manasaputras. Kiểu mẫu được chi phối bởi năng lượng dãy thứ năm thì ít được biết tới vì nó vẫn còn ở trong diễn trình tiến hóa bên trong hành tinh hệ khác, hành tinh hệ thứ năm, thế nên, xem xét nó chỉ phí thì giờ chúng ta. Nó được kết nối với việc khai mở cánh hoa chân ngã thứ 5 của một Hành Tinh Thượng Đế trên cõi riêng của Ngài và tất nhiên với hoạt động của loa tuyến thứ 5. Khi đến lúc, các đơn vị năng lượng này “nhập vào” từ một hành tinh hệ khác dựa vào một dòng năng lượng vũ trụ vốn sẽ chuyển đổi qua một tam giác thái dương hệ đặc biệt, giống như khi các chân ngã nhập vào vòng tuần hoàn này.
Ở đây có thể nêu ra rằng các Solar Angels có liên quan với Huyền Giai thứ 5 dĩ nhiên là một yếu tố mạnh mẽ trong hệ tiến hóa của giới thứ năm hay giới tinh thần; các thần này là những gì làm cho việc đó có thể xảy ra, vì các Ngài không
707 những chỉ lấp chỗ trống giữa giới thứ tư với giới thứ ba, mà còn lấp chỗ trống nằm giữa giới thứ tư và giới thứ năm.
Chúng ta không cần xem xét thêm về vấn đề nguyên khí thứ năm này, vì hai lẽ :
Thứ nhất, đề tài đó đã gói ghém đầy đủ mục tiêu của chúng ta trong một đoạn trước, và thứ hai, sự tiết lộ đầy đủ có liên quan với manas vũ trụ và các thực thể bước vào dưới ảnh hưởng đó có thể không được tiết lộ thêm nữa vào lúc này. Những gì được trình bày trong GLBN, và được bổ sung ở đây bằng các chi tiết thêm nữa, sẽ đủ cho các khảo cứu của các đạo sinh cho một thế hệ khác. Mỗi thế hệ sẽ tạo ra những người có thể xác định sự kiện chưa lộ ra đó cho chính họ; họ sẽ vận dụng những gì thuộc bên ngoài và được biết rõ như những viên đá lót trên con đường đưa đến tri thức hoàn thiện. Họ sẽ biết và họ sẽ đưa ra, và chỉ chu kỳ năm mươi năm tới đây (Bộ sách này được xuất bản lần đầu năm 1925 ND) sau khi công việc của họ được hoàn tất sẽ chứng kiến sự nhận thức của nhiều người đối với chân lý được tiết lộ bởi một vài người. Trong trường hợp của H.P.B. đây là điều hiển nhiên. Dựa vào trào lưu của nỗ lực hiện nay, GLBN sẽ được chứng tỏ là đúng và công lao của bà sẽ được xác minh.
b. Về sự biệt ngã hóa (On individualisation)
(a) Công việc của Các Solar Angels. Chúng ta hãy xem xét qua về cấu tạo chung của thể Chân Ngã bằng cách liệt kê các phần tạo thành của nó và ghi nhớ rằng hình hài bao giờ cũng được chuẩn bị trước khi có sự chiếm hữu. Do nghiên cứu về thể này, chúng ta có thể nhận được một số ý tưởng và một ít ánh sáng về hiện tượng Individualisation đại thiên địa.
Thể nguyên nhân (causal body), đôi khi được gọi (dù là thiếu chính xác) là “karana sarira”, có vị trí của nó trên cõi phụ thứ ba của cõi trí, tức cõi trừu tượng thấp nhất, và là cõi mà trên đó Cung của Thượng Đế Ngôi Ba đưa ra “ánh sáng để kiến tạo” cần thiết. Điều này là vì mỗi cõi phụ đều đặc biệt ở dưới ảnh hưởng của Số, Tên hoặc Đấng Chủ Quản của cõi
708 phụ đó. Khi đến lúc và các hiện thể cho thể bồ đề được phối kết, một vài Đấng Cao Cả, Các Hỏa Tinh Quân hoặc các Manasadevas, qua ngoại lực khởi động, bắt đầu liên kết với vật chất của cõi phụ đó, và làm sinh động cõi đó bằng năng lượng của Chính Các Ngài. Các Ngài tạo ra một sức thúc đẩy mới và tích cực, sức này kết hợp vật chất của cõi và tạo ra sự thăng bằng tạm thời của các lực. Đó là ý nghĩa của “the white” (“màu trắng”) hay tình trạng trong suốt của thể nguyên nhân mới. Nó vẫn cùng với chân ngã mới sinh lần đầu tiên làm đảo lộn tình trạng thăng bằng, và kế đó lấy lại thăng bằng đó, vào lúc kết thúc tiến trình, tạo ra một hình hài tỏa sáng, đầy các sắc màu ban sơ.
Vào lúc xuất hiện của các Manasadevas để tạo ra ngã thức (self-onsciousness – tâm thức tự tri) và đưa tới sự lâm phàm của các Linh Ngã (divine Egos), bốn sự việc xảy ra trên cõi đó. Nếu đạo sinh thêm vào bốn sự việc này những điều đã được truyền đạt trong các sách huyền linh học khác liên quan tới ảnh hưởng của sự biệt ngã hóa ở người thú và sự xuất hiện của y với tư cách một chủ thể hữu ngã thức trên cõi trần, một giả thuyết tạm đủ được đưa ra, nhờ đó con người có thể đảm trách về mặt khoa học sự khai mở riêng của mình. Bốn sự việc được đưa ra theo thứ tự xuất hiện của chúng theo thời gian và không gian.
Thứ nhất. Có sự xuất hiện trên cõi phụ thứ ba của cõi trí một vài thôi thúc rung động – chín rung động – tương ứng với rung động ngũ phân của các Manasadevas này cùng với rung động tứ phân được tạo ra từ bên dưới và có sẵn trong vật chất của cõi phụ này, tức cõi phụ thứ năm theo quan điểm thấp. Rung động này tạo ra “hoa sen chân ngã cửu phân”, ở giai đoạn này, nó được liên kết chặt chẽ với chín cánh hoa xếp lại cánh này trên cánh kia. Chúng đều rung động và có “ánh sáng” lấp lánh mà không quá chói sáng. Các “búp hoa sen” này đều ở trong các nhóm, tùy theo ảnh hưởng của các búp hoa đặc biệt của các vị Dhyanis ngũ phân, các Ngài đang tác động vào nó và các Ngài tạo ra nó bằng chất liệu của chính các Ngài, tác động tới nó một cách yếu ớt với “Lửa của trí tuệ”.
709 Thứ hai. Có một tam giác xuất hiện trên cõi trí, do hoạt động trí tuệ tạo ra, và tam giác lửa này từ từ bắt đầu luân lưu giữa nguyên tử thường tồn thượng trí với một điểm ở tâm của hoa sen chân ngã, rồi từ đó đến nguyên tử thường tồn hạ trí, vốn đã xuất hiện trên cõi phụ thứ tư qua bản năng nội tại gắn liền với năng lực tinh thần. Tam giác lửa này, vốn được tạo thành bằng lực điện trí tuệ thuần túy, lúc nào cũng trở nên sáng chói hơn cho đến khi nó tạo ra một rung động đáp ứng từ thấp lẫn cao. Tam giác này là cái nhân của antaskarana. Công việc của người tiến hóa cao là biến tam giác này thành một cái duy nhất (unity), và bằng đạo tâm cao (vốn chỉ là dục vọng được chuyển hóa đang tác động đến chất trí) chuyển nó thành Thánh Đạo và như vậy tạo ra một hình thức tổng hợp cao cho “con đường” sớm hơn đi kèm theo mà Tinh Thần đi xuống bắt đầu chiếm lấy hiện thể của nó, tức thể nguyên nhân, và từ nơi đó, lại hoạt động thông qua phàm ngã.
Thứ ba. Ở một giai đoạn hoạt động rung động nào đó, công việc của Hỏa Thần Quân tạo ra một thể hoặc hình hài và một rung động cần đến sự đáp ứng, nơi đây cũng đồng thời xảy ra một sự kiện thực tiễn.
Một giáng lưu (downflow) của thể bồ đề xảy ra theo con đường của tam giác trí tuệ cho đến khi nó đạt đến một điểm ở ngay tâm của hoa sen. Ở đó bằng sức mạnh của chính rung động của nó, nó tạo ra một thay đổi trong vẻ ngoài của hoa sen. Ở ngay tâm của hoa sen, thêm ba cánh hoa xuất hiện, chúng tiến gần đến ngọn lửa trung ương, bao chặt ngọn lửa đó, và vẫn khép kín cho đến lúc phát hiện ra “bảo ngọc trong Hoa Sen”. Hoa Sen Chân Ngã giờ đây được tạo thành với 12 cánh, 9 trong số đó xuất hiện vào giai đoạn này dưới hình thức chồi nụ (bud form) còn 3 cánh hoàn toàn ẩn tàng và bí mật.
Đồng thời ba nguyên tử thường tồn còn bị khép kín trong hoa sen, và được nhìn thấy bằng nhãn thông giống như ba
710 điểm ánh sáng ở phần dưới của búp hoa, ngay dưới phần trung ương. Ở giai đoạn này chúng tạo thành một tam giác cháy lờ mờ. Dù chỉ ở trong tình trạng phôi thai, thể nguyên nhân hiện giờ đang sẵn sàng cho hoạt động đầy đủ khi các vô lượng thời trôi qua, và được hoàn tất trong tất cả bản chất tam phân của nó. Khía cạnh vật chất có liên quan đến hình hài vật chất của con người trong ba cõi thấp, hoặc là phàm ngã sáng suốt linh hoạt của con người có thể được phát triển và được kiềm soát nhờ nguyên tử thường tồn hạ trí, nguyên tử thường tồn cảm dục và nguyên tử thường tồn thể xác. Trạng thái Tinh Thần ẩn giấu ở tâm của hoa sen, vào lúc thích hợp, sẽ hiển lộ khi các Manasadevas hoàn tất công việc các Ngài. Ý muốn sẽ kéo dài mãi nơi đó. Trạng thái tâm thức biểu hiện cho bác ái-minh triết của Linh Ngã khi nó tự hiển lộ nhờ thể trí hầu hết ở đó, và trong chín cánh hoa và năng lực rung động của chúng ẩn dưới mọi cơ hội, mọi năng lực bên trong để tiến hóa, và mọi khả năng hoạt động với tư cách một đơn vị hữu ngã thức, thực thể đó chúng ta gọi là Con Người.( ) Mahadeva ngự ở tim, Surya hay là Vishnu phát hiện ra Ngài trong bản thể của Ngài dưới hình thức Minh Triết đối với Tình Thương và Tình Thương đối với Minh Triết, còn Brahma, Thượng Đế Sáng Tạo khiến cho sự thiên khải đó có thể xảy ra. Cha trên trời phải được hiển lộ qua Đức Christ,
711 Đấng Con, bằng cách lâm phàm có thể xảy ra qua công việc của Chúa Thánh Thần. Mọi điều này đều xảy ra bằng sự hy sinh và phương tiện của một vài thực thể vũ trụ, các vị này “hiến dâng chính các Ngài” để cho Con Người có thể hiện hữu. Từ chính bản thể các Ngài, các Ngài ban ra những gì cần thiết để tạo ra nguyên khí biệt ngã hóa, và cái mà chúng ta “ngã thức” (“self-consciousness”) và như vậy giúp cho Tinh Thần thiêng liêng nhập vào sự sống sung mãn hơn nhờ giới hạn bởi hình hài, nhờ các bài học được tích trữ qua một cuộc hành hương dài, và qua “sự đồng hóa của nhiều sự sống đa dạng”.
Điểm thứ tư cần được ghi nhận, đó là khi ba biến cố này xảy ra, ánh sáng hay là lửa vốn luân lưu theo tam giác trí tuệ,

Rama trong gia đình Dasaratha. Như bạn biết, Dasaratha là một hậu duệ của các vua mặt trời, Ngài bắt đầu cai trị địa cầu này từ thời của Bàn Cổ Vyvaswatha. Như danh xưng của Ngài hàm ý, Ngài là một vị vua mà tai có thể chu du theo mười hướng hoặc hiểu theo ý nghĩa huyền linh tiểu vũ trụ, Ngài là vua của cơ thể con người, nó có mười giác quan hành động và nhận thức dùng nối kết nó với mười hướng. Bạn rất quen thuộc với ý tưởng rằng các triết gia cổ của chúng ta quen mô tả cơ thể như là một thành phố có chín cổng. Như bạn biết, chín cổng là chín lỗ thông thương của cơ thể người. Nếu bạn thêm vào chín lỗ trên, một lỗ nữa được biết dưới tên Brahma-rundra hay là cửa (door) của Brahma, bạn sẽ được mười cổng tương ứng với 10 hướng. Từ ngữ “Dasaratha” cho thấy tâm thức liên quan với các giác quan của chúng ta, mà tâm thức thì ở dưới cái tâm thức mà chúng ta gọi là trí (mind).
Tạp chí The Theosophist, quyển XIII, trang 340.
được triệt thoái đến tâm của hoa sen, và “nguyên hình kiểu” của antaskarana tương lai, nếu có thể diễn tả như thế, biến mất. Năng lượng tam phân của các cánh hoa, các nguyên tử và “bảo ngọc” bấy giờ được tập trung, bởi vì xung lực bây giờ phải được sinh ra, sẽ tạo ra một dòng chảy xuống của năng lượng từ thể nguyên nhân mới được tạo ra, đi vào ba cõi thấp của nỗ lực con người.
Chúng ta đã bàn đến cách biệt ngã hóa nhờ sự giáng nhập của các Hỏa Thần Quân, vì đó là cách chủ yếu trong thái dương hệ này; bất luận cách nào có thể được theo đuổi trong các hành tinh hệ và dãy khác nhau, vào giai đoạn giữa, đây là qui tắc chung. Các tình trạng nghiệp quả có liên quan đến một Hành Tinh Thượng Đế có thể tác động đến các biến đổi và đưa vào hoạt động các manasadevas mà hoạt động của các vị này không thể y nhau ở chi tiết được thể hiện, nhưng các kết quả bao giờ cũng giống nhau và các Linh Ngã (divine Egos) ở trong các thể nguyên nhân của chúng đều có các công cụ giống nhau để thể hiện.
Một điểm sau rốt có ý nghĩa sâu xa đó là các Agnishvattas tạo nên các cánh hoa bằng vật chất của Chính Các Ngài, vốn là vật chất được truyền năng lượng bằng nguyên khí “I-ness” hay là aham kara (nguyên khí ngã thức hay là nguyên khí tạo ngã). Các Ngài tiếp tục cấp năng lượng/kích hoạt các vi tử thường tồn bằng mãnh lực dương của chính các Ngài, để đưa các loa tuyến đi vào hoạt động đầy đủ và hữu ích đúng lúc. Mọi khả năng, mọi hy vọng và tính chất lạc quan và mọi thành công tương lai đều ẩn giấu trong hai điểm này.
Như chúng ta thấy, công việc của các Agnishvattas trên cõi trí tạo ra một dòng giáng lưu của lực hoặc năng lượng từ Monad (hay là Tinh Thần) và dòng này cùng với năng lượng của tứ hạ thể, tạo ra sự xuất hiện của thể Chân Ngã trên cõi trí. Nhờ ánh sáng điện thông thường, chúng ta có một minh họa yếu ớt về ý tưởng mà tôi tìm cách truyền đạt. Bằng việc tiến đến gần của hai cực, ánh sáng được tạo ra. Với một kiểu mẫu tương tự của hiện tượng điện, ánh sáng của Chân Thần chiếu ra, nhưng chúng ta phải nới rộng ý tưởng đến các cõi tinh anh hơn, và bàn đến bảy loại lực hay năng lượng liên kết với một cực duy nhất và với bốn loại lực liên kết với lực kia. Một công thức khoa học cho diễn tiến biệt ngã hóa gợi lại sự tiến gần hai phía với các loại năng lượng khác nhau của nó trong một biểu tượng và một con số, nhưng điều đó không thể được tiết lộ ở đây.
Các Manasadevas được truyền năng lượng vào chính các Ngài bằng thần lực từ cõi trí vũ trụ - một lực vốn được vận hành suốt từ lúc biệt ngã hóa của Thái Dương Thượng Đế trong các thiên kiếp (Kalpas) xa xăm. Với bản chất hợp nhất của các Ngài, các Ngài biểu hiện cho ý chí hay là mục tiêu của Thượng Đế, và là các “nguyên hình mẫu” vũ trụ của các Solar Angels của chúng ta. Các Solar Angels trên cõi trí của thái dương hệ biểu hiện đến mức tối đa ý chí và mục tiêu đó khi Thượng Đế có thể thể hiện trong một cuộc lâm phàm đơn độc và như các Ngài, trong các nhóm của các Ngài, có thể phát triển. Do đó, các Ngài hành động qua các nhóm Chân ngã và trước tiên, sau khi biệt ngã hóa, dựa vào các nguyên tử thường tồn hạ trí của các chủ thể riêng biệt, các chủ thể này chuyển sang nhóm nhỏ của các nhóm lớn. Đây là công việc phụ của các Ngài. Ở một giới hạn nào đó, công việc của các Ngài có thể được mô tả như sau :
713 Thứ nhất, các Ngài mang lại sự hợp nhất của Linh Ngã với phàm ngã. Điều này đã được bàn đến.
Thứ hai, các Ngài hoạt động qua các nguyên tử thường tồn hạ trí, ghi dấu lên nguyên tử, vô cùng nhỏ như nó phải được ghi, cái phần của mục tiêu Thượng Đế mà cá nhân có thể tiến hành trên cõi trần. Trước tiên ảnh hưởng của các Ngài được đồng hóa trong vô thức và con người đáp ứng với thiên cơ một cách mò mẫm và thiếu hiểu biết. Về sau, khi sự tiến hóa tiếp nối, công việc của các Ngài được con người nhận biết bằng một hợp tác có ý thức với cơ tiến hóa.( ) Sau cuộc điểm đạo thứ ba, trạng thái ý chí hay trạng thái mục tiêu chiếm ưu thế.
Ở đây có thể ghi nhận là chính mãnh lực tích cực của các Manasadevas mới tạo ra sự khai mở. Chức năng của các Ngài được biểu hiện bởi vị Hierophant. Khi thấy trước Ngài hiện thể cho buddhi, Ngài chuyển điện thế (voltage) từ các cõi cao qua cơ thể Ngài, và với Thần Trượng (được nạp bằng mãnh lực dương của trí tuệ) truyền năng lượng trí tuệ cao siêu này cho vị điểm đạo đồ để vị này có khả năng biết rõ và nhận ra kế hoạch đối với tâm điểm – nhóm của y qua sự kích thích tăng lên vô cùng. Lực này giáng xuống từ vi tử thường tồn thượng trí xuyên qua antaskarana và được hướng đến huyệt nào mà vị Hierophant (Chủ Lễ) - theo Định Luật – thấy nên được kích thích. Ngài làm ổn định thần lực và điều chỉnh dòng chảy của nó khi nó luân lưu khắp hoa sen chân ngã sao cho khi công đoạn khai mở được hoàn tất, nguyên khí thứ sáu ở Tâm của Hoa Sen có thể bộc lộ. Sau mỗi cuộc điểm đạo, Hoa Sen trở nên phát triển hơn và ánh sáng từ trung tâm bắt
714 đầu tỏa chiếu – một ánh sáng hay là Lửa mà cuối cùng đốt lên xuyên qua ba cánh hoa được cất giấu nơi thiêng và cho phép thấy được vẻ rực rỡ hoàn mãn bên trong, và lửa điện của tinh thần được hiển lộ. Vì điều này diễn ra trên cõi phụ thứ hai của cõi trí (hoa sen chân ngã hiện giờ đang định vị trên đó) một kích thích tương ứng xảy ra trong vật chất trọng trược vốn hợp thành các cánh hoa hay là các bánh xe của các bí huyệt trên các phân cảnh cảm dục và dĩ thái.
(b) Biệt ngã hóa và các chủng tộc. Nếu bộ luận này không đáp ứng cho mục đích nào khác hơn là hướng sự chú ý của các nhà nghiên cứu khoa học và triết học, vào việc nghiên cứu mãnh lực hoặc năng lượng trong con người và trong tập thể, đồng thời lý giải con người và gia đình nhân loại liên quan tới hiện tượng điện, thì nhiều ý muốn tốt lành sẽ được đạt đến. Tính phân cực (polarity) của một người, của một nhóm và của một số đông các nhóm, tính phân cực của các hành tinh và liên hệ của chúng với nhau và với Mặt Trời, tính phân cực của thái dương hệ và liên hệ của nó với các thái dương hệ khác, tính phân cực của một cõi với cõi khác, và của nguyên khí này với nguyên khí khác, tính phân cực của các thể tinh anh, và áp dụng khoa học của các định luật điện cho toàn bộ sự sống trên cõi trần sẽ mang lại cuộc cách mệnh trên hành tinh chỉ kém cuộc cách mệnh được thực hiện vào lúc biệt ngã hóa. Tôi xin nêu ra đây vài sự kiện có ý nghĩa mà các nhà nghiên cứu cần nên thật thận trọng xem xét.
Trong căn chủng thứ ba (1) hiện tượng biệt ngã hóa xảy ra. Đó là một biến cố vốn có thể xảy ra qua một vài điều kiện và các liên hệ về cực, và bởi vì các định luật khoa học được nhận ra và các Đấng Thức Giả (Knowers) tận dụng tình trạng điện
715 đặc biệt để thúc đẩy sự tiến hóa của nhân loại. Đó là hiện tượng điện thuộc loại tuyệt diệu và tạo ra “các ánh sáng bao giờ cũng cháy”. Đó là kết quả của việc hiểu biết về định luật thiên nhiên và sự thích ứng của nó với cơ hội.
Trong căn chủng thứ tư, một thích ứng khác với thần lực xảy ra. Lần nữa, thời gian và cơ hội được tận dụng để mở cánh cửa đi vào giới thứ năm bằng phương pháp khai mở gượng gạo. Một loại điện thứ ba đóng vai trò của nó trong việc mang lại biến cố này, và nó là hậu quả của hiện tượng điện này trên các đơn vị (mà chính chúng là các trung tâm năng lượng – khi nhìn về mặt khoa học – sẽ cho thấy một sự thích hợp của con người cho nghi thức điểm đạo, và việc y có thể đóng vai trò một tác nhân truyền đạt năng lượng tinh thần cho thế gian. Về mặt kỹ thuật mọi khai mở đều là một tác nhân truyền đạt thần lực và công việc của y tất nhiên có ba mặt :
1. Cung cấp một hiện thể (phương tiện) ba mặt có khả năng đề kháng với mãnh lực và có khả năng nhận và giữ lại nó.

1 Căn chủng (Root races). GLBN giảng rằng bảy nhóm các đơn vị nhân loại cư trú trên bảy lục địa trong thời gian tiến hóa. GLBN II, 6, 7, 8. a. Giống dân thứ nhất …… Thánh Địa Bất Hoại.
b. Giống dân thứ hai …. Cực Bắc Địa.
c. Giống dân thứ ba ….. Lemurian
d. Giống dân thứ tư …… Atlantean
e. Giống dân thứ năm … Aryan.
f. Hai giống dân nữa sẽ nối tiếp giống dân hiện nay.
2. Truyền đạt nó dưới hình thức năng lượng cho thế giới mà y đang phụng sự.
3. Dự trữ một số thần lực dùng cho hai mục đích :
a) Cung cấp một kho dự trữ thần lực cho các trường hợp khẩn cấp và cho công việc đặc biệt theo yêu cầu của các Đấng Cao Cả.
b) Hành động như một máy phát điện cho nhóm trực tiếp mà mọi linh hồn tiến hóa, các đệ tử và điểm đạo đồ tụ tập chung quanh họ trên cõi này hoặc cõi khác trong ba cõi thấp.
Trong căn chủng thứ năm, một diễn biến khác thường khác có thể được trông đợi, và thời gian nằm cận kề trước mắt. Diễn biến đó có xuất xứ của nó trong năng lượng mà sau rốt dẫn đến kết quả là trận thế chiến. Hiệu quả đầu tiên của việc xuất hiện của kích thích điện mới mẻ từ các trung tâm bên
716 ngoài thái dương hệ là luôn luôn gây ra một hủy diệt ban đầu dẫn đến sự phát hiện. Những gì bị giam nhốt phải được thả lỏng. Thế là việc đó sẽ xảy ra trong căn chủng này, căn chủng thứ năm. Một vài vũ trụ lực đang tác động, còn ảnh hưởng đầy đủ của năng lượng của chúng thì chưa rõ rệt. Thánh Đoàn sẽ thừa dịp lực thần lực đang đến này để xúc tiến các kế hoạch của hành tinh. Trong mọi trường hợp, ảnh hưởng của hiện tượng được cảm nhận trong giới này hoặc giới khác bên cạnh giới nhân loại. Trong thời kỳ biệt ngã hóa, rõ ràng là một sự kích thích dữ dội xảy ra trong giới động vật – một kích hoạt kéo dài, dẫn đến hiện tượng “động vật thuần hóa” (“domestic animals”) như chúng ta gọi chúng và giai đoạn thông minh tương đối cao của chúng khi so sánh với động vật hoang dã. Trong thời Atlantis, việc mở ra cánh cửa đi vào giới thứ năm, hay là đi vào giai đoạn tuệ giác thức, có một ảnh hưởng sâu xa trên giới thực vật. Ảnh hưởng này có thể được thấy thể hiện trong các kết quả như Burbank đã đạt được và có bản chất tương ứng với tiến trình khai mở trong con người, liên quan với sự thành đạt nhanh chóng một hoàn thiện tương đối.
Trong biến cố phi thường sắp xảy đến, trong sự thiên khải cận kề, Thánh Đoàn sẽ lại tận dụng thời gian và năng lượng để mang lại một vài biến cố vốn sẽ xảy ra trước tiên trong giới nhân loại nhưng cũng sẽ được thấy như là sự hình thành thần lực (force generation) trong giới khoáng chất. Khi được cảm nhận trước tiên trong giới nhân loại, năng lượng mang lại các tình trạng vốn tạo ra hoạt động mãnh liệt đưa đến kết quả là chiến tranh và gây ra căng thẳng trên thế giới hiện nay.
Trong giới khoáng vật, nó tác động đến vài khoáng chất và các nguyên tố, còn các chất phóng xạ cũng xuất hiện. Đặc điểm này (tức là tính phóng xạ) của pitchblende (hỗn hợp uranium + radium) và các đơn vị có liên quan khác tương đối là một phát triển mới theo luật tiến hóa và là một phát triển mà; dù chậm chạp chỉ cần đưa ra loại năng lượng mà hiện giờ
717 đang bắt đầu tuôn đổ trên địa cầu. Mãnh lực này bắt đầu tràn đến vào cuối thế kỷ mười tám, tuy nhiên tác động đầy đủ của nó chẳng được cảm nhận chút nào, vì sẽ mất vài trăm năm trước khi nó qua đi. Nhờ có nó, một số khám phá mới diễn ra, và trật tự mới xuất hiện dựa vào nó. Các Đấng Cao Cả, những Đấng biết được thời điểm, sẽ mang lại, trong căn chủng chúng ta, những gì phù hợp với các sự kiện trong các giống dân thứ ba và thứ tư.
(c) Các phương pháp biệt ngã hóa (thoát kiếp thú). Chúng ta đã thấy làm thế nào mà các cách biệt ngã hóa đặc trưng trong thái dương hệ này lại là kết quả của lực phát ra từ cõi trí vũ trụ, lực này cuốn vào hoạt động các thực thể mà nhiệm vụ chính là để tạo thành thể của chân ngã nhờ vật chất sống động của chính chúng trên cõi trí và như thế, qua tính chất và bản thể riêng của chúng, phú cho từng người trên cõi trần có khả năng tự-nhận-thức (self-consciousness), nhờ thế tạo ra Con Người. Chính công việc của họ cũng là kích hoạt các vi tử thường tồn hạ trí của mọi người và phối kết, nhờ vào lực mà các thực thể này biểu hiện, và kích hoạt các thể của phàm ngã tam phân, sao cho các thực thể đó có thể vào đúng lúc, biểu hiện một cách sáng suốt ý chí và mục tiêu của Chủ Thể Suy Tưởng bên trong. Nhờ xúc tiến chức năng này trong trường hợp của gia đình nhân loại, một vài tình trạng hành tinh và thái dương hệ được cải thiện.
Thể trọng trược và thể dĩ thái của Thượng Đế và của các Hành Tinh Thượng Đế được hòa nhập và một hiện thể biểu lộ chặt chẽ được cung cấp cho các Thực Thể Thông Linh vũ trụ này.
Trong khi tạo ra ý thức-tự ngã trong gia đình nhân loại, sự chiếm giữ hữu thức đầy đủ của Thượng Đế có liên quan được hoàn thành. Đó là lúc tựu thành kết quả và (theo quan điểm huyền bí) đánh dấu việc đạt đến Thất Bộ hoàn hảo. Ba giới giáng hạ tiến hóa hay là giới tinh hoa chất và ba giới dưới
718 nhân loại tìm thấy nguyên khí thứ bảy của chúng trong giới thứ tư trong thiên nhiên, 3 + 4 = 7. Khi sự sống của Thượng Đế luân lưu qua bảy giới này, khi ý thức – tự ngã đầy đủ được đạt đến theo một quan điểm tương đối nào đó, và Con đang ở trên đường thành đạt. Sự hoàn thiện tương đối này lúc bấy giờ được xúc tiến sang các giai đoạn khác, nhưng chúng là các giai đoạn mà ngã thức riêng rẽ của các Chủ Thể có liên hệ (dù là con người hoặc hành tinh) sau rốt phải tự hòa nhập trong tâm thức đại đồng.
Một vài trung tâm lực trong các thể của Thượng Đế và hành tinh cũng được kích thích và các Rays (nếu có thể được diễn tả như thế) trở nên phóng xạ. Chính bức xạ này sau rốt sẽ mang lại hoạt động hữu thức tập thể, nó sẽ dẫn đến sự tương tác giữa các hành tinh, và dưới Định Luật Hút và Đẩy, sau rốt nó sẽ mang lại sự tổng hợp.
Trên các phân cảnh ngoài thái dương hệ hoặc vũ trụ, tiến trình biệt ngã tạo ra một hoạt động tương ứng trong chân ngã thể của Thượng Đế, và như vậy rung động tăng lên trong trung tâm lực đó trong cơ thể của Vũ Trụ Thượng Đế (One About Whom Nought May Be Said) mà Thái Dương Thượng Đế của chúng ta tiêu biểu. Nó cũng tạo ra một phản ứng hay là “nhận thức huyền linh” trong nguyên mẫu của Thất Bộ, hay là trong bảy Thánh Hiền (Rishis) của Đại Hùng Tinh, và phản ứng này trong các vòng tròn vũ trụ sẽ tồn tại cho đến cuối kỳ đại khai nguyên, khi Thượng Đế được phóng thích (dù tạm thời) khỏi cuộc sống hồng trần.
Việc đó cũng mang lại một phóng thích thần lực ra khỏi cõi trí vũ trụ thích hợp với chu kỳ. Trong vòng tuần hoàn 4 này, sức mạnh tối đa của chu kỳ này được cảm nhận trong căn chủng thứ ba. Trong vòng tuần hoàn tới, trong căn chủng thứ tư, và trong một thời kỳ rất ngắn, một chu kỳ mới sẽ đạt tới đỉnh cao của nó, và sẽ lại mở ra cánh cửa biệt ngã hóa để giúp một số Ego rất tiến hóa đi vào, các Egos này đang tìm 719 cách lâm phàm để tiến hành một mẫu công việc đặc biệt. Vòng tuần hoàn này sẽ không cung cấp các thể thích hợp với nhu cầu của chúng. Vòng tuần hoàn tới có thể làm điều đó nếu các kế hoạch tiến hành như dự liệu trước. Trong trường hợp này các Manasadevas có liên hệ sẽ không biệt ngã hóa người thú như trong Vòng tuần hoàn trước, mà sẽ kích hoạt mầm trí tuệ trong các thành viên của gia đình nhân loại hiện
tại, họ - như H.P.B. nói – dù theo bề ngoài là con người, nhưng không có tia lửa trí tuệ ( ). Trong 700 năm tới, các chủng tộc thổ dân thấp kém này sẽ thực sự tàn tạ và sẽ không – trong vòng tuần hoàn này – luân hồi nữa. Họ sẽ bị loại bỏ. Trong vòng tuần hoàn tới, cơ hội sẽ lại xảy đến, và các Manasadevas sẽ lại tiếp tục công việc của họ là hình thành hạt nhân biệt ngã hóa cho việc phát triển ý thức-tự ngã (ngãthức). Dĩ nhiên, các Egos đang chờ cơ hội sẽ không nhập vào cho đến khi kiểu mẫu con người của kỷ nguyên đó được thanh lọc đủ cho mục đích của họ. Họ có liên quan với việc khai mở cánh hoa thứ sáu của Hoa Sen chân ngã của Thượng Đế và có một bản chất đến độ chúng ta hầu như không nhận được họ. Họ đang ở trên con đường của các Hoạt Động Phật, nhưng các Egos được đặt tên ở trên không bị hạn chế đối với mahamanvantara này, trong khi đó các Egos đặc biệt này tuy vậy có một cái gì đó cần thể hiện. Họ chỉ có thể “tiến vào” ở giữa vòng tuần hoàn thứ năm, và là một nhóm điểm đạo đồ, nhóm này chận lại sự tiến hóa riêng của họ (nói về mặt chuyên môn) để bắt đầu một mẫu công việc đặc biệt trên hành tinh Vulcan; do đó, họ phải quay lại tiếp tục và hoàn tất những gì đã bị bỏ lại chưa làm xong. Do bởi các kết quả của kinh nghiệm của họ trên Vulcan, hiện thể hồng trần bắt buộc có một cơ cấu như thế nào để cho họ vào lúc này và trong vòng tuần hoàn này, không thể hóa nhập mà không có tai họa.
Hiện tượng biệt ngã hóa trong cuộc tuần hoàn tới sẽ bắt đầu để lộ các dấu hiệu của phương pháp thứ ba – phương
720
pháp của thái dương hệ tới. Phương pháp này đã được mô tả như là phương pháp “trừu xuất huyền linh”. Chính nó có liên quan với việc triệt thoái ra khỏi kiểu mẫu thấp nhất của con người hiện có lúc đó (qua việc hiểu biết về cấu tạo dĩ thái của cơ thể) của sinh lực tiềm tàng trong đó, và tạm thời chuyển đổi Lửa tiềm tàng đó đưa đến việc gia tăng hoạt động của mầm mống hay tia lửa trí tuệ, điều này sẽ được thực hiện bằng một tác động mãnh liệt của ý chí. Điều này dường như không thể xảy ra và hầu như là cách diễn đạt vô nghĩa khi được xem xét liên quan tới tâm thức và tính chất tâm linh, nhưng hãy để đạo sinh nghiên cứu hiện tượng theo các thuật ngữ chỉ cõi hồng trần vũ trụ, và theo quan điểm của các cõi phụ chất hơi và dĩ thái, rồi y sẽ thấy rằng trong tất cả các lửa thất phân này, bao giờ lửa của vật chất cũng hiện thực, và các tính chất đa dạng thất phân này của hiện tượng điện có thể bao giờ cũng tác động lẫn nhau.
Như vậy trong mahamanvantara, ba phương pháp biệt ngã hóa liên quan với hệ thống hành tinh chúng ta được nhìn thấy :
a. Trong dãy Nguyệt Cầu, sự tiến hóa dần dần của ý thức – tự ngã (ngã thức, self-consciousness) theo luật thiên nhiên.
b. Trong dãy Địa Cầu, sự tiến hóa của ngã thức đạt được nhờ sự trợ giúp của các tác lực từ bên ngoài. Đó là phương pháp riêng biệt của thái dương hệ này.
c. Trong cuộc tuần hoàn và dãy hành tinh sau, phương pháp sẽ là triệt thoái nhờ mãnh lực ý chí, nhưng đây là một cách phôi thai.
Tôi đã bàn đến ba cách này theo quan điểm của hệ thống riêng của chúng ta. Trong mọi hệ thống hành tinh có con người trên đó, ở giai đoạn này hoặc giai đoạn khác, ba phương pháp này sẽ được tiếp xúc. Chúng đánh dấu sự kiểm soát từ từ của Thượng Đế trên các phân cảnh vũ trụ thuộc bản chất tam phân thấp của Ngài. Trong phân cảnh thứ nhất, sự tương ứng nằm trong tâm thức tiềm tàng của vật chất, và diễn ra theo Luật Tiết Kiệm. Nó liên hệ trước tiên đến Ngã-
Thức của Thượng Đế trong thể hồng trần trọng trược của
721 Ngài và sự an trụ của Ngài nơi đó. Điều đó cũng giống với Hành Tinh Thượng Đế và một phần của cái bí ẩn của tà lực nằm trong sự sẵn sàng của một vài trong số các Thực Thể Thông Linh vũ trụ này (đặc biệt Hành Tinh Thượng Đế chúng ta trong dãy nguyệt cầu) vẫn an trụ trong thể dĩ thái hồng trần, sau khi theo dự đoán đã chế ngự trạng thái vật chất, hay là đạt được việc kiềm chế Lửa thứ ba trong thái dương hệ trước. Một ẩn ngữ nằm ở đây dành cho đạo sinh khôn ngoan liên quan đến tà lực hiện tại trên hành tinh này.
Sự tương ứng thứ nhì liên quan đến “ý thức dục vọng” tiềm tàng và diễn ra theo Định Luật Hút; đó là định luật cho thái dương hệ này, và liên quan với khả năng của Thượng Đế “thương yêu một cách minh triết” theo ý nghĩa huyền linh của thuật ngữ. Nó có liên quan với sự an trụ của Thượng Đế vào thể cảm dục của Ngài và tạo ra hiện tượng gọi là “hoạt động tính dục” trên mọi cõi trong thái dương hệ. Trong thái dương hệ trước, sự giải thoát được thực hiện qua khả năng phân biện, dù là thuật ngữ đó theo cách dùng ngày nay chỉ là một chỉ dẫn yếu ớt của tiến trình thái dương hệ vào thời đó. Qua mãnh lực được sinh ra trong tiến trình mà rung động được thiết lập vẫn còn đến ngày nay trong vật chất. Nó được biểu lộ bằng sự thông tuệ linh hoạt và năng lực phân biện chọn lọc của nguyên tử vật chất. Trong thái dương hệ này, sự giải thoát sẽ được mang lại qua đường lối thản nhiên/vô dục (dispassion) huyền linh; điều này cũng sẽ để lại dấu vết của nó trên vật chất, nhuốm màu vật chất đó sao cho trong thái dương hệ thứ ba, chất liệu nguyên thủy sẽ biểu lộ một tính chất thứ hai. Trong thái dương hệ kế tiếp “sự không mê đắm qua sự trừu xuất” thì hầu như là chúng ta có thể nhận được phương pháp của tiến trình giải thoát, nhưng thật là vô ích cho con người khi suy đoán về điều này khi trí óc con người không thể nhận thức được tình trạng đó.
(d) Các Avatars, bản chất và công việc các Ngài. Trong thảo luận trên, chúng ta đã liên kết hiện tượng biệt ngã hóa với sự thích dụng của Thượng Đế hoặc của một Hành Tinh
722 Thượng Đế, đối với các hiện thể vật chất trọng trược của các Ngài, và sự hiện tồn hữu ngã thức qua phương tiện xác thân. Một vấn đề rất khó hiểu và bí ẩn có thể được nói đến ở đây – vấn đề các Avatars (Hóa Thân), và mặc dù chúng tôi không thể trình bày tỉ mỉ vấn đề đó một cách đầy đủ, vì đó là một trong các bí ẩn huyền bí nhất và bí mật nhất, có lẽ một ít ánh sáng có thể được đưa ra về vấn đề thâm sâu này.
Với mục đích rõ rệt và để minh giải một vấn đề cực kỳ khó hiểu nhất là đối với trí óc Tây phương (do sự kiện là họ chưa hiểu được lý do căn bản của diễn trình luân hồi), thật là khôn ngoan khi chia các mẫu hóa thân khác nhau thành năm nhóm, nhớ rằng mỗi avatar thuộc về một Cung, xuất phát từ một cội nguồn tâm linh thuần túy, và rằng một thực thể hữu ngã thức chỉ đạt được quyền có hình thức hoạt động đặc biệt này qua một loạt các kiếp sống thành đạt trước kia.
1. Các Avatars vũ trụ.
2. Các Avatars thái dương hệ.
3. Các Avatars liên-hành-tinh.
4. Các Avatars thuộc hành tinh.
5. Các Avatars nhân loại.
Như vừa nói, một avatar là một Ray (Cung ? Tia Sáng ? - ND) chứa cái vinh quang (glory) rực rỡ và hoàn hảo, chính nó khoác trong vật chất dành cho mục đích phụng sự. Tất cả các avatars theo ý nghĩa chính xác của từ ngữ, đều là các linh hồn đã giải thoát, nhưng các avatars cấp vũ trụ và thái dương hệ được giải thoát khỏi hai cõi thấp của các cõi vũ trụ. Trong khi các avatars cấp hành tinh và liên hành tinh được giải thoát khỏi cõi hồng trần vũ trụ, tức các cõi của thái dương hệ chúng ta, avatar cấp nhân loại đạt được tự do khỏi năm cõi nỗ lực của nhân loại. Theo một ý nghĩa thấp và thuần túy kỹ thuật, một Đức Thầy đang lâm phàm ở cõi trần là một kiểu mẫu, vì Ngài là một “linh hồn đã giải thoát” và do đó chỉ chọn lâm phàm vì mục đích đặc biệt, nhưng chúng ta sẽ
723 không bàn đến các Ngài. Chúng ta hãy chia nhỏ các nhóm này để minh giải thêm các ý tưởng của chúng ta :
1. Các Avatars cấp vũ trụ: Các Ngài tiêu biểu cho thần lực được thể hiện từ các trung tâm vũ trụ sau đây trong số các trung tâm khác :
a) Sirius (Sao Thiên Lang)
b) Về một trong số bảy ngôi sao của Đại Hùng Tinh vốn được mang lại sinh khí (ensouled) bởi nguyên hình mẫu của Đấng Chủ Quản (Lord) thuộc Cung chính thứ ba của chúng ta.
c. Trung tâm vũ trụ của chúng ta.
Các Ngài tiêu biểu cho các Thực Thể Thông Linh thật xa với nhận thức của Con Người, giống như con người xa với nhận thức của nguyên tử vật chất vậy. Hàng ngàn các đại chu kỳ mà chúng ta gọi là “một trăm năm của Brahma” đã trôi qua từ khi các Ngài đã đạt được giai đoạn làm người, và các Ngài biểu hiện cho thần lực và tâm thức vốn có liên hệ với sự phối kết sáng suốt của các Bầu Trời đầy sao.
Các Ngài đã đạt đến mọi điều mà con người có thể hình dung được như là sự siêu việt của ý chí, của bác ái và của thông tuệ, đồng thời trong sự tổng hợp của ba phẩm đức này, nên thêm vào các tính chất và rung động mà chúng ta không có đủ lời lẽ diễn tả, và cũng không thể được hình dung ngay cả bởi các adepts cao nhất của chúng ta. Sự xuất hiện của các Ngài trong một thái dương hệ thì rất khác thường và chỉ được nhận biết trên hai cõi cao nhất. Tuy nhiên, nhờ bởi bản chất vật chất của thái dương hệ chúng ta, sự giáng lâm của các Ngài, theo nghĩa đen, là sự xuất hiện trong một hình thức vật chất của một Đấng tinh thần, Đấng này có ngã thức đầy đủ.
Các Đấng Cao Cả đó xuất hiện từ Sirius vào dịp điểm đạo của Thái Dương Thượng Đế, và các Ngài có một liên quan đặc biệt với năm vị Kumaras và qua các Ngài (dùng các Ngài dưới hình thức các tụ điểm cho thần lực) cùng với bộ môn của Đức Mahachohan trong mọi Thánh Đoàn huyền môn của thái dương hệ. Chỉ có một lần, một Đấng Cao Cả như thế viếng thăm thái dương hệ chúng ta, liên quan đến sự xuất hiện trong thời gian và không gian của năm Đấng Con trísinh của Brahma. Ảnh hưởng của cuộc viếng thăm đó giống như ảnh hưởng của Đấng Avatar từ Sirius được nhìn thấy
724 như là tổng số chung của văn minh và văn hóa, xét các sự việc này theo quan điểm của toàn bộ thái dương hệ và trong một ánh chớp của thời gian.
Một avatar từ trung tâm vũ trụ sẽ xuất hiện dưới hình thức pralaya đang tới gần và sẽ tạo ra trong cơ thể của Thượng Đế cái mà chúng ta gọi là “Tử Vong”. Ngài là Thần Chết vũ trụ (cosmic Reaper), và (đưa thuật ngữ trên thành những thuật ngữ có bản chất dễ hiểu hơn) Ngài thuộc về một nhóm vốn tiêu biểu cho năng lượng được tách ra của vũ trụ, ở đó chúng ta tìm thấy các tương ứng lờ mờ trong công việc của khía cạnh “hủy diệt” của Thượng Đế, và trong các thần lực vốn tạo ra cái chết về mặt vật chất, và sự tan rã của thể xác của con người. Về căn bản, không thể nói nhiều hơn về các vấn đề huyền bí này, và giá trị của những gì được nói, phần lớn nằm trong việc đem lại cho trí óc của nhà nghiên cứu cái thực tại về mối liên hệ vũ trụ của chúng ta.
2. Solar Avatars: Các Avatars này thuộc ba kiểu mẫu, dù thực ra có nhiều hơn nữa. Các Ngài cũng là các thiên-khách ngoài thái dương hệ và phần lớn có liên hệ với một vài tiến trình trong thái dương hệ, trong khi các vị khác có liên hệ trong việc quản trị định luật nhân quả, hay karma. Các Ngài tiêu biểu cho (embody, là hiện thân của) karma của các thiên kiếp (kalpas) đã qua đối với Thượng Đế của chúng ta, và đưa ra xung lực mở đầu cho các tiến trình để hiệu chỉnh, để chuộc lỗi (expiation, đền bù) và để nhận thức khi xung lực đó liên quan tới thái dương hệ hiện tại nói chung. Một Đấng như thế, tức “Karmic Avatar” đã xuất hiện dựa vào rung động của Thượng Đế Ngôi Hai, lướt qua Linh Khí thứ hai; Ngài đã ở lại cho đến nay: Ngài sẽ vẫn ở lại với chúng ta cho đến khi tất cả các hệ thống hành tinh tiến vào cuộc tuần hoàn thứ năm của chúng, và tiến gần đến “Ngày Phán Xét” của chúng. Vào lúc đó, Ngài có thể triệt thoái, để mặc cho các vị Hành Tinh Thượng Đế có liên hệ làm tròn mục tiêu nghiệp quả không còn được trông giữ. Lúc bấy giờ xung lực rung động sẽ trở nên mạnh và sự nhận thức về nguyên khí bồ đề trở nên sống động một cách hữu thức đến nỗi không gì lúc đó có thể ngăn chận các sự việc tiến tới. Hoạt động dưới quyền Ngài có một số thực thể vũ trụ, các vị này, như có nói trong GLBN (đây là
725 các Lipika Lords. Xem GLBN I, 157), có đặc quyền để “vượt qua vòng-hạn-định); tuy thế các vị này không phải là các avatars vì chính các Ngài đang tiến hóa nhờ sự cai quản của karma. Đó là công việc của các Ngài và là cơ hội tiến hóa. Một avatar có thể không học hỏi gì từ vị trí xuất hiện của Ngài. Công việc của Ngài là đưa sức mạnh thuộc một loại điện năng nào đó vào vật chất ở một trong nhiều cấp độ của nó và như vậy tạo ra các kết quả đoán trước được.
Một kiểu mẫu solar avatar khác, Ngài có thể được thấy xuất hiện trong các hệ thống hành tinh, có liên quan với bí huyệt tim của một Hành Tinh Thượng Đế, và xuất hiện trên các cõi cao (không bao giờ ở trên cõi thấp) khi hoạt động của tim được cảm nhận, và khi diễn trình đem năng lượng được thấy tạo ra ba điều :
a. Mở rộng tâm thức.
b. Tăng gia ánh sáng tâm linh và độ chói lọi tâm linh.
c. Sự phóng xạ hành tinh.
Chính hiện tượng thuộc hành tinh này vốn tạo ra (xét về giới thứ tư trong thiên nhiên) việc mở rộng cửa điểm đạo cho con người. Các avatars đó không đến khi giao tiếp với bất cứ Hierarchy đặc biệt nào, mà chỉ liên quan với toàn thể thái dương hệ. Các Ngài tạo ra sự pha trộn các sắc thái và sự tổng hợp của các đơn vị trong các nhóm của chúng.
Vào lúc điểm đạo của một Hành Tinh Thượng Đế, một avatar có thể xuất hiện trong hành tinh hệ của Hành Tinh Thượng Đế đó trên bầu thứ bảy từ trung tâm vũ trụ đó hay là ngôi sao vốn được cấp sinh khí bởi vị Rishis đặc biệt (trong chòm sao Đại Hùng), vị Rishis này là nguyên mẫu vũ trụ của Ngài. Đối với Thực Thể Thông Linh có liên hệ, đây là việc nắm bắt lấy hình hài vật chất, vì các cõi cao siêu của chúng ta chỉ là vật chất (matter) theo quan điểm của các Ngài. Điều này vẫn thường được nhấn mạnh, vì ý nghĩa của nó chưa được hiểu một cách đầy đủ. Nhờ vào sự xuất hiện của Đấng 726 Avatar này trên bầu thứ bảy, Đức Hành Tinh Thượng Đế có thể duy trì được sự liên tục của vũ trụ thức cho dù khi đang nhập thể vào vật chất (in physical incarnation); Đấng Solar Avatar này hoàn thành cùng chức năng đối với Hành Tinh Thượng Đế y như vị Guru đang làm cho đệ tử của Ngài. Ngài tạo ra vài biến cố có thể xảy ra nhờ vào việc kích thích và che chở của hào quang của Ngài, và Ngài hành động với cương vị một trạm phát điện năng từ trung tâm lực vũ trụ. Chúng ta phải cẩn thận để giữ sự tương đồng này một cách rất sơ sài vì công việc thực sự được hoàn thành không thể hiểu được bởi con người. Đương nhiên vị Avatar này có một tác động trực tiếp lên các trung tâm lực của Đức Hành Tinh Thượng Đế và do đó lên các đơn vị hay là các Chân Thần con người, nhưng chỉ một cách gián tiếp và trên Chân Thần ở trên cõi riêng của nó. Tác động này tiếp xúc với sự đáp ứng nhỏ bé từ Monad cho đến sau cuộc điểm đạo thứ ba khi sự sống hữu thức của nó trở nên mạnh đến nỗi nó lại giữ chặt biểu lộ chân ngã của nó theo một hướng, và khơi hoạt nhận thức hành tinh theo một hướng khác. Kiểu mẫu avatar này chỉ xuất hiện vào lúc điểm đạo của một Hành Tinh Thượng Đế. Số các cuộc điểm đạo mà Hành Tinh Thượng Đế nhận được trong thái dương hệ này thay đổi từ hai đến bốn.
3. Các Đấng Avatars Liên hành tinh. Một nhóm Avatars rất lý thú được thấy ở đây. Phần lớn các Ngài liên quan với ba sự việc : thứ nhất liên quan với sự giám sát sự chuyển di các đơn vị thần lực hay là các nhóm chân ngã từ một hành tinh hệ này sang hành tinh hệ khác (không phải với các đơn vị cá nhân từ dãy này đến dãy hành tinh khác). Thông thường các Ngài xuất hiện hai lần trong lịch sử của một hành tinh hệ và dù không thể khoác vào các thể xác có chất liệu thô hơn là các thể được tạo thành với chất atma và chất bồ đề, các Ngài hoạt động với xung lực trong chất trí và như thế thực hiện các chuyển di tập thể này. Chính các Ngài được chia nhỏ thành ba nhóm :
a. Các Đấng tác động đến sự chuyển di từ các hành tinh hệ thứ yếu hoặc các biểu lộ của Cung lên trên Cung 3; chính
Các Ngài bận rộn với kết quả của sự phối hợp các đối cực
727 trong bốn hành tinh hệ nhỏ cho đến khi chỉ có một còn lại; và kế đó lo về việc chuyển dịch sự sống và tính chất của hành tinh hệ còn lại này lên trên Cung 3.
b. Các Đấng có liên quan với sự chuyển di và tương tác
của các sinh lực giữa ba Cung chính yếu.
c. Các Đấng tạo ra sự chuyển di thái dương hệ vào cuối
kỷ nguyên.
Thứ hai, một vài avatars từ Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư (tức Huyền Giai của các Monads con người, xem trang 1099 – ND), vì các lý do huyền bí và không thể giải thích được đối với chúng ta, để lại Huyền Giai của chính các Ngài, và xuất hiện trong Huyền Giai này hoặc Huyền Giai khác của các Huyền Giai thiên thần. Điều này xảy ra chỉ một lần trong lịch sử của mỗi hành tinh hệ và xảy ra vào lúc có sự xuất hiện vật chất trọng trược nhất, và có liên quan tới sự chuyển di xung lực deva từ một hành tinh hệ này đến một hành tinh hệ khác. Các Ngài có liên hệ bằng cách này với sự xuất hiện của các đơn vị hữu ngã thức, nguyên là hiện thân căn bản của ngã thức tiềm tàng của nguyên tử của thần chất. Các Ngài tạo ra kiểu mẫu cho các devas thuộc bất cứ hành tinh hệ đặc biệt nào.
Đã có lần trong lịch sử của mỗi hành tinh hệ, một avatar từ chòm sao Capricorn (Nam Dương) xuất hiện trên các phân cảnh trí tuệ. Phân cảnh này là phân cảnh thấp nhất mà các vị thần (deities) liên hành tinh này xuất hiện. Không còn gì có thể được truyền đạt về vấn đề này nữa. “Cái bí ẩn của con dê” ẩn giấu nơi đây. Đấng Avatar này xuất hiện trong cuộc tuần hoàn ba của dãy thứ ba, và biến mất trong cuộc tuần hoàn năm của dãy thứ tư.
Các avatars liên hành tinh này xuất hiện, dưới hình thức các sản phẩm của nhiều kalpas trước đây khi các điều kiện của thái dương hệ được đủ tinh anh giúp cho các Ngài xuất hiện. Các Ngài là các Nirmanakayas (Ứng Thân) của một chu kỳ thái dương trước đây, hiện nay các Ngài lại chọn cơ hội để thực hiện (theo một ý nghĩa linh hoạt và qua biểu lộ hồng trần) một số công việc chưa hoàn tất.
4. Các Avatars cấp hành tinh. Các vị này phát xuất từ Hành
728 Tinh Thượng Đế trung ương của một hành tinh hệ và biểu hiện cho ý chí và mục tiêu của Ngài. Các vị này thuộc hai loại khác nhau. Kiểu mẫu thứ nhất là một biểu lộ trên các phân cảnh dĩ thái hồng trần của chính Hành Tinh Thượng Đế trong một thời gian đặc biệt. Điều đó liên quan đến việc khoác lấy một xác thân rõ rệt bởi một trong các vị Kumaras. Một avatar như thế sẽ được nhìn thấy nơi Sanat Kumara, Ngài, cùng với ba Đức Kumaras khác, biểu hiện cho các nguyên khí thuộc tứ thể của hành tinh. Theo một ý nghĩa rất hiện thực, Sanat Kumara là hiện thân (incarnation) của chính Đấng Chủ Quản Cung; Ngài là Đức Tịnh Quán (Silent Watcher), Đấng Đại Hy Sinh (great Sacrifice) cho nhân loại (GLBN I, 494; II, 112, 149).
Như ghi nhận trong đoạn trên, có ba Thực Thể Thông
Linh thứ yếu biểu hiện cho các nguyên khí hành tinh. Các Ngài là (nói theo quan điểm hiện tại) năng lượng năng động giúp giữ chung lại ba giới thấp, khi nhìn các giới này như các đơn vị chớ không như các biến phân (differentiations). Các Ngài có liên kết mật thiết với trạng thái năng lượng của ba dãy hành tinh trước, và điều đó chỉ cần cho công việc của một avatar liên hành tinh (lúc thành lập tam giác mang đến kết quả là giai đoạn biệt ngã hóa vào thời Lemurian) giúp cho các Ngài khoác lấy các thể dĩ thái và lâm phàm trong con người.
Các Ngài đóng vai trò các tiêu điểm cho năng lượng của
Hành Tinh Thượng Đế trên cõi riêng của Đấng này. Đệ nhất Kumara, theo một ý nghĩa huyền bí, là năng lượng tạo ra ngã thức trong gia đình nhân loại. Ba vị Kumaras kia, hay là ba Hoạt Động Phật, đóng vai trò các tiêu điểm tương tự cho năng lượng làm sinh động ba giới thấp, và tạo ra các cấp độ tâm thức khác nhau của chúng. Không thể diễn tả bí ẩn lớn này rõ ràng hơn được, nhưng nếu đạo sinh kết hợp một vài ẩn ngữ này với các ẩn ngữ được đưa ra trước đây trong GLBN, cái bí ẩn về “Tứ Linh Diệu” (“Holy Four”) có thể phần nào trở nên sáng tỏ theo quan điểm về năng lượng và tiến hóa.
Thời gian và cơ hội (seasons) cho sự xuất hiện của các
729 Ngài thay đổi tùy theo karma đặc biệt của Đấng Chủ Quản Cung, chớ không có gì liên quan với các chu kỳ lớn lao này, còn các thời kỳ lâm phàm, có thể được tiết lộ cho người không thệ nguyện giữ bí mật và kẻ thế tục.
5. Các Avatars của nhân loại. H.P.B. có nói đầy đủ về các vị này, và không có gì để thêm vào chi tiết của bà, vì thời cơ chưa tới (GLBN III, Đoạn 41; III 345). Mọi điều nêu trên đều có vị trí của nó ở đây, vì nó liên quan đến bí ẩn của lực và tâm thức, và biểu lộ đầy đủ nhất của một Hành Tinh Thượng Đế và của một Thái Dương Thượng Đế trong một thể Vật Chất trọng trược bị ẩn giấu trong ngoại-diện của các avatars khác nhau này và trong hiệu quả của các vị ấy.
e. Biệt ngã hóa, một hình thức Điểm Đạo. Chỉ có ít điều cần thêm vào những gì có thể được nói vào lúc này liên quan đến biệt ngã hóa. Những gì được nói ở đây và trong GLBN chỉ là một cách để cố diễn tả các sự kiện sâu xa và có ý nghĩa, liên quan đến sự sống và biểu lộ, bằng các thuật ngữ chỉ tư tưởng con người và qua phương tiện có giới hạn của ngôn ngữ. Theo quan điểm huyền bí nhất thì “Con người là một thiên thần”; y là Spirit (Ma quỉ; Tinh Thần; Thần Tiên…) và thần chất, được hợp nhất qua công việc của năng lượng thiên thần hữu thức. Y hợp nhất trong chính y ba trạng thái của Thượng Đế. Trong khi đó, ở ngoại cảnh (in objectivity) y là :
1. Bản Ngã (Self), Phi Ngã, và khoen nối sáng suốt trong một ý nghĩa rất trọng yếu.
2. Con người là Shiva, Vishnu và Brahma, trong biểu lộ tổng hợp.
3. Con người là phương tiện nhờ đó Thiên Ý, Tình Thương của Thượng Đế, và Thiên Trí trở nên có thể hiểu được và hiển lộ.
4. Con người là điện lực dương, cộng với điện lực âm, cộng thêm phương tiện tạo thăng bằng.
5. Con người là Ngọn Lửa, Lửa và Tia Lửa trong biểu lộ thiết yếu.
6. Con người là lửa điện, lửa thái dương và lửa do ma sát.
730 Nhưng điểm cần nhấn mạnh ở đây, là con người đó, trong không gian, thời gian và trong ba cõi thấp, không biểu lộ các trạng thái này cùng một lúc, mà chỉ cùng lúc hướng về cuối diễn trình tiến hóa. Giống như trong Đại Thiên Địa, Brahma biểu lộ hoạt động trước nhất, kế đó trạng thái thứ nhì hay trạng thái giữa và cuối cùng trạng thái thứ nhất hay ý chí có chủ tâm tự hiển lộ, với tiểu thiên địa cũng thế.
Trạng thái Brahma, tức trạng thái mà trong đó Phi-Ngã hay trạng thái vật chất hiển lộ và vượt trội. Trạng thái này bao hàm các giai đoạn dưới nhân loại và ba chu kỳ đầu của Sự Sống Phàm Ngã :
a. Chu trình thứ nhất ............ tình trạng bán khai.
b. Chu trình thứ hai ............. người trung bình.
c. Chu trình thứ ba ............... người có trí tuệ thành đạt.
Trạng thái Vishnu, tức trạng thái mà trong đó khía cạnh bác ái – minh triết dần dà thống ngự và hiện rõ qua phương tiện của trạng thái Brahma. Nó bao hàm hai giai đoạn cuối của sự sống phàm ngã con người, và thời kỳ đó với sự phát triển chân ngã vốn bao gồm hai Cuộc Điểm Đạo cuối : a. Chu trình thứ nhất ...... Con Đường Dự Bị.
b. Chu trình thứ hai ........ Con Đường Điểm Đạo (đến Điểm Đạo 3)
c. Chu trình thứ ba .......... Bao hàm cuộc Điểm Đạo 4 và 5.
Đây là sự hoàn thiện tạm thời, nhưng cũng như trong giới động vật, trí người vẫn tiềm tàng và có tính chất bản năng, và cũng như trong giới nhân loại, trạng thái bồ đề còn tiềm tàng và có tính chất bản năng, vì thế trong chu trình cuối của nỗ lực con người, Atma, tức trạng thái cao nhất của Monad, cũng tiềm tàng và có tính chất bản năng. Điều này phải tạo ra các giai đoạn phát triển sau. Không có lỗ hổng nào trong cơ tiến hóa, và không có giai đoạn nào mà trong đó có sự vắng mặt toàn bộ của bất cứ một trạng thái nào; tất cả đều luôn
731 luôn hiện hữu nhưng chúng “lộ ra” luân phiên. Chỉ khi các lửa của vật chất cháy rực, và trở nên phát xạ, nó mới trở nên thích hợp cho lửa trí tuệ biểu lộ cho dù lúc nào cũng hiện hữu. Chỉ khi hai lửa vật chất và lửa trí tuệ này đạt đến giai đoạn nhiệt và ánh sáng đầy sinh lực, lúc đó lửa điện của Tinh Thần mới tỏa chiếu với vẻ huy hoàng của nó. Lại nữa, chỉ khi ba lửa này cùng nhau bừng cháy thì Lửa vật chất mới tắt dần vì thiếu những gì mà nó có thể thiêu đốt, và chỉ khi điều đó xảy ra, thì lửa trí tuệ (ở trên các phân cảnh trí tuệ) mới có thể thiêu đốt những gì mà từ trước đến giờ nó đã làm sinh động. Khi điều này được hoàn tất, lửa tinh thần thuần túy (ngày càng tăng và mạnh thêm bởi bản chất hơi của lửa vật chất, hoặc “lửa do cọ xát”, và bị nhuốm màu và làm cho phát xạ bởi lửa trí tuệ) bùng cháy với độ sáng rực hoàn hảo, sao cho không thể thấy gì nữa trừ ngọn lửa rung động duy nhất. Ý tưởng này có thể được mở rộng ra xa khỏi Con Người đến một Hành Tinh Thượng Đế, và lại đến Thái Dương Thượng Đế trong mối liên quan vũ trụ của Ngài.
Biệt ngã hóa (thoát kiếp thú) đánh dấu một giai đoạn của tiến trình trong việc làm tăng thêm “lửa do ma-sát”. Hiện tượng đó có liên quan đến việc thành đạt của Brahma, và đánh dấu một mức độ trong việc cấp năng lượng của vật chất. Một số hình hài đang sẵn sàng cho ý thức tự ngã. Hai Cung vũ trụ có các phân cực (polarities) khác nhau đang thu hút lẫn nhau.
Điểm Đạo đánh dấu một giai đoạn trong việc làm tăng thêm “Lửa thái dương”. Nó có liên hệ với việc thành tựu của Vishnu, và đánh dấu một trình độ trong sự tiến hóa tâm thức, qua ý thức tự ngã (ngã thức) đến ý thức tập thể, hay là tâm thức đại đồng (universal consciousness).
Huyền đồng (Identification, đồng nhất hóa huyền diệu) với toàn thể tất cả các nhóm có thể là thuật ngữ thường được dùng để diễn tả các giai đoạn cuối cùng của diễn trình tiến hóa, nó đánh dấu một giai đoạn hướng về việc kết thúc mahamanvantara khi mọi nhóm bắt đầu thể hiện một cách quyết tâm Ý Chí vĩnh hằng. Nó cần đến một loại nhận thức,
732 không thể tưởng tượng được đối với con người ngày nay, nhưng có thể hiểu được (dù chưa thực hiện được) đối với các Chohans của Thánh Đoàn hiện nay trên địa cầu. Các Ngài quyết tâm tiến hành Ý Chí của Hành Tinh Thượng Đế trên hành tinh này, nhưng ngay cho đến nay các Ngài không cách nào thẩm định đầy đủ Ý Chí và mục tiêu của Thượng Đế khi Thượng Đế hoạt động qua thái dương hệ. Các Ngài có thể có được các thoáng nhìn và một ý tưởng về kế hoạch chung, nhưng các chi tiết thì đến nay không thể nhận ra.
c. Về sự nhập thể (incarnation, hóa nhập, hiện thân)
(a) Thuộc vũ trụ, Hành tinh và Con người. Bây giờ, chúng ta dành việc xem xét về ngã thức, khi nó được tạo ra qua trung gian của kiểu mẫu thần chất đặc biệt mà các Agnishvattas cung cấp cho thể của Ego, và chuyển sang nghiên cứu về sự nhập thể, thuộc về vũ trụ, hành tinh và con người. Một gợi ý về cấu tạo của các Solar Pitris này và các Manasadevas có thể đến với đạo sinh, kẻ đang xem xét về vị trí của từng Chân Ngã trong cơ thể của Hành Tinh Thượng Đế và trong trung tâm đặc biệt mà nó tạo thành một thành phần của trung tâm đó. Các Manasadevas và Dhyans Chohans này tạo ra ngã thức trong con người thực ra là năng lượng và chất liệu của các Heavenly Man vũ trụ.
Thuật ngữ “incarnation”, theo nghĩa gốc của nó, truyền đạt chân lý căn bản liên quan đến việc khoác lấy một thể hồng trần trọng trược, và về chuyên môn nên được áp dụng chỉ cho giai đoạn biểu lộ có liên quan đến ba cõi phụ thấp của:
- Cõi hồng trần vũ trụ liên quan với một Thái Dương Thượng Đế và Hành Tinh Thượng Đế.
- Cõi hồng trần thái dương hệ, liên quan tới con người.
Hàm ý này được duy trì khi các thực thể vũ trụ có liên quan, nhưng khi con người ở dưới sự xem xét, thuật ngữ này được áp dụng cho sự hợp nhất của thể dĩ thái với nhục thân, hoặc với sự chuyên dùng của con người đối với hiện thể cấu
733 tạo bằng vật chất của cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần vũ trụ trong các trạng thái thấp nhất của nó. Sự phân biệt này có một ý nghĩa nào đó và nên được ghi nhớ. Sự chuẩn nhận này được cai quản bởi cùng các định luật vốn cai quản bởi sự chiếm hữu của Thượng Đế đối với hiện thể vật chất của Ngài. Để có được một ý tưởng về những gì mà phương pháp đang diễn ra, có thể là hữu ích nếu chúng ta xem xét các loại pralaya khác nhau, và cân nhắc về các giai đoạn nối tiếp giữa các lần hóa thân. Theo quan điểm của bất cứ cái đơn nhất có liên quan nào, một pralaya là một thời kỳ yên lặng, với việc ngừng một loại hoạt động đặc biệt, bao hàm việc biểu lộ ra ngoại cảnh, tuy nhiên theo quan điểm của một đại tổng thể mà cái đơn nhất (unit) có thể liên quan đến, một pralaya có thể được xem như chỉ là một sự chuyển di thần lực từ một hướng này đến một hướng khác. Dù cho cái đơn nhất có thể tạm thời bị mất sinh khí về phần hình hài của nó, tuy nhiên Thực Thể vĩ đại vẫn tồn tại và vẫn linh hoạt.
Trước tiên chúng ta hãy đưa ra vấn đề theo quan điểm con người, và nghiên cứu pralaya khi nó tác động vào Monad đang lâm phàm.(1) Có năm loại pralaya mà chính chúng ta có thể chính thức liên quan đến. Trước nhất chúng ta nên lưu ý

1 Cơ bản có 3 loại Pralaya. Xem GLBN I, 397 – 398.
1. Solar pralaya (qui nguyên thái dương). Pralaya này xảy đến vào cuối 100 năm của Brahma. Nó đánh dấu sự tái hóa nhập (reabsorption) vào cái duy nhất (unity). Nó đánh dấu việc kết thúc biểu lộ của thái dương hệ. Có liên quan đến Thái Dương Thượng Đế.
2. Incidental pralaya (qui nguyên phụ). Pralaya này nối tiếp các ngày của Brahma. Nó đánh dấu các giai đoạn giữa các manvantaras. Hình hài tạm thời chấm dứt nhưng nhị nguyên tính (duality) vẫn còn. Liên quan đến Hành Tinh Thượng Đế.
3. Individual pralaya (qui nguyên cá nhân). Đạt được bởi con người vào cuộc điểm đạo 5. Đánh dấu việc đạt đến hoàn thiện. Liên quan đến Chân Thần (Monad).
Cũng có pralaya liên quan đến sự tiến hóa con người mà chúng ta gọi là qui nguyên devachan. Nó liên quan đến phàm ngã.
đến sự kiện rằng tình trạng này trước tiên là một tình trạng liên quan giữa Tinh Thần với vật chất, trong đó một tình trạng liên quan tới vật chất xảy ra qua tác động của yếu tố mang năng lượng, tức Tinh Thần. Do đó, nó có liên quan đến sự liên hệ của các devas vĩ đại khi các Ngài tiến hành công
734 việc kiến tạo hình hài của các Ngài dưới Định Luật Ý Chí của Thượng Đế đối với các devas cấp thấp, tức là các tiểu thần tiêu biểu cho vật chất sinh động (living substance). Điều sẽ là hiển nhiên đối với nhà nghiên cứu là nó liên quan tới mối liên hệ của Thánh Thần (Holy Spirit) với Đức Mẹ trong việc tạo ra Con, và kế đó liên hệ của Con với Mẹ. Nếu ý tưởng được trình bày trong bộ luận này được cẩn thận noi theo, điều sẽ hiển nhiên là khi nghiên cứu vấn đề pralaya, chúng ta nghiên cứu mối liên hệ (trong thời gian và không gian) về năng lượng dương của Thái Dương Thượng Đế, Hành Tinh Thượng Đế và của Con Người đối với vật chất chỉ qua đó sự biểu lộ mới xảy ra. Qua liên hệ này, sự sống trên các cõi biểu lộ mới có thể được tạo ra.
(b). Bản chất của Pralaya. Chúng ta có thể xét pralaya như là công việc “trừu xuất” và như là phương pháp vốn đưa hình hài vào dưới trạng thái Hủy Diệt của Tinh Thần, bao giờ cũng xảy ra theo Định Luật Hút mà Định Luật Tổng Hợp chỉ là một nhánh của nó. Định luật căn bản của thái dương hệ là định luật vốn cai quản sự liên hệ của mọi nguyên tử đưa tới toàn thể các nguyên tử, và của Ngã với Phi Ngã. Đó là (theo quan điểm huyền linh) biểu hiện về lực (force-demonstration) mạnh mẽ nhất trong thái dương hệ, và nếu định luật không thể nhận thức được này ngưng tác động, thì lập tức thái dương hệ và mọi hình tướng trong đó, thuộc hành tinh, con người và bao cái khác nữa, sẽ ngưng hiện hữu. Bởi tác động của ý chí, các hành tinh hệ tồn tại; bằng tác động của ý chí, thái dương hệ Hiện Hữu (IS); bằng tác động của ý chí chân ngã, con người xuất hiện. Khi Ý Chí của Thái Dương Thượng Đế, của Hành Tinh Thượng Đế và của Chân Ngã thiêng liêng con người được chuyển qua các mục tiêu khác, vật chất của các hiện thể của Các Ngài bị ảnh hưởng, và sự tan rã bắt đầu. Năm loại pralaya có liên quan đến đơn vị con người như sau:
1. Giai đoạn pralaya giữa hai lần hóa thân (incarnations). Giai đoạn này có bản chất tam phân và ảnh hưởng đến vật chất của ba thể, thể xác, thể cảm dục và hạ trí, đưa hình hài đến vật chất ban sơ, và xua tan cấu trúc nguyên tử của nó. Năng lượng của ngôi hai (năng lượng của ngôi kiến tạo hình hài)
735 được triệt thoái bởi ý chí của Ego, và các nguyên tử tạo thành hình hài trở nên tách ra khỏi nhau và được phân giải vào trong nguồn chứa tinh hoa cần được thu tập lại khi đúng lúc. Tình trạng này được tạo ra dần dần theo các giai đoạn mà chúng ta biết, đó là:
Giai đoạn thứ nhất là sự triệt thoái của sinh lực trong thể dĩ thái ra khỏi nhục thân gồm 3 phần (đặc, lỏng và hơi) và kết quả là “rơi vào hư hoại” và trở nên “bị tản mác thành các yếu tố”. Con người biểu lộ bên ngoài mờ nhạt dần, và không còn được nhìn thấy bằng mắt trần nữa, mặc dầu vẫn còn ở trong thể dĩ thái của y. Khi nhãn thông dĩ thái được phát triển, ý nghĩ về cái chết sẽ chiếm lấy các tỷ lệ rất khác nhau. Khi một người có thể được thấy đang hoạt động trong thể dĩ thái hồng trần của y bởi đa số nhân loại, việc buông bỏ nhục thân sẽ được xem như chỉ là một “sự giải thoát” (“a release”).
Giai đoạn kế tiếp là việc triệt thoái sinh lực ra khỏi thể dĩ thái hay là cuộn dây dĩ thái (coil), và sự kiệt quệ/mất sinh lực của nó (devitalisation). Cuộn dây bằng chất dĩ thái này chỉ là phần kéo dài của một trạng thái của sutratma hay sinh mệnh tuyến (thread), và tuyến này được dệt bởi Ego từ bên trong thể nguyên nhân giống như một con nhện nhả tơ. Nó có thể được thu ngắn hoặc kéo dài tùy ý, và khi giai đoạn pralaya đã được quyết định, tuyến của ánh sáng này, hay của lửa thái dương (chú ý từ ngữ “solar”, thái dương) được triệt thoái và được gom lại vào cõi phụ nguyên tử (cõi phụ cao nhất – ND) nơi mà nó vẫn sẽ cấp sinh khí cho nguyên tử thường tồn và giữ cho nguyên tử này liên kết, với thể nguyên nhân. Các xung lực sự sống lúc bấy giờ - xét về cõi trần – được tập trung vào trong phạm vi nguyên tử.
Giai đoạn thứ ba là sự triệt thoái của sinh lực ra khỏi thể cảm dục, sao cho thể đó tan rã theo một cách tương tự và sự sống được tập trung bên trong nguyên tử thường tồn cảm dục. Nguyên tử này đã nhận được một sự tăng gia sinh lực qua cuộc sống hồng trần, và thêm được sắc thái qua kinh nghiệm cảm dục.
Giai đoạn cuối cùng đối với nguyên tử trong con người là
736 sự triệt thoái của nó ra khỏi thể hạ trí. Các sinh lực sau cuộc triệt thoái bốn giai đoạn này được tập trung hoàn toàn trong phạm vi Chân Ngã; việc tiếp xúc với ba cõi thấp vẫn còn đương nhiên có thể xảy ra nhờ vào các nguyên tử thường tồn, các trung tâm lực của ba trạng thái phàm ngã.
Trong mỗi lần luân hồi các mãnh lực sự sống hoạch đắc được qua việc vận dụng các hiện thể,
a. Một năng lực hoạt động ngày càng tăng, được tích chứa
trong nguyên tử thường tồn hồng trần.
b. Một sắc thái đã gia bội, được chứa trong nguyên tử
thường tồn cảm dục.
c. Một tính chất mạnh mẽ được phát triển, hoặc chủ đích hoạt động, được tích chứa trong nguyên tử thường tồn hạ trí.
Các tính chất này được biến đổi thành năng lực ở devachan. Devachan (1) (2) là một trạng thái tâm thức, phản

1 Devachan. Một trạng thái trung gian giữa hai kiếp sống trần gian mà Chân Ngã tiến vào sau khi tách ra khỏi các trạng thái thấp hay lớp vỏ của nó.
2 Deva-Chan. “(3) ‘Ai vào Deva-Chan ?’ Dĩ nhiên là personal Ego, nhưng được ban ân điển, được thanh luyện, thánh thiện. Mọi Ego – kết hợp của các nguyên khí thứ sáu và thứ bảy – sau thời kỳ ấp ủ hoài bão vô thức, đều được tái sinh vào Deva-Chan, bắt buộc phải trong trắng và thanh khiết như trẻ thơ mới sinh. Sự kiện về việc được tái sinh của y, ở bất cứ mặt nào cũng chứng tỏ sự vượt trội của thiện lên trên ác trong phàm ngã cũ của y. Và trong khi karma (loại tà) tạm tránh đường để đi theo hắn trong lần luân hồi ở cõi trần sau này, y mang theo với y chỉ loại karma của các hành vi, lời nói và tư tưởng tốt lành của y vào Deva-Chan này. “Xấu” (“bad”) là một thuật ngữ tương đối cho chúng ta – như con có lần được dạy trước kia – và Định Luật Báo Phục là định luật duy nhất không bao giờ lầm lạc. Vì vậy tất cả những ai không trượt vào hoàn cảnh bất lợi của tội lỗi và thú tính không thể cứu chuộc – đều đi vào Deva-Chan. Họ sẽ phải trả giá cho các tội lỗi của họ, cố ý hoặc vô tình, về sau này. Trong thời gian đó họ được tưởng thưởng; nhận lãnh quả của các nhân do họ đã tạo ra. “Dĩ nhiên đó là một trạng thái mà người ta thường gọi là cực kỳ ích kỷ, trong đó một Ego gặt hái phần thưởng của tính vô vị kỷ của mình trên cõi trần. Y hoàn toàn bị cuốn hút vào trong phúc lạc của mọi tình thương cá nhân trần tục của y, các ưa thích, các tư tưởng và góp nhặt quả của các hành động đáng được tưởng thưởng của y. Không đau khổ, không buồn lo, thậm chí không bóng dáng của hối hận đến làm tối chân trời sáng chói của hạnh phúc thuần khiết, vì đó là một trạng thái của “Maya” (“Ảo Tưởng”) vĩnh cửu… Vì tri giác hữu thức của phàm ngã con người trên cõi trần chỉ là một giấc mơ mau phai mà khả năng nhận thức sẽ cũng là nhận thức của một giấc mơ ở Deva-Chan – chỉ một trăm lần mạnh hơn”.
“ ‘Bardo là giai đoạn giữa sự chết với tái sinh – và có thể kéo dài vài năm đến một thiên kiếp (kalpa). Nó được chia làm 3 giai đoạn phụ : (1) Khi Ego từ bỏ cuộn dây hữu tử của nó, tiến vào Kama-Loka (Dục-giới), trú sở của các Âm ma (Elementaries); (2) Khi nó tiến vào “Trạng Thái Ấp Ủ Hoài Bão”; (3) Khi nó được tái sinh trong Rupa- Loka (Sắc giới) của
737 chiếu trong sự sống của phàm ngã, nhờ trạng thái cao mà chúng ta gọi là niết bàn thức (nirvanic consciousness) và nó được tạo ra bằng tác động của Chân Ngã. Đó chỉ là một hình ảnh mờ nhạt trong các đơn vị cá biệt (và vì thế bị nhuốm màu với sự ích kỷ và vui thích chia rẽ) của tình trạng tập thể gọi là niết bàn. Trong trạng thái tâm thức cao này, mỗi chủ thể riêng rẽ, dù là tự phát triển khả năng (self-realising), chia sẻ trong nhận thức của nhóm và chính ở đó mới có được toàn phúc cho đơn vị. Sự phân chia không còn nữa, chỉ có sự hợp nhất và thống nhất chủ yếu được nhận ra. Do đó tất nhiên có thể suy ra, không hề có trạng thái devachan cho người sơ khai hoặc người kém tiến hóa, vì họ không xứng đáng với nó, và không có năng lực trí tuệ (mentality) để nhận biết nó; cũng vì vậy thời gian đầu thai của họ nhanh chóng và giai đoạn pralaya của họ ngắn ngủi. Trong trường hợp của họ, chẳng có gì nhiều dành cho Ego, trên cõi riêng của Chân Ngã, để đồng hóa trong phần còn lại của các lần luân hồi, và thế là nguyên khí sự sống nhanh chóng triệt thoái ra khỏi thể hạ trí, đưa

Deva- Chan. Giai đoạn phụ (1) có thể kéo dài từ vài phút đến một số năm – giai đoạn “một vài năm” trở thành khó hiểu và hoàn toàn vô dụng mà không có giải thích đầy đủ hơn; giai đoạn phụ (2) “rất dài”; như bạn biết, đôi khi dài hơn bạn có thể tưởng, tuy tương xứng với sức chịu đựng tinh thần của Ego; giai đoạn phụ (3) kéo dài tương xứng với karma tốt, sau khi monad (chú ý monad viết thường – ND), lại tái luân hồi”.
“Mọi quả phải tương xứng với nhân. Và theo cách nói của con người, cuộc sống chỉ mang một tỉ lệ nhỏ so với các giai đoạn của con người về cuộc sống giữa các lần sinh trong chu kỳ manvantara, thế nên các tư tưởng, lời nói và hành vi tốt của bất cứ kiếp nào trong số các kiếp này trên một bầu là nhân của các quả, việc tác động của nó cần nhiều thời gian hơn là sự tiến hóa của các nhân chiếm chỗ”.
Trích Mahatma Letters to Sinnett, trang 100 – 106.
đến kết quả là sức thôi thúc của Ego để tái sinh hầu như ngay lập tức.
Khi sự sống của phàm ngã được đầy đủ và phong phú, tuy không đạt đến giai đoạn mà trong đó phàm ngã có thể hợp tác một cách sáng suốt với Chân Ngã, các giai đoạn niết bàn của phàm ngã (personality nirvana) được trải qua, kỳ gian của chúng tùy thuộc vào sự thích thú của đời sống, và năng lực của con người để suy cứu về kinh nghiệm. Sau này, khi Ego chi phối sự sống phàm ngã, việc quan tâm của con người được nâng lên các mức cao hơn, và niết bàn của linh
738 hồn trở thành mục tiêu của Chân Ngã. Ego không còn để tâm vào devachan. Do đó những ai trên Thánh Đạo (hoặc Con Đường Dự-Bị, hoặc Con Đường Điểm Đạo), theo thông lệ, không còn vào devachan, mà tức khắc luân hồi trở thành qui luật trong việc xoay chuyển bánh xe sự sống, lần này việc đó xảy ra bằng sự hợp tác có ý thức của phàm ngã với Linh Ngã (divine Self) hay Ego.
(2) Giai đoạn giữa các Chu kỳ chân ngã. Nơi đây ẩn giấu bí mật của 777 lần luân hồi và liên quan đến sự liên hệ của đơn vị với nhóm của Ego trên cõi chân ngã, trước khi có sự khai mở của cánh hoa thứ năm. Nó liên quan đến con người trong giai đoạn giữa thời kỳ sơ khai với thời kỳ đệ tử, khi con người là kẻ trung bình nhưng vẫn còn trong hai Phòng (Halls). Bí ẩn của tất cả các căn chủng nằm ở đây, và các chu kỳ chân ngã trùng hợp với việc tạo ra các hình hài chủng tộc và các nền văn minh. Một người sẽ đầu thai trở đi trở lại trong các giống dân phụ khác nhau của một căn chủng cho đến khi một chu kỳ nào đó đã được bao hàm; kế đó y có thể trải qua một trạng thái pralaya cho tới khi ở trong (và đôi khi muộn hơn nhiều) một căn chủng sau, y sẽ đáp ứng với tiếng gọi do rung động của nó, và sự thôi thúc của chân ngã để luân hồi sẽ lại được cảm nhận. Trong minh họa này, chúng ta nên nhớ rằng nhân loại tiến hóa nhiều ngày nay không luân hồi cho đến căn chủng thứ tư. Các chu kỳ này là một trong các bí ẩn của điểm đạo, dù một trong các bí ẩn trước đây, và được tiết lộ ở kỳ điểm đạo hai khi chúng giúp cho điểm đạo đồ hiểu được tình trạng của mình, để thấy phần nào bản chất của xung lực nghiệp quả và hiểu được ký ảnh riêng của mình trong cảm dục quang.
Các chu kỳ này có thể được xem như hai giai đoạn pralaya nhỏ và có liên quan trước nhất với sự sống trong ba cõi thấp.
(3) Tiếp đến giai đoạn mà con người đạt được tự do. Vào giai đoạn này, theo luật định, con người thành công trong việc “tách ra” chính mình, tức linh hồn không bị ràng buộc, ra khỏi vật chất của ba cõi thấp. Y đã vận dụng và hoạt động với
739 thần chất và đã thu lượm được mọi giao tiếp rung động cần thiết, và củng-cố được mọi “nhận thức” và “khám phá” được dự kiến; y không còn bị giam giữ bởi các devas. Y được tự do cho tới khi, một cách tự nguyện và sẵn sàng, và trong một cuộc tuần hoàn khác, y có thể trở lại với tư cách một Nhân Viên của Thánh Đoàn, để tiếp tục công việc phụng sự của Ngài cho nhân loại kém tiến hóa của thời xa xăm đó. Vì việc này liên quan tới bảy con đường đưa đến cơ hội cho một Đức Thầy mà chúng ta sẽ không bàn đến ở đây (1). Đây là pralaya lớn của con người.

1 Bảy Thánh Đạo mà một trong số đó, mọi người phải đi qua :
1. Thánh Đạo 1. Con Đường Phụng Sự Địa Cầu.
2. Thánh Đạo 2. Con Đường Công Tác Từ Điển.
3. Thánh Đạo 3. Con Đường của các Hành Tinh Thượng Đế.
4. Thánh Đạo 4. Con Đường đưa đến Sirius.
5. Thánh Đạo 5. Con Đường của Cung.
(4) Pralaya cấp hành tinh. Sau các biến cố chu kỳ này, giờ đây con người là một thành phần có ý thức đối với nhóm của y, và là một điểm đầy sức sống trong một trung tâm trong cơ thể của một Hành Tinh Thượng Đế, tồn tại một cách hữu thức và nhận biết một cách hữu thức về vị trí của mình trong tổng thể vĩ đại. Điều này bao hàm một nhận thức đối với trung tâm mà y là một điểm năng lượng trong đó, một hiểu biết về loại thần lực mà y phải truyền đạt và phải vận dụng từ các mức vũ trụ, và một liên hệ hữu thức với sáu trung tâm khác trong Sự Sống hành tinh mà y có liên kết vào.
Giai đoạn hoạt động hữu thức này trong chất dĩ thái (mà thể hành tinh được tạo thành với nó) tồn tại theo karma của Đấng Chủ Quản hành tinh, vì đơn vị giờ đây kết hợp hữu thức với karma của hành tinh, và là một kẻ tham dự trong việc thể hiện ý chí và mục tiêu của Đấng Chủ Quản Cung của Ngài. Trên các cõi cao của thái dương hệ, giai đoạn này tồn tại theo độ dài sự sống của một hành tinh hệ; mà một giai đoạn pralaya kế tục cho nó đang có khởi đầu của nó hướng về cuối cuộc tuần hoàn thứ bảy trong bất cứ hành tinh hệ nào, hoặc thuộc về cuộc tuần hoàn thứ năm, nếu Định Luật
Kiên Trì của hành tinh hệ thể hiện qua các chu kỳ theo số 5. Ở
740 đây, tôi đang khái quát hóa và nói bằng các thuật ngữ tổng quát, karma của các đơn vị khác nhau và một Đức Thầy – tùy theo con đường mà vị này chọn sau cuộc điểm đạo thứ năm - ở lại và làm việc trong hành tinh hệ của chính Ngài, nhưng các thay đổi có thể xảy ra do các yếu tố sau :
a. Karma của hành tinh.

6. Thánh Đạo 6. Con Đường của Thái Dương Thượng Đế.
7. Thánh Đạo 7. Con Đường của Tình Trạng Con Tuyệt Đối.
b. Ý chí của Đấng Chủ Quản (Lord) Cung của Đức Thầy
đó.
c. Các thiên lệnh (orders) phát ra từ Thái Dương Thượng Đế vốn được truyền đạt cho Đức Thầy sau khi giải thoát xuyên qua Hành Tinh Thượng Đế và qua trung gian Đức Chohan phụ trách Cung của Đức Thầy.
Lúc bấy giờ Đức Thầy “tách ra” theo luật huyền bí của hành tinh, luật này chỉ hoạt động trên các phân cảnh dĩ thái vũ trụ và được chuyển đến nơi tới của Đức Thầy. Nếu chúng ta diễn giải mọi điều nói trên bằng các thuật ngữ về năng lượng và về bức xạ và như thế tránh các nguy hại của cách diễn giải theo vật chất, ý nghĩa sẽ trở nên rõ rệt hơn.
(5) Đại pralaya. Thời khoảng tạm ngưng này đến vào cuối mỗi 100 năm của Brahma, đưa đến tan rã mọi loại hình tướng – tinh anh lẫn trọng trược – khắp toàn bộ thái dương hệ. Đó là một giai đoạn tương tự với giai đoạn được xét đến khi chúng ta xem xét sự triệt thoái của con người ra khỏi thể dĩ thái của y và năng lực của y lúc bấy giờ để hoạt động trên cõi cảm dục, tách ra khỏi thể hồng trần nhị phân của y. Bên trong thái dương hệ, một diễn trình tương tự với diễn trình đó được trải qua khi con người triệt thoái thể dĩ thái ra khỏi nhục thân, sẽ được thấy hướng về cuối chu kỳ mahamanvantara. Nó sẽ bao hàm giai đoạn mà trong đó bốn Cung thứ yếu hòa nhập và trộn lẫn, tìm ra nhị nguyên tính và các đối cực của chúng. Sau rốt, 4 trở thành 2, 2 trở thành 1, và lúc bấy giờ tất cả được tổng hợp thành Cung chính thứ ba. Thời điểm chưa đến, nhưng vô số kỷ nguyên nằm ở trước. Đó là sự xuất hiện đầu tiên của trạng thái hủy diệt liên quan đến
741 các hành tinh hệ, và đánh dấu khởi đầu của thời mà “các Cõi Trời sẽ tan chảy với sức nóng mãnh liệt”, và Mặt Trời trở thành bảy mặt trời. (Xem GLBN II, 746, 747).
Sự tương ứng trong tiểu thiên địa có thể được thấy trong tiến trình sau đây. Vi tử thường tồn hồng trần thu hút toàn bộ sinh lực của xác thân, sức nóng và ánh sáng cố hữu của nó do đó tăng lên đến lúc vào cuộc điểm đạo thứ tư, bảy loa tuyến được cấp sinh lực và rung động đầy đủ. Nội nhiệt của nguyên tử, cộng với ngoại nhiệt của thể chân ngã trong đó nó có vị trí của nó, lúc bấy giờ tạo ra những gì hủy diệt vi tử thường tồn. Tạm thời và ngay trước khi hủy diệt, nó trở thành một mặt trời thất phân rất nhỏ do bức xạ và hoạt động của các loa tuyến. Cùng với mặt trời hồng trần của thái dương hệ, theo một cách tương tự, nó sẽ trở thành bảy mặt trời, khi nó đã hấp thu tinh hoa sự sống của các cõi đã phát triển đầy đủ và trên đó có các hành tinh hệ. Hỏa hoạn lớn theo sau là công việc cuối cùng của trạng thái Hủy Diệt. Nó đánh dấu thời điểm phát triển cao nhất của thần chất trong thái dương hệ, sự thành toàn của công việc của Agni và các hỏa thần của Ngài, và cuộc điểm đạo của Brahma. Lúc bấy giờ, chất nguyên tử sẽ cá tính hóa (như chúng ta biết, đó là mục tiêu cho nguyên tử) và sau đại pralaya đó, thái dương hệ kế tiếp sẽ bắt đầu với Tinh Thần tam phân đang biểu lộ qua vật chất vốn chủ yếu được phân biệt bằng tình thương sáng suốt linh hoạt. Tất nhiên, điều này không thể hiểu được đối với các thể trí thuộc về cuộc tuần hoàn thứ tư của chúng ta.
Thế là chúng ta đã nghiên cứu các loại pralaya khác nhau ở mức độ mà chúng có ảnh hưởng đến từng cá nhân; mỗi đơn vị tìm thấy hướng của mình sau rốt trở thành một trong các trung tâm tinh anh vũ trụ của Đấng vũ trụ đặc biệt, Ngài là Đấng Chủ Quản của Cung của y, và do đó vào kỳ đại qui nguyên, các đơn vị nhân loại này gồm kẻ đạt được và kẻ không chuyển qua được các trung tâm vũ trụ xa xăm khác, sẽ tìm thấy vị trí của họ nơi đây.
Trước khi đề cập đến pralaya cấp hành tinh và cấp vũ trụ, ở đây chúng ta có thể xem xét liên hệ của các Agnishvattas
742 (các thần đã tạo ra sự biệt ngã hóa của người thú trên hành tinh này) với các chu kỳ tiến hóa khác trước đây, và tại sao chỉ bàn đến các thần này theo quan điểm của một mahamanvantara, và của một kalpa (kalpa = manvantara = 1 ngày + 1 đêm của Brahma, = 4 320 triệu năm trần thế, thiên kiếp Mahamanvantara = một năm của Brahma, chu kỳ đại khai nguyên hay đại thiên kiếp – ND). Lý do khiến chúng ta không đặc biệt xem xét nhóm các Agnishvattas, Kumaras và Rudras liên quan với Địa Cầu là vì chúng ta vận dụng toàn bộ vấn đề theo quan điểm hành tinh chớ không theo quan điểm của gia đình nhân loại. Nhà nghiên cứu muốn tìm kiến thức tỉ mỉ về các Agnishvattas của dãy địa cầu chỉ cần nghiên cứu bộ GLBN. Chúng tôi đã thử đưa tư tưởng của nhà nghiên cứu vượt khỏi phạm vi nhỏ bé của chính họ đi vào việc xem xét công việc của các Manasadevas trong thái dương hệ. Trong mọi hành tinh hệ các Thần này đều có vị trí của các Ngài, nhưng trong vài hệ thống – như trong hệ hành tinh Jupiter – các Ngài chỉ mới bắt đầu công việc của các Ngài, còn trong các hệ thống khác – như hệ Vulcan và hệ Venus – công việc của các Ngài hầu như hoàn tất. Venus đang ở trong cuộc tuần hoàn cuối cùng của nó, và gần như phát triển giới thứ tư (tức nhân loại -ND) của nó đến hoàn thiện, hay là đến mức tối đa có thể có được trong thái dương hệ này. Trong hành tinh hệ Địa Cầu, các Ngài đang có khuynh hướng làm việc tối đa, và chỉ trong cuộc tuần hoàn tới, các Ngài sẽ biểu lộ tột đỉnh hoạt động của các Ngài. Các Ngài tiến theo chu kỳ qua các hành tinh hệ và ở dưới Thiên Luật – Luật Karma đối với Hành Tinh Thượng Đế, vì các Ngài về bản thể, liên quan với Sự Sống của Hành Tinh Thượng Đế, vì sự sống đó kích hoạt
các trung tâm lực của Đấng này. Các Ngài bước vào một hành tinh hệ theo làn sóng năng lượng trí tuệ từ bí huyệt đầu của Thái Dương Thượng Đế, và trong tiến trình vượt qua bí huyệt Tim của Ngài, xảy ra ba việc :
1. Các Ngài trở nên phân hóa thành bảy nhóm.
2. Các Ngài điều khiển chính các Ngài dưới hình thức các luồng năng lượng đi đến một hành tinh hệ đặc biệt nào đó.
3. Sự tiếp xúc của các Ngài với một hành tinh hệ, là sự tiếp xúc vốn tạo ra biểu lộ của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, và đưa đến việc các Chân Thần khoác lấy hình hài trong ba cõi thấp.
743 Các Đấng này tự hy sinh Chính Các Ngài cho Huyền Giai nhân loại (ở đây chúng ta phải để ý mức chính xác của sự kiện là các Ngài phát ra – emanate – từ bí huyệt đầu của Thượng Đế, hay là từ trạng thái ý chí), là các Đấng Cứu Độ thực sự, hiến dâng sự sống của các Ngài cho cái thiện hảo của nhân loại. Các Ngài thay thế cho mối liên hệ đối với toàn thể các hành tinh hệ như là Thánh Đoàn Huyền Môn của bất cứ hành tinh hệ đặc biệt nào thay thế cho con người trên hành tinh đó. Trong chu kỳ pralaya, các Ngài triệt thoái (như mọi vật khác) ra khỏi biểu lộ, và quay về một trung tâm vũ trụ mà bí huyệt ở đầu của Thượng Đế chỉ là một hình ảnh lu mờ của trung tâm vũ trụ đó; các Ngài quay về với kinh nghiệm càng phong phú hơn.
Cổ Luận viết :
“Deva tỏa chiếu với ánh sáng tăng bội khi thần đức ý chí nhập vào. Ngài tàng trữ sắc thái khi thợ gặt gom góp lúa mì và chứa lại để cấp dưỡng cho đại chúng. Tổng quát, deva này làm chủ Cung Ma Kết (Nam Dương) thần bí (mystic Goat). Tuy vậy Makara chính là, và không phải là cái khoen kiên trì”.
(Makâra: “Con cá sấu”. Ở Âu Châu, chữ này tương tự như Capricorn, Cung Hoàng Đạo thứ 10. Theo huyền bí học, là một hạng devas thần bí. Với người theo Ấn Giáo, là vận cụ (vehicle) của Varuna, tức Thủy Thần (water-god) – (Trích Theosophical Glossary, 1971).
Các cuộc tuần hoàn đến rồi đi (ngoại trừ theo quan điểm của một hành tinh đặc biệt), còn Manasadevas thì mãi mãi hiện hữu, nhưng ảnh hưởng của các thần đó thì không được luôn luôn cảm nhận.
Khi xét pralaya cấp hành tinh, chúng ta có thể liệt kê vắn tắt các giai đoạn bất động sau đây :
Giữa hai Bầu trong một Dãy. Giai đoạn này bao hàm giai đoạn tách ra của các hạt giống của mọi sự sống và sự chuyển di của sự sống từ một bầu này đến một bầu khác. Vị manu mầm mống của một bầu gom tất cả mọi lực sống vào trong Chính Ngài, như Thượng Đế làm vào lúc kết thúc một thái dương hệ, và vì cũng xảy ra vào lúc kết thúc một dãy hành tinh, và giữ cho chúng yên tĩnh trong hào quang của Ngài. Điều này bao hàm một chu kỳ khai nguyên hay một ngày của Brahma.
Giữa hai Dãy Hành Tinh. Điều này bao hàm chu kỳ của một mahamanvantara (đại thiên kiếp), hay một năm của Brahma.
Có nhiều cách để đạt đến các chu kỳ lớn hơn, nhưng không cần thiết lầm lộn với các phức tạp về các con số. Mười
744 vị Prajapatis hay Rishis, hay mười vị Hành Tinh Thượng Đế, biểu lộ qua mười hành tinh hệ của các Ngài trong thời gian và không gian, thời điểm xuất hiện của các Ngài khác nhau. Mỗi vị cũng biểu lộ như Thượng Đế biểu lộ qua một thất bộ và một tam bộ, lại tạo thành mười của hoàn thiện.
Giữa hai Thái Dương Hệ. Giai đoạn này bao hàm giai đoạn một trăm năm của Brahma, và qua việc nghiên cứu về các chu kỳ hành tinh, việc hiểu rõ về các chu kỳ lớn này có thể xảy đến. Tuy nhiên nhà nghiên cứu gặp phức tạp ở chỗ là có hai hành tinh hệ bao hàm các giai đoạn theo chu kỳ của chúng trong năm cuộc tuần hoàn, trong khi các hành tinh hệ khác có tới bảy cuộc tuần hoàn; một hành tinh hệ chỉ có ba cuộc tuần hoàn, nhưng một bí ẩn nằm ở đây : trên nội tuần hoàn một hành tinh có chín chu kỳ chạy qua trước khi mục tiêu của Đấng Chủ Quản hành tinh đó được hoàn tất.
Một vài chu kỳ pralaya thứ yếu không liên quan đến con người chút nào, mà có liên quan đến nguyên tử vật chất khi nguyên tử này được phóng thích ra khỏi hình hài thuộc bất cứ loại nào trong các giới dưới nhân loại. Pralaya là kết quả của năng lực phóng xạ được thành tựu.
© Các kiểu mẫu Luân Hồi của con người. Trong khảo cứu của chúng ta về việc tạo ra các hình-tư-tưởng và các môi giới để tạo ra chúng, chúng ta đã xét :
1. Thần chất nhờ đó chúng được tạo ra.
2. Năng lượng kích hoạt chúng và cội nguồn của năng lượng đó.
3. Sự xuất hiện của chúng trong thời gian và không gian, hay là sự hóa thân (incarnation) của chúng.
4. Sự biến mất (disappearance) của chúng hay là pralaya.
5. Các thực thể kiến tạo, chúng tạo ra các hình-tư-tưởng này theo cách tam phân, bằng cách dùng tiến trình :
a. Thiền định, bao giờ cũng là bước đầu đưa tới kiến tạo.
b. Động lực, hay là năng lượng dương, chiếm lấy đối cực
của nó (vật chất âm) và sử dụng vật chất đó.
745 c. Mang lại màu sắc hoặc tính chất, nó nắn khuôn những gì đã được chuẩn bị.
d. Đem lại sinh khí cấp hai, nó phát khởi hình-tư-tưởng riêng biệt được tạo ra thế đó.
Giờ đây, chúng ta xét về bí ẩn của tái sinh, tức là việc luân hồi của các sự sống vốn tồn tại trong vật chất tinh anh, và tuy thế chúng tìm hình hài theo thiên luật, và đề cập tới chủ ý đặc biệt của chúng trên các mức độ hồng trần trọng trược. Chúng ta có thể xem xét điều này liên quan tới các thực thể vũ trụ, các thực thể này tìm sự hiện tồn trên cõi hồng trần của vũ trụ, các cõi của thái dương hệ chúng ta, tức là Jivas nhập thế vốn được thôi thúc bởi Thiên Luật hướng về biểu lộ hồng trần để trở nên hữu thức đầy đủ, và thu lượm (nhờ vào sự sống hữu cảm thức), được gia tăng năng khiếu và sức mạnh.
H.P.B. đã viết rằng các tái sinh có thể được chia thành ba hạng (Xem GLBN III, 364, 365, 367) :
a. Các tái sinh của các Avatars.
b. Các tái sinh của các Adepts.
c. Các tái sinh của các Jivas mưu tìm phát triển.
Đối với những ai đang cố gắng hiểu phần nào bí ẩn của tái sinh, và các luật cùng mục tiêu của nó, và ai đang bối rối khi xem xét cái bí mật của Đức Phật và mục tiêu bí ẩn của Thực Thể huyền bí đó, Đức Silent Watcher; đối với những ai thấy vấn đề tìm hiểu vị thế của các vị Kumaras và mối liên hệ của các Ngài với Đức Hành Tinh Thượng Đế hầu như là vấn đề không thể vượt qua được, có thể là khôn ngoan khi nói: nghiên cứu và suy tư về sự dị biệt hiện có giữa các nguyên khí thấp với ba nguyên khí cao; nghiên cứu và suy tư về vị trí và chỗ đứng của các nguyên khí thấp này trong cơ thể của Hành Tinh Thượng Đế và nghiên cứu về sự tương ứng giữa :
a. Devachan với jiva luân hồi.
b. Nirvana (Niết bàn) của vị Adept.
746 c. Pralaya của một Thực Thể Thông Linh Vũ Trụ, như là Đấng Chủ Quản (Lord) một dãy hành tinh, Đấng Chủ Quản một hành tinh hệ, và Đấng Chủ Quản một Cung.
Tôi nói tương ứng theo nghĩa nội môn của nó, không tìm cách suy đoán sự tương tự ở chi tiết, mà chỉ ở mục tiêu và ở kinh nghiệm. Có thể nói đến tất cả ba trạng thái theo đó chúng là các giai đoạn phát triển, các chu kỳ thiền định dài, và các khoảng chuyển tiếp giữa các giai đoạn hoạt động. Do đó tầm quan trọng được đưa ra ở Phương Đông và trong mọi trường phái huyền linh về phát triển dựa vào thiền định, vì đó là cách để đưa đơn vị vào dưới sự phát triển cái năng lực vốn sẽ tạo ra :
a. Sự tách ra hay là thoát khỏi hình tướng.
b. Năng lực sáng tạo.
c. Chiều hướng năng lượng, qua tác động của ý chí.
d. Hoạt động kiến tạo tương lai.
Nhờ thiền định, con người sẽ tìm cách thoát khỏi ảo giác của các giác quan và sự quyến rũ do rung động của chúng; con người tìm ra được trung tâm năng lượng dương của riêng mình và trở nên có thể vận dụng nó một cách hữu thức; do đó, y trở nên biết được Chân Ngã mình, hoạt động một cách thong dong và hữu thức ra ngoài các bình diện của giác quan; y nhập vào các kế hoạch của Thực Thể vĩ đại mà bên trong năng lực phát xạ của Ngài, y có được một vị trí; kế đó y có thể tiếp tục xúc tiến các kế hoạch này vì y có thể hiểu rõ chúng ở các giai đoạn nhận thức khác nhau; đồng thời y trở nên biết được nhất nguyên chủ yếu. Nhưng khi một người đã giải thoát chính mình ra khỏi các đối tượng của giác quan trong ba cõi thấp, y lại trở nên biết được sự cần thiết của việc thiền định thâm sâu hơn, và chính (đối với con người trong ba cõi thấp) hình thức thiền định không thể hình dung này mới thu hút sự chú ý của các Chân Sư, và nó được Ngài chuẩn nhận trong hai giai đoạn lớn, mỗi giai đoạn đi trước hai Cuộc Điểm Đạo cuối cùng, thứ sáu và thứ bảy. Ở đây tôi không những chỉ nói đến các Chân Sư vốn “chịu hy sinh” và chọn việc tái sinh để phụng sự trên hành tinh này, mà còn nói đến tất cả các cao đồ. Tự do hành động trên bất cứ Thánh
Đạo nào phải được thu lượm bằng thiền định huyền linh; tự
747 do vượt khỏi vòng-giới-hạn cũng đạt được như thế, và đó cũng là trạng thái yên tĩnh lạ lùng mà các Đấng đã xả thân phụng sự khi Thánh Đoàn huyền linh ở trong cuộc tuần hoàn tới đây. Nơi các Ngài các mầm tri thức thông linh được tích trữ vốn sẽ hữu dụng trong cuộc tuần hoàn thứ năm; đối với các Ngài, điều này tất phải đưa đến một thái độ chấp nhận đối với các sự kiện vào cuối mỗi căn chủng, khi nào ở trên các phân cảnh tinh anh có việc gom lại mãnh lực thông linh và dự trữ nó với các Đấng được chuẩn bị để tiếp nhận nó. Công việc của các Ngài tương tự với công việc của Đức Bàn CổMầm Mống (Seed-Manu), Chính Ngài hoạt động qua một thất bộ giống như hoạt động của các vị cung cấp các sinh lực tâm thông (psychic life-forces).
Lại nữa đối với các Đấng vũ trụ như là các Hành Tinh Thượng Đế, các giai đoạn thiền định xảy ra, nhưng các giai đoạn này liên quan đến các Ngài trên các cõi vũ trụ, và chỉ có các hiệu quả được cảm nhận trên cõi đó. Các Ngài thiền định trong các bộ óc hồng trần của các Ngài, và do đó trong vật chất như con người đang làm, nhưng tiến trình được xúc tiến trong bộ óc dĩ thái. Điều này cần được xem xét cẩn thận vì nó nắm giữ cái bí ẩn. Cũng thế, sự kiện một số trong các Đấng Chủ Quản các Cung thì thành thạo trong việc thiền định hơn là các vị khác, và như thế đạt được các kết quả khác, chúng thể hiện trong các hành tinh hệ của các Ngài, nên thận trọng ghi nhớ.
(d) Việc giáng lâm sau này của Avatar. Đấng Avatar tương lai
“Từ thiên đỉnh (zenith, điểm cao nhất) đến thiên để (nadir, điểm thấp nhất), từ bình minh đến hoàng hôn, từ sự xuất lộ vào hiện tồn của vạn vật hay có lẽ đến việc đi vào an bình của tất cả những gì đã đạt được, chiếu ra quả cầu màu xanh và ngọn lửa sáng rực bên trong.
Từ các cổng vàng (gates of gold) xuống đến hố thẳm của địa cầu, từ ngọn lửa xuống đến vòng tròn tranh tối tranh sáng, Đấng Avatar bí mật giáng lâm, mang theo thanh gươm sắc.
Không gì có thể ngăn chận sự giáng lâm của Ngài, và không ai có thể phản đối Ngài. Trước cái tăm tối của địa cầu chúng ta, một mình Ngài giáng lâm, và dựa trên sự giáng lâm của Ngài, người ta thấy thảm họa tột cùng, và cái hỗn mang của những gì vốn tìm cách chống lại.
Các Asuras che kín gương mặt của chúng, và các hố thẳm của ảo giác cuộn lấy nền móng. Các tinh tú của các Lhas bất diệt rung động theo âm thanh đó – Linh Từ phát ra với sức mạnh thất phân.
Hỗn mang trở nên lớn hơn; trung tâm chính với cả bảy bầu chạy vòng quanh lắc lư theo các tiếng vang của tan rã. Các khói của bóng tối tuyệt đối bốc lên trong sự tan rã. Tiếng ồn bất hài hòa của các yếu tố xung khắc đón chào Đấng đang đến, và không ngăn chận được Ngài. Cuộc xung đột và tiếng kêu của Huyền Giai vĩ đại thứ tư trộn lẫn với nốt êm dịu hơn của các Vị Kiến Tạo của Huyền Giai thứ năm và thứ sáu, đáp ứng với sự tiến tới của Ngài. Tuy nhiên, Ngài chuyển qua con đường của Ngài, lướt vào vòng tròn của các lãnh vực, và phát ra Linh Từ (Word).
* * * *
Từ thiên để đến thiên đỉnh, từ đêm đến Đại Nhật ở với chúng ta, từ vòng tròn biểu lộ đến trung tâm yên bình pralaya, màu xanh đang bao bọc được nhận ra, lạc mất trong lửa thành đạt.
Từ hố thẳm của ảo giác trở lại các cổng vàng, từ tranh tối tranh sáng và bóng tối, trở lại với cái huy hoàng của ngày, Đấng Biểu Lộ, Đấng Avatar, đang lơ lửng, mang theo Thập Giá gãy vỡ.
Không gì có thể chận đứng sự tái lâm của Ngài, không ai có thể cản trở Con Đường của Ngài, vì Ngài vượt qua theo lối trên, mang theo người của Ngài cùng với Ngài. Sự tan biến của đau khổ xảy tới, chấm dứt sự bất đồng, xuất lộ các lĩnh vực và pha trộn các hệ cấp. Lúc đó vạn vật được tái-thu-hút vào trong tinh cầu (orb), vòng tròn biểu lộ. Các hình hài vốn tồn tại trong huyển ảo, và ngọn lửa thiêu đốt tất cả, được thu thập bởi Đấng Cao Cả đang lướt trên các Tầng Trời và tiến nhập vào các Vô Lượng thời phi thời gian.
(Trích từ Archives of the Lodge).
Chúng ta đã đề cập đến vấn đề các Avatars và các tầng lớp khác nhau mà các Ngài có thể được phân chia. Bây giờ chúng ta có thể bàn rộng thêm về các phương pháp. Các phương pháp mà theo đó một vài Đấng Cao Cả vũ trụ và một vài Thực Thể tiến hóa cao xuất hiện trong con người để làm một công việc đặc biệt có thể rất không đầy đủ và được tóm tắt một cách đại để như sau :
Phương pháp ứng linh (overshadowing).
Phương pháp biểu hiện một nguyên lý nào đó.
749 Phương pháp được thấy trong điều mầu nhiệm của Đức Bồ Tát hay Đức Christ.
Phương pháp lâm phàm trực tiếp.
Trở ngại của ngôn từ thì lớn, và các câu trên chỉ truyền đạt một ẩn ngôn về mặt ý nghĩa đích thực. Trong đó có ẩn sự an toàn cho đạo sinh, vì ý nghĩa thực sự thường không thể hiểu được đối với y, và thường chỉ đánh lừa y và dắt y đi theo con đường hiểu sai. Chỉ khi nào con người trở thành một điểm đạo đồ hữu thệ, y mới có thể hiểu được vấn đề. Trong các cách này, cách thông thường nhất là cách thứ nhất. Mọi phương pháp biểu lộ này có lẽ sẽ được đạo sinh hiểu rõ hơn nếu y luôn luôn lý giải chúng bằng các thuật ngữ về lực và năng lượng, và nếu y ghi nhận cái hình ảnh lờ mờ đó của cùng các diễn trình, và các tương đồng yếu ớt có thể được vạch ra trong số các nguyên sinh khí luân hồi (incarnating jivas). Khi một người đã đạt được một mức phát triển nào đó và có thể giúp ích cho thế gian, các trường hợp xảy ra khi y được linh trợ (overshadowed) bởi một adept vĩ đại, hoặc là – như trong trường hợp của H.P.B.- bởi một Đấng còn vĩ đại hơn một adept. Một đệ tử (chela) có thể là một trung tâm, qua đó Đức Thầy của y có thể tuôn đổ năng lượng và thần lực của Ngài để giúp thế gian, và trong vài cuộc khủng hoảng quan trọng, con người được linh trợ bởi một trong các Đấng Cao Cả.(1)

1 Discipleship hay Chelaship… Các bí pháp cổ chỉ là một trường phái huấn luyện và thành tựu tâm linh theo minh triết đích thực; đành rằng tính chất mở đầu là sự thanh khiết của tim tách khỏi các đam mê nhục thể và các thành kiến sai lầm; đành rằng, trong khi bàn tay của Đức Thầy có thể dắt tân đạo đồ vượt qua các nguy hiểm của giai đoạn mà, giống như trẻ con, y không thể bước đi một mình, trong các con đường cao siêu, y bị buộc phải học cách dẫn dắt và bảo vệ chính mình, với tư cách người trưởng thành phải làm trong đời sống thông thường; đành rằng mục tiêu tối hậu là mở rộng bản ngã vào sự sống vô tận và các tiềm năng vô tận; và sau rốt, tuy thế các hình thức mở đầu và các nghi thức có thể có dị biệt ở bề ngoài, một mục tiêu đồng nhất được nhắm vào.
Tạp chí Theosophist, q. IX, trang 246. Chỉ có tâm trong sạch và trí sáng suốt mới tạo điều kiện cho con người đạt được sự cứu rỗi. Đây là triết lý của Ngài. Cũng thế, điều đó có dạy trong Aryan Mahabharata (Tiết CXCIX Vana Parva):
“Những người có linh hồn cao thượng vốn không phạm các tội trong lời nói, hành vi, tim và linh hồn, được cho là trải qua các khổ hạnh khắt khe, chớ không bị cho rằng họ đau khổ về thân xác của họ bị kiệt quệ bởi sự ăn kiêng và các hối cải. Kẻ nào không có cảm xúc về sự ân cần đối với quyến thuộc, kẻ đó không thể thoát khỏi tội lỗi, cho dù xác thân người đó trong sạch. Việc cứng lòng đó của y là kẻ thù của tính khổ hạnh của y. Một lần nữa tính khổ hạnh không phải chỉ là sự tiết chế khỏi các thú vui của thế gian. Kẻ nào luôn giữ tinh khiết và trang bị bằng các đức hạnh, kẻ đó thực hành sự thân ái suốt đời mình, là một Muni (Thánh) cho dù y đang sống một cuộc sống ở gia đình”.
Tạp chí Theosophist, q XIII, trang 259.
750 Những gì xảy ra trên các cõi thấp chỉ là một hình ảnh của các tiến trình cao, và trong ý tưởng này có thể tồn tại sự tỏ ngộ. Một người là một trung tâm lực, hoặc là đối với Ego của y, khi tiến hóa đầy đủ, hoặc là, xuyên qua Ego của y, mãnh lực tập thể của y. Khi tiến hóa rất cao, y có thể được ứng linh một cách hữu thức bởi một người tiêu biểu (exponent) thuộc một loại thần lực khác, thần lực này pha trộn với lực của nhóm hay là Cung của y và tạo ra các thành quả có ý nghĩa trong kiếp sống của y trên cõi trần.
Lại nữa khi một Ego tiến hóa cao, y có thể chọn trong bất cứ lần luân hồi đặc biệt nào để làm việc tối quan trọng qua bất cứ một nguyên khí nào trong số bốn nguyên khí thấp; khi xảy ra trường hợp này, kiếp sống của con người trên cõi trần mang ý nghĩa là kiếp sống có một nguyên khí được thể nhập (embodied principle). Y dường như gióng lên một nốt và phát ra một âm điệu (tone). Rõ ràng là công việc của y được nhìn thấy đi theo một hướng. Y là một kẻ cuồng tín cao độ, nhưng hoàn thành được các việc lớn cho giống dân phụ của y, cho dù bộ óc phàm trần có thể không biết rõ về sự thôi thúc của Chân Ngã. Tiến trình này có một liên hệ kỳ lạ với sự mờ tối, hay sự tàn tạ của phàm ngã, vì cái nguyên khí đặc biệt được biểu hiện tác động qua một vi tử thường tồn tương ứng, và các vòng xoắn của nó trở nên phát triển quá nhanh, và do đó kỳ hạn phụng sự của chúng trôi đi buồn tẻ tới lúc kết thúc. Đây là một sự thật dù sao đi nữa cũng được tận dụng đến khi một siêu nhân, hoặc một đại adept, trở nên hiện thân (trong một căn chủng) của một nguyên khí; các lớp bao (vestures) hay vỏ bọc (sheaths) mà vi tử thường tồn là nhân của nó (nhờ sức mạnh có sẵn của các loa tuyến đã phát triển) được duy trì nhờ sự trợ giúp của các công thức thần chú. Rung động được duy trì trong một khoảng thời giờ riêng biệt và trong bao lâu mà lớp vỏ còn cần đến. Một ẩn ngữ được gợi ra ở đây có thể là hữu ích.
Lại nữa khi một người đã thành đệ tử, nếu muốn, y có thể ở lại trên cõi cảm dục và hoạt động ở đó, và – với ưa thích
751 của y và – dưới sự hiệu chỉnh của karma bởi vị Guru (Đức Thầy) của y – y có thể lập tức được sinh ra trong thể xác. Một ẩn ngôn về cái bí ẩn của Bồ Tát có thể được nhận ra trong hai ý tưởng này, miễn là đạo sinh chuyển toàn bộ quan niệm vào các phân cảnh dĩ thái của cõi hồng trần vũ trụ, và nhớ rằng trên các phân cảnh này, vị Chân Sư hoàn toàn làm việc như một phần của một nhóm, chứ không phải như một Chủ Thể riêng biệt giống như Ego đang làm trong ba cõi thấp. Do đó, năng lượng đang tuôn đổ qua Ngài có thể là :
a. Thần Lực của một trung tâm đặc biệt trong cơ thể của một Hành Tinh Thượng Đế trong toàn thể thần lực của trung tâm đó.
b. Thần Lực của một tập hợp các rung động bên trong trung tâm đó, hoặc là một phần của mãnh lực rung động của trung tâm.
c. Thần Lực thuộc năng lượng của một nguyên khí đặc biệt, hoặc là năng lượng của các nguyên khí cao của chính Ngài mà Ngài đang tìm cách đưa ra để tác động tới cõi trần, bằng cách nhận chịu lâm phàm cho mục tiêu đặc biệt đó, hoặc là năng lượng của một trong các nguyên khí của Hành Tinh Thượng Đế, khi nó tuôn đổ qua Ngài xuyên qua một loa tuyến đặc thù hay là dòng sự sống trong vi tử thường tồn của Hành Tinh Thượng Đế.
Khi các kiểu mẫu thần lực này được tập trung trong bất cứ vị Chân Sư đặc biệt nào, và Ngài chỉ đang biểu hiện thần lực phụ trợ đó và không có gì khác, hiệu quả được thị hiện trên cõi trần theo bề ngoài của một avatar. Một avatar chỉ là một Chân Sư được tạo nên, nhưng thường thường thần lực, năng lượng mục tiêu hoặc ý chí của một Thực Thể Thông Linh vũ trụ sẽ vận dụng các hiện thể của một Chân Sư để tiếp xúc với các cõi vật chất. Phương pháp này mà nhờ đó các Đấng Cao Cả vũ trụ làm cho quyền năng của các Ngài được cảm nhận, có thể được thấy thể hiện trên mọi cõi của cõi hồng trần vũ trụ. Một thí dụ nổi bật của việc này có thể được nhận thấy trong trường hợp của Đức Kumaras, dưới một số thần lực hành tinh và qua việc thành lập một tam giác thái dương hệ, Ngài đưa ra sức thúc đẩy cho giới thứ ba, giới này tạo ra giới thứ tư bằng cách đưa nó vào tiếp xúc với giới thứ năm.
752 Các Kumaras này, tức Sanat Kumara và ba đệ tử của Ngài, có thể đạt đến cuộc điểm đạo cao nhất trong đại chu kỳ cuối cùng này, nhưng cho đến nay chỉ có (theo quan điểm các Ngài) một giai đoạn khác được đạt đến, xả thân chính Các Ngài cho vị Hành Tinh Thượng Đế thuộc Cung của các Ngài với tư cách “các điểm tập trung” cho thần lực của Ngài, sao cho nhờ đó Ngài có thể thúc đẩy các kế hoạch của Hành Tinh Thượng Đế trên Địa Cầu trong chu kỳ biểu lộ này. Các Ngài đã thể hiện ba trong số bốn phương pháp. Các Ngài được linh trợ (overshadowed) bởi Hành Tinh Thượng Đế, và Đấng này hành động trực tiếp với tư cách Đấng Điểm Đạo (liên quan với con người) thông qua Đức Sanat Kumara và với ba giới trong thiên nhiên thông qua ba Hoạt Động Phật (Buddhas of Activity), - như vậy Đức Sanat Kumara, có liên quan trực tiếp với Ego trên cõi trí, còn ba Đệ Tử của Ngài liên quan với ba loại tâm thức khác, mà con người là tập hợp của ba loại đó. Vào lúc điểm đạo (sau Cuộc Điểm Đạo thứ hai) Đức Sanat Kumara trở thành vị phát ngôn (mouthpiece) và vị thừa hành (agent) trực tiếp của Hành Tinh Thượng Đế. Thực Thể vĩ đại đó diễn đạt xuyên qua Ngài và trong một giây ngắn (nếu người ta có thể dùng một thuật ngữ như thế có liên quan với một cõi mà trên đó thời gian, theo như chúng ta hiểu, vốn không có) Hành Tinh Thượng Đế thuộc một Cung của con người – xuyên qua não bộ dĩ thái của Ngài – chuyển tư tưởng của Ngài lên trên Đấng Điểm Đạo, và “gọi Đấng này bằng Thánh Danh của Ngài”.
Các Đức Kumaras lại là các nguyên khí được thể hiện, nhưng trong mối liên hệ này, chúng ta phải nhớ rằng điều này có hàm ý là Lực và năng lượng của một trong các nguyên khí của Thượng Đế đang tuôn đổ qua các Ngài xuyên qua những gì – đối với Ngài – tương ứng với Monad. Qua các Ngài, trong giai đoạn lâm phàm và tự nguyện hy sinh, cái Nguyên Mẫu vĩ đại của Hành Tinh Thượng Đế bắt đầu làm cho Diện Mục của Ngài được cảm nhận, và mãnh lực từ chòm sao Đại Hùng (Gấu Lớn) rung động một cách yếu ớt trên Địa Cầu. Vào lúc điểm đạo, con người trở nên biết được một cách hữu thức về Diện Mục của Hành Tinh Thượng Đế qua sự tiếp xúc tự tạo với Tinh Thần thiêng liêng của chính y. Ở cuộc Điểm Đạo 5, con người trở nên biết được với mức độ đầy đủ về ảnh hưởng của nhóm thuộc hành tinh, và vai trò của y trong tổng
753 thể vĩ đại. Ở Cuộc Điểm Đạo 6 và 7, ảnh hưởng của Nguyên Mẫu hành tinh được cảm nhận, đạt đến Ngài xuyên qua Hành Tinh Thượng Đế đang tác động qua Đấng Điểm Đạo.
Cách lâm phàm trực tiếp được thấy trước kia khi các vị Kumaras ở trong hình hài vật chất. Điều này chỉ áp dụng với một số các Ngài; Đức Sanat Kumara và các Đệ Tử của Ngài đều khoác hình hài vật chất, nhưng không khoác lấy các thể vật chất trọng trược. Các Ngài hoạt động trên các phân cảnh dĩ thái trọng yếu và ngự trong các thể bằng chất dĩ thái. Shamballa, nơi mà các Ngài ngự, hiện hữu trong chất hồng trần y như các vị Kumara vẫn làm, nhưng đó là vật chất của các loại dĩ thái cao cấp thuộc cõi trần, và chỉ khi nào con người đã mở được nhãn thông dĩ thái, lúc đó cái bí ẩn nằm bên kia dãy Himalayas mới được tiết lộ. Do đó, rồi có lúc Đức Sanat Kumara là Hành Tinh Thượng Đế, giờ thì chưa. Một hình ảnh của phương pháp lâm phàm trực tiếp có thể được nhận ra khi một đệ tử bước ra khỏi thể xác của mình và để cho Đức Thầy của y, hoặc một đệ tử tiến hóa hơn, sử dụng thể đó.
Bí nhiệm của Bodhisattvas (GLBN I, 82, 83) đã được H.P.B. đề cập tới và cho đến khi các đạo sinh đã đồng hóa và nghiên cứu những gì bà đã nói, không có gì phải nói thêm. Nhận thức được chân lý bao giờ cũng là yếu tố cần đến sự khai mở mới mẻ.
Một giai đoạn lý thú sẽ đến vào khoảng năm 1966 và kéo dài đến cuối thế kỷ. Đó là giai đoạn mà các Đấng Cao Cả đã tạo ra sự chuẩn bị đúng cho nó. Giai đoạn đó liên quan đến cố gắng cho thế kỷ của Thánh Đoàn và các Nhân Vật tham dự vào đó. Mỗi thế kỷ chứng kiến một cố gắng thế kỷ của Thánh Đoàn theo một tuyến thần lực đặc biệt được tạo ra để đẩy mạnh mục tiêu tiến hóa, và nỗ lực cho thế kỷ XX sẽ được dựa vào một giai tầng rộng lớn là trường hợp trong một thời gian rất dài và sẽ liên quan đến một số các Đấng Cao Cả. Một nỗ lực tương tự trong thế kỷ XIX mà H.P.B. và một số tương đối lớn các đệ tử có liên quan.
754 Trong nỗ lực ngay trước mắt, nhiều Đấng Cao Cả và chính Bậc Thầy của các Chân Sư đều có liên quan; trong công việc “sắp đến” của các Ngài, ba trong số các phương pháp xuất hiện khác nhau được nhắc đến ở trước sẽ được thấy hoạt động đầy đủ, và giờ đây chúng ta có thể bàn đến ba phương pháp này.
Trong sự xuất hiện của chính Đức Bồ Tát, bí nhiệm về Bodhisattva sẽ được nhận ra theo ý nghĩa đầy đủ nhất của nó, và ở đây, chúng ta không nên quảng diễn về việc đó. Chỉ cần nói rằng các ngoại thể (vestures) của Đấng Cao Cả sẽ được vận dụng, nhưng thời gian sẽ chứng minh liệu có phải Đấng sắp đến sẽ khoác lên các ngoại thể này một hiện thể vật chất vào giai đoạn đặc biệt này, hay liệu cõi cảm dục có thể là môi trường hoạt động của Ngài hay không. Nếu đạo sinh ngẫm nghĩ về các hậu quả đi kèm trong việc chiếm hữu cái ngoại thể này, nhiều ánh sáng về các biến cố có thể xảy ra sẽ chiếu rọi vào. Các ngoại thể này tác động theo một khả năng song đôi :
a. Chúng được từ hóa rất cao, nên do đó có một hiệu
quả mạnh mẽ và sâu xa khi được vận dụng.
b. Chúng tác động như một điểm tập trung cho diệu lực của Đức Phật và liên kết Đấng sắp đến với Ngài, giúp cho Ngài tăng thêm sáng kiến tuyệt diệu của chính Ngài bằng cách sử dụng các trung tâm lực còn cao hơn, xuyên qua Đức Phật.
Diệu lực này sẽ tìm được biểu hiện của nó trên cõi cảm dục, tạo ra các kết quả rộng lớn có một bản chất an tĩnh, và bằng tác động phản xạ, mang lại an bình trên địa cầu. Việc chuyển hóa dục vọng thành đạo tâm, và biến đổi ham muốn thấp kém thành ước vọng cao xa, sẽ tạo được một vài trong số các hiệu quả, trong khi kết quả của mãnh lực đang tuôn đổ qua sẽ tạo ra các phản ứng sâu xa của các cư dân thiên thần (deva denizens) của cõi đó. Như vậy, do mức độ rung động được thiết lập, mà nhiều người (những kẻ lẽ ra không được như thế) sẽ nhận được điểm đạo lần thứ nhất. Sau đó, hướng về mục tiêu của chu kỳ lớn hơn, Đấng Avatar sắp đến sẽ lại
755 sử dụng các ngoại thể này với tất cả những gì được tạo ra nhờ đó, và sẽ khoác lấy một thể vật chất, như vậy biểu lộ trên cõi trần thần lực của Thượng Đế trong việc quản trị Thiên Luật.
Khi Ngài đến vào cuối thế kỷ này và khiến cho quyền năng của Ngài được cảm thấy, Ngài sẽ đến với tư cách Đức Thầy Bác Ái và Hợp Nhất, còn chủ âm mà Ngài sẽ gióng lên sẽ là sự đổi mới qua lòng bác ái tuôn tràn trên vạn vật. Vì Ngài sẽ hành động trước tiên trên cõi cảm dục, điều này sẽ biểu hiện trên cõi trần trong việc tạo lập các nhóm linh hoạt trong mọi thành phố thuộc bất cứ kích cỡ nào, và trong mọi nước, các nhóm đó sẽ hoạt động năng nỗ cho sự thống nhất, hợp tác và tình huynh đệ trong mọi bộ môn của sự sống – về kinh tế, tôn giáo, xã hội và khoa học.
Các nhóm này sẽ đạt được các kết quả mà hiện giờ chưa thể có được, do sự duy trì lực bồ đề, nhưng sau đó lực này sẽ được phóng thích trên địa cầu qua trung gian của Đấng Cao Cả đang tác động dưới hình thức một khía cạnh của Thượng Đế và như là một điểm tập trung đối với tâm thức và năng lượng của Đức Phật.
Chính khả năng sắp xảy đến này được giữ trong trí trong thế kỷ vào lúc tái diễn mỗi năm của lễ Wesak. Các đạo sinh nên cẩn trọng khi xúc tiến các mục tiêu của Thánh Đoàn bằng một sự định trí tương tự vào lúc có lễ, như vậy lập nên các luồng tư tưởng, chúng sẽ có một sức cầu khấn lớn theo ý nghĩa huyền linh của thuật ngữ đó.
Chỉ dẫn về sự đến gần của biến cố này sẽ được thấy trong phản ứng vốn sẽ được tạo ra trong hai mươi lăm năm tới đây chống lại tội ác, chủ nghĩa Sô-viết (Sovietism) và chủ nghĩa cấp tiến cực đoan (extreme radicalism) mà hiện nay đang được vận dụng bởi một vài thế lực để đạt đến các mục tiêu đi ngược với các kế hoạch của Đấng Cao Cả. Kỷ nguyên hòa bình sẽ được báo trước bằng một tập hợp cùng nhau trên địa cầu của các lực lượng vốn ủng hộ việc xây dựng và phát triển, và bằng một sự tập hợp hữu thức có tính toán chung lại các nhóm trong mọi đất nước vốn biểu hiện cho nguyên tắc
(chừng nào mà họ có thể hình dung ra nó) về Tình Huynh
756 Đệ. Hãy quan sát các dấu hiệu của thời gian và đừng nên nản chí về tương lai trước mắt. Sự xuất hiện của Đấng Cao Cả trên cõi cảm dục (cho dù được theo sau bằng sự lâm phàm trên cõi trần hay là không) sẽ có từ một lễ Wesak nào đó, với một linh từ (chỉ được biết đối với các Đấng đạt được mức Điểm Đạo thứ bảy) sẽ được Đức Phật ngân lên, như vậy phóng thích ra diệu lực, giúp cho Đại Huynh của Ngài hoàn thành được nhiệm vụ. Thế thì việc nhận biết từ từ về lễ Wesak và ý nghĩa thực sự của nó ở phương Tây đang được ưa thích, đồng thời cơ hội sẽ được đưa ra cho tất cả những ai tự nguyện đặt chính mình vào đường hướng của diệu lực này, và như thế trở nên được kích hoạt bởi nó và tất nhiên sẵn sàng cho việc phụng sự. Phản ứng được ghi nhận ở trên, cũng sẽ trở nên có được qua áp lực được mang lại bởi những người trẻ hiện nay, nhiều người trong số đó là đệ tử và đôi khi là các điểm đạo đồ. Họ đã đến để chuẩn bị cho con đường sắp đến của Bàn Chân Thiêng Liêng của Ngài.
Khi giờ đã điểm (năm năm trước kỳ hạn giáng lâm của Ngài) họ sẽ ở vào tình trạng nở hoa đầy đủ của việc phụng sự của họ và sẽ nhận biết công việc của họ, cho dù họ không thể biết rõ những gì mà tương lai đang che giấu.
Khi thời cơ đã đến (và đã có một vài trường hợp đã được nhận ra), nhiều trường hợp ứng linh sẽ được nhận thấy và sẽ lộ ra theo ba cách. Trong mọi nước, ở phương Đông lẫn phương Tây, các đệ tử có chuẩn bị, và những người nam lẫn nữ tiến hóa cao, sẽ được tìm thấy, họ sẽ thi hành công tác theo các đường lối đã định và họ sẽ chiếm các vị trí nổi bật vốn sẽ khiến họ có thể có ảnh hưởng đến nhiều người; các thể của họ cũng sẽ đủ tinh khiết để nhận được sự ứng linh. Điều đó sẽ chỉ có thể có được trong trường hợp những người đã hiến dâng từ khi còn trẻ, họ đã là những kẻ phụng sự nhân loại suốt cuộc đời của họ, hoặc là những người trong các kiếp trước, đã do karma mà có được quyền hành. Ba cách ứng linh này sẽ biểu lộ dưới hình thức :
Thứ nhất: Một ấn tượng ghi vào bộ óc xác thịt của người
757 nam hoặc nữ, các tư tưởng, các kế hoạch hoạt động, các lý tưởng và ý định vốn (phát xuất từ Đấng Avatar) tuy nhiên sẽ không được người đó nhận biết vì vốn khác hơn là cái của chính y. Y sẽ tiến hành đưa chúng vào hành động, được trợ giúp trong vô thức bằng diệu lực đang đổ vào. Theo sát nghĩa đây là một hình thức viễn cảm cao siêu bằng trí (higher mental telepathy) thể hiện ra trên các phân cảnh hồng trần.
Thứ hai: Việc ứng linh đệ tử trong khi làm việc (như là diễn thuyết, sáng tác, hoặc giảng dạy) và sự giác ngộ của y trong việc phụng sự. Đệ tử sẽ hiểu rõ về việc này, mặc dù có lẽ không thể giải thích điều đó được, và sẽ ngày càng tìm cách để sẵn sàng hơn cho việc sử dụng, xả thân trong sự vô kỷ hoàn toàn cho linh hứng của Đấng Cao Cả. Việc này được thực hiện xuyên qua Chân Ngã của đệ tử, diệu lực đang tuôn đổ qua vi tử thường tồn cảm dục của y; và điều đó chỉ có thể diễn ra khi cánh hoa thứ năm được khai mở.
Thứ ba. Sự hợp tác hữu thức của đệ tử là điều bắt buộc phải có trong phương pháp ứng linh thứ ba. Trong trường hợp này, đệ tử sẽ (với sự hiểu biết đầy đủ về các định luật về bản thể -being- và bản chất – nature - của mình) phó thác chính mình và bước ra khỏi xác thân mình, giao xác thân cho việc sử dụng của Đấng Cao Cả hoặc một trong các Masters của Ngài. Điều này chỉ có thể thực hiện được trong trường hợp của một đệ tử cao cấp (chela), vị này đã đưa tất cả ba hạ thể vào thẳng hàng (alignment), và cần có việc khai mở cánh hoa thứ sáu. Bằng một tác động của ý chí hiểu biết, đệ tử hiến dâng thể xác của mình và đứng sang một bên trong một khoảng thời gian đặc biệt.
Các phương pháp ứng linh này phần lớn sẽ là các cách được dùng bởi Đấng Cao Cả và các Đức Thầy của Ngài vào cuối thế kỷ này, và vì lý do đó, Các Ngài đang đưa vào luân hồi, trong mọi quốc gia, các đệ tử đang chờ cơ hội xả thân để đáp ứng với nhu cầu của nhân loại. Do vậy, cần huấn luyện nhiều người cả nam lẫn nữ để có khả năng thông linh cao, có linh hứng đích thực và trạng thái đồng tử chân chính hầu thi hành công tác nói trên một cách khoa học. Trong thời gian năm mươi năm, nhu cầu về các nhà thông linh chân chính và các vị đồng tử hữu thức (như H.P.B. chẳng hạn) sẽ rất lớn nếu
758 các kế hoạch của Chân Sư được tiến hành có kết quả và hoạt động phải được bắt đầu trong việc chuẩn bị cho việc giáng lâm của Ngài, Đấng mà mọi quốc gia đang trông chờ. Trong công việc này nhiều người đều góp phần, miễn là họ tỏ ra có kiên nhẫn.
Dĩ nhiên, nhóm thứ nhất sẽ là nhóm lớn nhất, vì nhóm đó không nhất thiết có rất nhiều kiến thức, mà nhiều nguy cơ hơn đi kèm với họ hơn là với các nhóm khác – nguy cơ về sự lệch lạc của các kế hoạch và của thảm họa đối với đơn vị có liên quan. Nhóm thứ hai sẽ không đông đảo lắm, còn nhóm cuối cùng sẽ chỉ có một ít hoặc hai, hoặc ba người trong một số quốc gia. Trong trường hợp này, điều đó đích thực là như thế, qua sự hy sinh, Đấng Con của Nhân Loại sẽ lại bước lên các chính đạo của nhân loại, và cuộc lâm phàm trên cõi trần của Ngài trở thành một sự thật. Như vậy, rất ít người có sẵn cho Ngài dùng đến, vì diệu lực mà Ngài mang theo, cần có một dụng cụ co giãn đặc biệt, tuy nhiên việc chuẩn bị đúng đang diễn ra.
Lần nữa phương pháp lâm phàm trực tiếp sẽ được dùng đến bởi một số Chân Sư và điểm đạo đồ qua tiến trình :
a. Sinh ra ở cõi trần.
b. Chiếm hữu/mượn tạm (appropriation) một xác thân
thích hợp.
c. Sáng tạo trực tiếp bằng một tác động của Ý Chí. Điều
này ít xảy ra.
Phương pháp thứ hai, hay phương pháp giữa sẽ là phương pháp thường được dùng nhất. Cho đến nay, có sáu Đức Thầy mà đạo sinh huyền môn bậc trung hoàn toàn không biết thánh danh, đã tìm cách lâm phàm ở cõi trần – một vị ở Ấn Độ, một vị khác ở Anh, hai vị ở Bắc Mỹ, một vị ở Trung Âu, trong khi một vị khác đã thực hiện một hy sinh lớn, và đã chọn một thân xác người Nga với mong muốn hành động như một trung tâm hòa bình trong vùng đất bị lãng quên đó. Một vài người được Điểm Đạo lần ba đã chọn thể xác nữ, - một người ở Ấn Độ, vào đúng lúc sẽ làm nhiều điều hướng vào việc giải phóng phụ nữ Ấn, trong khi một người khác có một công tác đặc biệt phải làm liên quan đến giới động vật, giới này cũng đang chờ ngày giáng lâm của Ngài.
759 Đức Jesus sẽ khoác lấy một xác phàm, và cùng với một vài đệ tử cấp lớn của Ngài, thực hiện việc tái làm sinh động (respiritualisation) các giáo hội Thiên Chúa, triệt hạ bức tường đang phân chia Giáo Hội Anh Giáo (Episcopal Churche, ở Scotland và Mỹ - ND) và Giáo Hội Hy Lạp (Greek Churche) với La Mã. Nếu các kế hoạch tiến triển theo kỳ vọng, thì điều này có thể được trông đợi xảy ra vào khoảng năm 1980. Chân Sư Hilarion cũng sẽ xuất lộ và trở thành một trọng điểm tập trung năng lượng bồ đề trong phong trào duy linh rộng lớn, trong khi một Chân Sư khác đang hoạt động với Khoa Học
Cơ Đốc cố gắng trong nỗ lực lôi cuốn nó vào các đường lối lành mạnh hơn. Thật là lý thú khi ghi nhận rằng các phong trào này vốn chú tâm rất nhiều vào khía cạnh tâm hay khía cạnh bác ái, lại có thể đáp ứng nhanh chóng với dòng lưu nhập của thần lực đang Giáng Lâm (at the Coming) hơn là các phong trào khác vốn tự xem chính họ là rất tiến bộ. “Thể trí có thể làm hại” việc nhận thức cái Thực Tại và sự oán thù giữa các huynh đệ đẩy triều lưu của mãnh lực bác ái ra xa. Ba Đức Thầy gắn bó rất chặt chẽ với phong trào Minh Triết Thiêng Liêng đã đang thực hiện chuẩn bị của các Ngài, và cũng sẽ hoạt động giữa con người, đã được nhận ra bởi chính Các Ngài và bởi những người có mắt biết quan sát. Đối với những người thuộc về đệ tử cao cấp của các Ngài trên cõi trần tức người trải qua giới luật cần thiết, cơ hội sẽ xảy đến để hoạt động trên cõi cảm dục và, nếu họ chọn như thế tức một sự luân hồi trực tiếp, miễn là họ đạt được sự liên tục tâm thức. Đức Thầy được biết dưới tôn danh D.K. đang sắp xếp để phục hồi – xuyên qua các đạo sinh của Ngài – một số phương pháp chữa trị cổ xưa và thuộc huyền môn để chứng minh :
a. Vị trí của thể dĩ thái.
b. Hiệu quả của lực prana.
c. Việc khai mở nhãn thông dĩ thái.
Không được phép nói nhiều hơn về các kế hoạch của các Đấng Cao Cả. Việc xuất hiện của các Ngài sẽ không diễn ra đồng thời trong thời gian, vì con người không thể chận đứng dòng lưu nhập thần lực ngày càng tăng lên mạnh mẽ, đồng thời nhận thức về các Đức Thầy và các phương pháp của các
760 Ngài sẽ tùy vào trực giác và việc luyện tập các giác quan bên trong. Các Ngài đến mà không có sứ giả nào, và chỉ có các công việc của các Ngài mới tuyên dương các Ngài.
(e) Sức Thôi Thúc và Luân Hồi. Có lẽ ánh sáng về vấn đề rất khó hiểu này về các điểm Chân Thần luân hồi (incarnating Jivas) của các Chân Sư và các Đấng Hóa Thân (avatars) có thể đến nếu đạo sinh nhớ rằng :
1. Một người thường để lộ trạng thái thứ ba của hoạt động sáng suốt trong sự sống phàm ngã của y, và đang phát triển một cách hữu thức trạng thái thứ hai, hay là biểu lộ Chân Ngã trên cõi trần.
2. Một Chân Sư đang lâm phàm biểu lộ đầy đủ trạng thái thứ hai, cũng như trạng thái thứ ba, và trong sự sống nội tâm riêng của chính Ngài đang diễn ra sự phát triển trạng thái thứ nhất, hay là đang nỗ lực, qua sự sống Chân Thần, đưa vào hoạt động hữu thức trên cõi Bồ Đề.
3. Một avatar biểu lộ một trong hai điều, tùy theo karma đặc biệt của Ngài.
a. Ánh sáng tinh khiết của Monad, được mang lại nhờ Chân Ngã hoàn thiện và phàm ngã trên cõi trần. Tuyến thần lực trải dài suốt từ các phân cảnh Chân Thần đến cõi trần.
b. Ánh sáng của Chính Thượng Đế ở trạng thái này hoặc trạng thái khác, ánh sáng này được truyền hữu thức qua Monad thẳng tới cõi trần từ Hành Tinh Thượng Đế, hay ngay cả từ chính Thái Dương Thượng Đế.
Trong hai trường hợp đầu, ước muốn về sự sống hữu cảm thức, hoặc ước muốn để phụng sự nhân loại, là các yếu tố vốn tạo ra biểu lộ hồng trần (một qua sức mạnh của chính sự tiến hóa, yếu tố kia qua một tác động hữu thức của ý chí). (Ước muốn về cuộc sống hữu cảm thức chỉ là trạng thái tiềm tàng thứ hai đang tìm cách biểu hiện bằng phương tiện của Phi –Ngã, và trong trường hợp kia, trạng thái biểu lộ thứ hai sử dụng hình hài một cách hữu thức dưới hình thức một phương tiện đưa tới cứu cánh. Trong trường hợp của tất cả 761 các avatars, chính trạng thái ý chí mới được đưa vào hoạt động, và nó tạo ra sự xuất hiện – hoặc là ý chí của vị adept hoàn thiện, như là chính Đức Phật, hoặc (như trong trường hợp của một Avatar đích thực, Ngài đang và là Đấng chưa đạt đến) ý chí của Hành Tinh Thượng Đế hoặc của Thái Dương Thượng Đế, đang khoác lấy hình hài cho một mục tiêu đặc biệt. Việc đó liên quan đến cách hiển lộ khả năng sáng tạo cao hơn là khả năng được bộc lộ bởi vị Adept trong việc tạo ra thể biểu lộ của Ngài, tức Mayavirupa. ( ) Các thuật ngữ “chiếm hữu một xác thân” (“appropriation of a physical body”) và “tạo ra một thể xác” (“creation of a physical body”) phải được nới rộng để bao gồm mọi cõi của thái dương hệ chớ không chỉ có cõi trần chúng ta, tức là cõi phụ thứ bảy của cõi hồng trần vũ trụ.
Có ba nguyên nhân phối hợp để tạo ra luân hồi
(incarnation).
1. Sức thôi thúc của Chân Ngã.
2. Hoạt động của các thái dương và thái âm Thiên Thần.
3. Karma, hay là vị trí mà hành động trước kia giữ trong việc tạo ra biểu lộ.
Chúng ta khó lòng tách chúng ra trong lúc xem xét vấn đề của chúng ta do bởi cấu tạo bên trong của chính thể Chân Ngã và yếu tố mà tâm thức nội tại nắm giữ khi tạo ra sắc tướng qua một tác động của ý chí. Do đó, chúng ta hãy vắn tắt xem xét những gì mà chúng ta đã học được liên quan tới thể Chân Ngã và cấu tạo của nó, và kế đó hãy đề cập đến các giai đoạn của Ego trong việc tạo ra các kết quả trong ba cõi thấp.
Chúng ta đã thấy rằng trên cõi phụ thứ ba của cõi trí, hoa sen Chân Ngã nằm tại đó và đạo sinh nên hình dung hoa sen đó cho chính mình như sau :
Ẩn giấu ở ngay trung tâm hay tim của hoa sen là một điểm lửa điện sáng chói có màu trắng-xanh (bảo ngọc trong
762 liên hoa) bao quanh, và hoàn toàn ẩn giấu bởi ba cánh hoa xếp chặt. Quanh cái nhân trung tâm này, hay ngọn lửa bên trong, có xếp chín cánh hoa thành các vòng mỗi vòng ba cánh hoa, tạo thành ba vòng tất cả. Các cánh hoa này được tạo thành bằng chất liệu của Solar angels, dưới hình thức là ba cánh hoa trung tâm, - chất liệu này vốn không phải chỉ hữu cảm thức như là chất liệu của các hình hài trong ba cõi thấp và các nguyệt thể (lunar bodies), mà nó có một tính chất được đưa thêm vào, đó là “I-ness” hay là tâm thức tự tri/ ngã thức (self-consciousness) giúp cho đơn vị tâm linh (spiritual unity) ở trung tâm (nhờ đó) mà đạt được tri thức, hiểu biết và tựnhận thức (self-realisation). Chín cánh hoa này có màu vàng cam chiếm ưu thế, mặc dù sáu màu khác được thấy như là các màu phụ ở các mực độ khác nhau. Ba cánh hoa bên trong có màu vàng chanh đáng yêu. Ở đáy của các cánh hoa sen là ba điểm ánh sáng, nó đánh dấu vị trí của các nguyên tử thường tồn và vốn là phương tiện giao tiếp/liên lạc giữa các Solar Angels với các Lunar Pitris. Nhờ vào các vi tử thường tồn của Ego, tùy theo trạng thái tiến hóa của nó, có thể tạo ra các nguyệt thể của Chân Ngã, tiếp thu tri thức trên ba cõi thấp, và như thế có được kinh nghiệm của mình, và trở nên hiểu biết. Trên một vòng xoắn ốc cao hơn, Chân Thần thông qua các cánh hoa Chân Ngã, và như vậy với sự trợ giúp của
các Solar Angels, thu được kiến thức và trên các phân cảnh cao hơn, cũng trở nên hiểu biết.
Ánh sáng trong các vi tử thường tồn này có sắc đỏ mờ, do đó chúng ta có cả ba loại lửa lộ ra trong thể nguyên nhân – Lửa điện ở tâm, Lửa thái dương bao quanh nó giống như ngọn lửa bao quanh cái nhân ở giữa hay là phần lõi trong một ngọn lửa nến, và lửa do cọ xát, lửa cuối cùng này tương tự với tim bấc đỏ chói nằm ở đáy của ngọn lửa trên cao.
Ba loại lửa này ở trên cõi trí – gặp gỡ và hợp nhất với thể Chân Ngã – vào đúng lúc tạo ra bức xạ tức hơi ấm tuôn ra từ mọi phía của hoa sen, tạo thành hình phỏng cầu được các nhà
763 sưu khảo ghi nhận. Ego càng phát triển đầy đủ, các cánh hoa càng khai mở nhiều thêm, cái đẹp đẽ của hình cầu bao quanh càng lớn và sắc thái của nó càng tinh tế, thanh bai (refined).
Vào các giai đoạn đầu sau hiện tượng biệt ngã hóa, thể chân ngã có dạng một cái chồi. Lửa điện ở trung tâm không rõ ràng và cả chín cánh hoa đều khép xuống trên ba cánh ở bên trong; màu cam có một vẻ xám xịt, còn ba điểm ánh sáng ở đáy là các điểm duy nhất và không có gì thêm nữa; tam giác được nhận thấy sau này nối tiếp với các điểm thì không hiển lộ. Hình cầu bao quanh thì không màu và chỉ được đánh giá như các rung động hình sóng (giống như các sóng trong không khí hoặc dĩ thái) chỉ đạt đến bên ngoài đường viền của cánh hoa.
Vào lúc đạt đến Điểm Đạo ba, một biến đổi thần kỳ diễn ra. Hình cầu bên ngoài đập nhịp theo mọi sắc màu trong cầu vồng và đạt đến phạm vi rộng lớn; các dòng điện năng luân lưu trong đó mạnh đến nỗi chúng thoát ra bên ngoài chu vi vòng tròn, tương tự các tia sáng mặt trời. Chín cánh hoa được khai mở hoàn toàn, tạo thành một đế gắn trang nhã cho viên ngọc nằm giữa, và màu cam của chúng giờ đây có độ trong mờ xinh xắn, tràn ngập với nhiều màu sắc, màu của cung Chân Ngã đang chiếm ưu thế. Tam giác ở đáy giờ đây trở nên linh hoạt và lấp lánh, còn ba điểm là các đốm lửa nhỏ rực sáng, lộ ra trước con mắt của người có nhãn thông như các vòng xoắn ánh sáng thất phân, lan truyền ánh sáng của chúng từ điểm này đến điểm khác theo một tam giác đang chuyển động nhanh.
Vào lúc đạt Điểm Đạo bốn, hoạt động của tam giác này lớn đến nỗi nó có vẻ giống như một bánh xe đang quay nhanh. Nó có trạng thái bề đo thứ tư. Ba cánh hoa ở tâm đang mở, để lộ “bảo ngọc sáng chói”. Ở cuộc điểm đạo này, qua tác động của Đấng Điểm Đạo đang vận dụng Quyền Lực Trượng mang điện, ba loại lửa bất ngờ được kích hoạt bằng một dòng
764 điện đi xuống, hay lực dương, từ Monad, và sự bùng lên của chúng khi đáp ứng tạo ra sự hòa nhập, nó hủy diệt toàn bộ quả cầu, xua tan mọi sự xuất hiện của hình hài và tạo ra một khoảnh khắc cân bằng hay đình chỉ (suspension), trong đó “các yếu tố bị thiêu hủy bằng sức nóng dữ dội”. Thời điểm phát xạ cao nhất được biết tới. Kế đó, - bằng việc phát ra một Quyền Lực Từ nào đó, các Solar Angels cao cả gom lại vào chính Các Ngài Lửa thái dương, như vậy tạo ra sự tan rã cuối cùng của hình hài, và do đó tách sự sống ra khỏi hình hài; lửa vật chất quay trở lại với kho chứa chung, còn các vi tử thường tồn và thể nguyên nhân không còn nữa. Lửa điện ở giữa được tập trung trong atma-buddhi. Chủ Thể Suy Tư hay thực thể tâm linh không còn bị ràng buộc trong ba cõi thấp nữa, và hoạt động hữu thức trên cõi bồ đề. Giữa hai giai đoạn im lìm (mặc dù có ý thức tự ngã) thiếu năng động này và với hoạt động bức xạ đó vốn tạo ra một sự quân bình của các lực, là một loạt dài gồm nhiều kiếp sống.
Trong nghiên cứu của chúng ta về đề tài các Điểm Chân Thần (Jivas) lâm phàm, chúng ta đề cập đến ba đề tài :
a) Các Avatars, với ý định đánh đổ sự lẫn lộn trong trí của các đạo sinh đối với vài loại xuất hiện. Trong nghiên cứu hiện nay của chúng ta, chúng ta chỉ sẽ bàn đến tiến trình được một người thông thường noi theo.
b) Các pralayas, với ý định khơi lại trong trí của đạo sinh ý tưởng về các thời gian chuyển tiếp của sự bất động phụ thuộc vào các giai đoạn hoạt động chen vào giữa.
c) Sự xuất hiện của thể Chân Ngã và cấu tạo chung của nó, với ý định khơi hoạt sự nhận thức của đạo sinh đối với sự kiện mà sự tiến hóa cũng tác động vào thể đó, và không những chỉ hình hài của con người trong ba cõi thấp. Các hiệu quả của tiến trình đều phụ thuộc lẫn nhau, và khi phàm ngã phát triển, hoặc phàm ngã trở thành linh hoạt và sáng suốt hơn, các kết quả được tạo ra trong thể cao. Khi các hậu quả
765 này được tích lũy lại, chớ không phù du như các kết quả thấp, thể Chân Ngã cũng trở nên linh hoạt và biểu lộ năng lượng của nó tăng lên. Vào cuối giai đoạn tiến hóa trong ba cõi thấp, một sự trao đổi năng lượng thường xuyên được thấy xảy ra; các hình hài thấp trở nên phát xạ ánh sáng và phản chiếu ánh sáng cao siêu; thể Chân Ngã là Mặt Trời của hệ thống thấp, còn các thể của nó phản chiếu các tia sáng của nó, giống như mặt trăng phản chiếu ánh sáng của vầng thái dương. Tương tự mặt trời Chân Ngã, - qua sự tương tác – tỏa chiếu với cường độ và vẻ huy hoàng luôn luôn lớn hơn. Trên các phân cảnh cao hơn, một tác động hỗ tương tương tự xảy ra trong một giai đoạn ngắn giữa Monad với phản ảnh của nó, tức Ego, nhưng chỉ trong thái dương hệ sắp tới, sự tương tác này sẽ được xúc tiến đến phần kết thúc hợp lý của nó.
Do đó, sau khi bàn rất vắn tắt đến ba chủ đề này, giờ đây chúng ta có thể tiến hành xem xét diễn trình tiếp theo sau của Ego khi tìm cách biểu lộ trong ba cõi thấp. Trong khi xem xét, chúng ta hãy nỗ lực lý giải mọi diễn tiến này bằng các thuật ngữ về năng lượng và luật.
Cổ Luận nói :
“Khi Tia Linh Quang chạm đến bốn tim bấc, và khi Lửa tâm linh dưới tinh hoa tam phân của nó đáp ứng với những gì có thể cháy được, Ngọn Lửa bùng lên. Lúc đầu ánh sáng xuất hiện yếu ớt, nó gần như tắt ngấm, nhưng các tim bấc cháy âm ỉ rồi rực sáng, và sức nóng được giữ lại. Đây là chu kỳ đầu tiên và được gọi là chu kỳ của bánh xe rực sáng (glowing wheel).
Ánh sáng lung linh lớn lên thành ngọn lửa nhỏ và bốn tim bấc cháy lên, nhưng không thiêu rụi, vì sức nóng không đủ. Ánh sáng của ba lửa này tuy nhiên hãy còn nhỏ đến nỗi hang động không được soi sáng. Tuy nhiên, ngọn lửa và sức nóng cơ bản có thể được cảm nhận bởi Đấng đang tiến tới và giám sát. Đây là chu kỳ thứ hai và được gọi là chu kỳ của bánh xe sưởi ấm.
Ngọn lửa nhỏ trở thành ngọn đèn cháy sáng. Lửa cháy bùng lên, nhưng có nhiều khói ở đó, vì các tim bấc cháy nhanh, còn nhiệt đủ cho sự hủy diệt nhanh của chúng. Được phát ra giữa chốn tối tăm, ngọn đèn làm cho sự đen tối dày đặc tự hiện ra, ánh sáng và hơi ấm được cảm nhận. Đây là chu kỳ thứ ba, được gọi là chu kỳ của bánh xe chói sáng.
766 Bốn tim bấc và ngọn lửa xuất hiện như là một và hầu như khói bị xua tan, vì lửa được thấy phần lớn. Chính hang động được soi sáng, mặc dầu ngọn đèn chưa rõ rệt. Chu kỳ thứ tư được gọi là giờ của bánh xe đang cháy.
Chu kỳ cuối cùng khi ngay cả chính ngọn đèn cháy lên, bị hủy diệt do sức nóng mãnh liệt. Đấng giám sát thấy công việc được hoàn thành, quạt lên điểm lửa ở trung tâm và tạo ra một ngọn lửa bất ngờ. Các tim bấc đều trở thành không – ngọn lửa trở nên hoàn toàn. Thế rồi Khoa Học Thiêng Liêng nói điều này được gọi là chu kỳ của “bánh xe bị thiêu hủy”.
Ở đây, trong biểu tượng học bí ẩn được ẩn giấu (được trình bày theo năng lượng và hoạt động phát xạ) toàn bộ bí ẩn về năng lượng Chân Ngã và về xung lực làm cho sự hiện hữu của nó được cảm nhận trong chất liệu của các cõi thấp; đạo sinh nên lý giải các câu trên về mặt đại thiên địa lẫn tiểu thiên địa. Trong mọi biểu lộ, xung lực ban đầu xuất phát từ trạng thái thứ nhất vốn được ẩn giấu ở tâm của hoa sen chân ngã, nhưng Thực Thể ẩn giấu này hoạt động theo thiên luật, và trong các giai đoạn sơ khởi (ba chu kỳ đầu) tiến trình diễn ra theo Định Luật Tiết Kiệm, vốn là định luật của chính vật chất; trong hai chu kỳ cuối, định luật này trở nên hòa nhập (dù không được thay thế, vẫn còn hiệu lực) với Định Luật Hút, vốn là căn bản của Bản Ngã thiêng liêng. Đó là việc không nhận thức được điều đã đưa đến kết quả trong cái lẫn lộn hiện có trong trí của nhiều nhà siêu hình học đối với những gì được biểu lộ trước tiên, dục vọng hoặc ý chí, và đối với sự phân biệt giữa chúng, giữa xung lực với mục tiêu, và giữa bản tính với sự cố tình. Trong các giai đoạn đầu, con người luân hồi theo Định Luật Tiết Kiệm, và mặc dầu trạng thái ý chí nằm ở sau tiến trình, tuy nhiên trong một thời gian dài, chính sức lôi kéo của cảm giác và phản xạ tự nhiên của nó trong tâm thức, tức dục vọng, mới gây ra sự tái sinh. Cảm giác (sensation), vốn là một tính chất trong vật chất hay chất liệu, tức là Bản Ngã trong giai đoạn ban đầu đồng hóa Chính Nó với cảm giác. Sau đó, khi Bản Ngã bắt đầu đồng hóa Chính Nó với Chính Nó, và bắt đầu nhận biết bản chất của Phi Ngã, Định Luật Hút và Đẩy trở nên linh hoạt hơn, lúc đó ý chí hữu thức và mục tiêu có ý thức hiển lộ. Ở đây cần nhớ
767
rằng có một dị biệt sâu xa trong thời gian và không gian giữa Thượng Đế, hay Đại Thiên Địa, với Con Người, tức Tiểu
Thiên Địa. Người thường đi vào luân hồi qua xung lực Chân Ngã, dựa vào ước muốn và dựa vào sự liên hệ giữa trạng thái thứ hai với trạng thái thứ ba hay của Ngã với Phi Ngã. Sau rốt, y sẽ mang lại (qua sự tiến hóa) sự khai mở của trạng thái thứ nhất, và kế đó xung lực Chân Ngã (dựa vào sự thấu hiểu hữu thức của trí tuệ về mục tiêu được nhắm vào) sẽ là yếu tố vượt trội và sẽ biểu lộ qua ý chí hành động rõ rệt. Liên quan với Thượng Đế, giai đoạn thứ nhất đã bị bỏ lại xa đàng sau, và biểu lộ của Thượng Đế được dựa trên ý chí và mục tiêu và dựa vào hoạt động sáng suốt hữu thức. Lý do của việc này là ở chỗ Thượng Đế và Hành Tinh Thượng Đế cũng đang ở trên con đường điểm đạo vũ trụ.
Do đó, dù cho xung lực ban đầu xuất phát từ trung điểm, trước tiên, điều đó không lộ rõ. Vào lúc biệt ngã hóa, đường nét mơ hồ của một hình hài như được mô tả trước đây, đã tạo ra vẻ ngoài của nó trên cõi trí, và (vốn là một điểm, cho đến nay chưa được các đạo sinh nhận ra) điều trở nên hiển nhiên là một giai đoạn trên các phân cảnh trí tuệ đã xảy ra được cho là vượt qua sự chuẩn bị đối với biến cố sắp xảy ra. Qua hoạt động của các Thái Dương Thiên Thần, 12 cánh hoa đã từ từ hình thành, khi điểm lửa điện ở tâm đã bắt đầu làm cho chính nó được cảm nhận cho dù đến nay vẫn không được khu biệt. Kế đó, ba cánh hoa đầu tiên hình thành, và úp vào điểm rung động, hay là “bảo ngọc”, ở dưới ảnh hưởng của Định Luật Hút. Từng cái một, chín cánh hoa khác được hình thành khi các rung động bắt đầu ảnh hưởng đến chất thái dương (solar subtance), ba loại cánh hoa, mỗi loại ở dưới ảnh hưởng của cung này hoặc cung khác trong số các Cung chính; các Cung này, đến phiên chúng, ở dưới ảnh hưởng của lực từ các trung tâm vũ trụ (cosmic centres).
768 Như đã nói trước đây, các cánh hoa này tạo thành nụ hoa, mỗi nụ hoa được xếp chặt. Bên trong các nụ hoa chỉ có các rung động yếu ớt được nhận thấy đang đập nhịp, vừa đủ để chứng tỏ bản thể của nó vốn là một cơ thể sống (living organism). Vòng-giới-hạn có thể được nhận thấy lờ mờ, không rõ ràng, ranh giới bao quanh của hoạt động đối với Tâm Thức sắp đến. Đó là một hình trứng hay hình cầu, và cho đến nay rất nhỏ. Tiến trình thành lập hoa sen Chân Ngã trôi qua thầm lặng từ lúc người thú thấp kém hay là bốn nguyên khí thấp, đạt đến một điểm nơi mà năng lượng (sinh ra bởi con người) có thể bắt đầu làm cho chính nó được cảm nhận trên các cõi trí tuệ. Khi lửa của các thể thấp được chuẩn bị (lửa tam phân của chính vật chất) trở nên phát xạ, dạng mơ hồ này trên cõi phụ thứ ba của cõi trí bắt đầu được tổ chức, theo kết quả của lực kéo xuống của cõi cao hơn bởi cõi thấp hơn, và theo sự đáp ứng của trạng thái Tinh Thần đối với các phát xạ, hay là sức hút, của vật chất. Nhưng hiện tượng biệt ngã hóa theo như chúng ta hiểu, chưa được thực hiện. Diễn trình phóng xạ này về phía cõi thấp và của dòng năng lượng tuôn xuống từ cõi cao, bao hàm một thời kỳ dài trong đó các Solar Angels đang hoạt động trên cõi riêng của Các Ngài và các Pitris thấp hơn cũng đang hoạt động trên cõi của các vị ấy; một nhóm đang tạo ra cái nhân của thể Chân Ngã, còn nhóm kia tạo ra nơi chứa (receptacle) đối với sự sống của Thượng Đế hoặc của Monad trong ba cõi thấp.
Kế đến một thời kỳ ấn định trong sự sống của Hành Tinh Thượng Đế, lúc đó các trung tâm lực của Ngài trở nên linh hoạt theo một cách đặc biệt; điều này trùng hợp ngẫu nhiên với việc lâm phàm của các Monads và sự giáng xuống của các Chân Thần đó vào trong ba cõi thấp. Một tam giác thái dương hệ được tạo thành (vì bao giờ ba cũng tạo ra bảy), và qua việc phóng thích năng lượng tam phân này, công việc của các Solar và Lunar Pitris được phối kết, và ba vi tử thường tồn được dùng riêng bởi Jiva liên hệ, và xuất hiện ở đáy của hoa sen Chân Ngã. Hiện tượng biệt ngã hóa đã xảy ra và công việc nhất-quán (at-one-ment) được hoàn tất; giới thứ tư trong
769 thiên nhiên là một “fait accompli” (“chuyện đã rồi”, “điều đã lỡ”); Monad đã khoác vào chính nó các lớp vỏ vật chất, và các đơn vị hữu ngã thức xuất hiện trên cõi trần. Nếu tất cả những gì mà H.P.B. phải nói liên quan với ba cuộc tuần hoàn đầu của hệ thống Địa Cầu chúng ta được hiểu như liên quan với giai đoạn ngưng đọng/đúc kết (condensation) của thể nguyên nhân trên phân cảnh trí tuệ và khi bao hàm thời gian dẫn đến sự xuất hiện trong cuộc tuần hoàn thứ tư của con người như hiện nay chúng ta có y, thì một ít ánh sáng có thể được đưa ra về vấn đề khó hiểu này.
Các hoa sen Chân Ngã có thể được thấy tụ lại cùng nhau, và mỗi hoa sen đó tạo thành một nhóm. Đến phiên chúng, các nhóm này hợp thành một phần của một hoa sen lớn hơn, nó biểu hiện cho tâm thức của một Thực Thể còn vĩ đại hơn mà “bảo ngọc”của Ngài có thể được tìm thấy trên cõi phụ thứ hai. Đến phiên chúng, tất cả các nhóm này có thể được chia thành bảy nhóm căn bản. Bảy nhóm hay tập hợp các hoa sen Chân Ngã này hợp thành bảy loại tâm thức của các Đấng Cao Cả, các Ngài là bảy trung tâm lực đối với chính Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta. Đến phiên chúng, bảy trung tâm lực này sẽ được tổng hợp trên các phân cảnh cao thành ba trung tâm lực cao hơn, cho đến khi toàn bộ năng lượng và lực mà chúng tiêu biểu được tập trung lại và được tiếp nhận bởi trung tâm tương ứng đối với bí huyệt đầu cao nhất của Hành Tinh Thượng Đế. Mỗi Thái Dương Thượng Đế biểu hiện cho một loại năng lượng vũ trụ. Mỗi trung tâm lực của Ngài biểu hiện cho loại năng lượng này ở một trong bảy biến phân của nó. Đến lượt, mỗi một trong bảy biến phân này biểu lộ qua các nhóm Chân Ngã, và các nhóm này lại được tạo nên bằng các điểm năng lượng mà chúng ta gọi là các Egos (Chân Ngã).
Số lớn các nhóm Chân Ngã này tạo thành một tổng thể bức xạ ăn khớp nhau, dù tất cả đều đa dạng và khác nhau, cả hai đều cốt ở mức phát triển và sắc thái phụ thuộc của chúng. Giống như các cánh hoa trong hoa sen chân ngã của các jivas luân hồi khai mở theo trật tự khác nhau và ở các giai đoạn khác nhau, cũng thế các nhóm chân ngã cũng khai mở cách khác nhau về thời gian và trình tự. Điều này tạo ra vẻ ngoài
770 thần kỳ. Lại giống như Đức Thầy có thể (bằng cách nghiên cứu nhóm hoặc hoa sen lớn hơn mà Ngài là một phần của nó) xác định tình trạng của các đơn vị con người đi vào cấu tạo của nó, cũng thế Hành Tinh Thượng Đế có thể xác định qua sự huyền đồng hữu thức (chú ý thuật ngữ) tình trạng của các nhóm khác nhau qua đó công việc của Ngài phải được thành tựu.
Hiện nay, điều sẽ trở thành hiển nhiên đối với đạo sinh là sự xuất hiện của các Điểm Chân Thần luân hồi trên cõi trần sẽ bị ba điều chi phối :
Trước tiên, bất ngờ dựa vào mục tiêu-ý chí của Sự Sống làm sinh động toàn thể các nhóm trên bất cứ cung phụ nào, hoặc một trong 7 nhóm lớn hơn.
Thứ hai, bất ngờ dựa vào ý chí, bị nhuốm màu bởi dục vọng, của Sự Sống làm sinh động một nhóm Chân Ngã con người.
Thứ ba, bất ngờ dựa vào ước vọng của Ego để biểu lộ ở cõi trần.
Khi sự huyền đồng (identification) của một người với nhóm của y trở nên hoàn thiện, thì xung lực dục vọng trở nên biến đổi cho tới khi sau rốt nó bị thay thế bởi ý chí tập thể. Nếu các sự kiện này được xem xét kỹ, điều sẽ hiển nhiên là các Egos bước vào luân hồi do đó không đơn lẻ mà tùy vào sự thôi thúc tập thể và như thế có tính tập thể. Đây là căn bản của cộng nghiệp (collective karma) và nghiệp gia đình. Dĩ nhiên, sự thôi thúc cá nhân vốn là một phản ứng đối với thôi thúc tập thể, là kết quả của nghiệp cá nhân. Vậy thì, bằng các hình ảnh này, dù cho chúng ta có thể đưa ra một ít ánh sáng vào vấn đề luân hồi này, tuy chúng ta đã nói nhiều để làm tăng mức quan trọng của vấn đề và tính phức tạp của nó. Người thông thường bị ràng buộc vào việc vận dụng bộ óc hồng trần, do đó không thể suy tư bằng các thuật ngữ tập thể.
Sự thôi thúc của Chân Ngã này trong bất cứ nhóm nào hoặc bất cứ đơn vị nhóm nào, làm cho chính nó được cảm nhận như là một nhịp đập, hoặc là khả năng tiếp xúc của năng lượng, phát xuất từ điểm trung tâm. Hoạt động trung tâm này được tạo ra bởi hoạt động của Hành Tinh Thượng
Đế tác động qua các nhóm trong các trung tâm lực của Ngài,
771 và tùy theo trung tâm ở dưới sự kích thích, thế nên các nhóm liên hệ sẽ bị tác động. Ngoài việc đề cập tới sự kiện này, chúng ta không thể bàn rộng thêm, vì đề tài kỳ diệu/to tát (stupendous) và vượt ngoài tầm hiểu biết của con người; đối với con người, chỉ cần hiểu rõ sự tin cậy của y trong vấn đề này dựa vào Hành Tinh Thượng Đế.
Do đó, từ trung tâm của nhóm phát ra một thôi thúc đối với hoạt động đổi mới, hoạt động này trải rộng khắp hoa sen của nhóm cho đến khi các đơn vị vốn đáp ứng với rung động đặc biệt của Cung “được khơi hoạt” về mặt huyền linh. Trong suốt thời gian này (xét về các jivas) trạng thái này của lực là trạng thái của ngôi một và đã chuyển từ các điểm trung tâm này sang các trung điểm khác. Các nhân dương trong mỗi trường hợp đều bị tác động bởi sự tỏa nhiệt ra ngoài của lửa điện hay năng lượng điện. Mỗi điểm liên hệ đáp ứng bằng một sự co thắt sơ khởi được nối tiếp bằng một sự bộc lộ năng lượng ra ngoài hay mở rộng. Mỗi Chủ Thể có liên hệ tiếp tục ngân lên một Linh Từ. Âm này lan rộng thành một thần chú và các Solar Angels ngân lên đáp ứng. Có một điểm lý thú cần ghi nhận ở đây:
a. Trạng thái một tác động qua một Quyền Lực Từ (Word of Power).
b. Trạng thái hai tác động qua các kết hợp thần chú (mantric combinations).
c. Trạng thái ba tác động qua các công thức toán học (mathematical formulas).
Trạng thái một sau khi phát ra Linh Từ, được tượng trưng bằng lửa điện ở tâm của hoa sen, chìm trở lại vào im lặng, và trở nên một trừu xuất đối với đơn vị hữu ngã thức. Công việc đã bắt đầu, rung động cần thiết được thiết lập, lúc đó toàn bộ tiến trình tiếp diễn theo thiên luật. Các Thái Dương Thiên Thần bắt đầu hoạt động của các Ngài, và cho đến khi công việc của các Ngài đã đạt tới một giai đoạn rất cao, trạng thái Tinh Thần phải trở nên một tương ứng với vị Silent Watcher ở trong thể nguyên nhân. Khi các Solar Angels tiếp tục phát ra thần chú (mantram) vốn là nền tảng của công việc các
772 Ngài, các Lunar Pitris đáp ứng với một vài âm (sounds) trong mantram đó (trước tiên, chẳng đáp ứng chút nào với tất cả) và nhờ các âm này tập hợp công thức theo đó công việc của các Ngài phải diễn tiến. Thế nên Linh Từ (Word) là nền tảng của mantram, còn mantram là nền tảng của câu chú
(formula).
Vào mỗi lần luân hồi, các hình hài thanh bai hơn được cần đến và do đó các formulas trở nên phức tạp hơn, và các âm mà câu chú dựa vào đó trở nên đa dạng hơn. Vào đúng lúc, các câu chú được hoàn tất và các Lunar Pitris không còn đáp ứng nhiều hơn với các âm hay các mantrams được xướng lên trên cõi trí. Điều này chứng tỏ giai đoạn hoàn hảo, và cho thấy rằng ba cõi thấp không còn lực kéo xuống đối với điểm Chân Thần (Jiva) liên hệ. Ước muốn đối với biểu lộ thấp và kinh nghiệm thấp không còn tác động nữa, và chỉ có mục tiêu hữu thức được để lại. Bấy giờ, và chỉ bấy giờ Mayavirupa (huyễn thể) đích thực mới có thể được tạo ra; lúc bấy giờ Đức Thầy phát ra mantram cho Chính Ngài, và tạo ra các câu chú bên ngoài (without formulas) trong ba cõi thấp. Cũng vào lúc mà con người bắt đầu bước lên Con Đường Dự Bị, các mantrams của các Solar Angels bắt đầu yếu dần (die down, tắt dần), rồi từ từ (khi các cánh hoa của vòng trong mở ra) Linh Từ đích thực hiện lên cho đến khi ba cánh hoa đang huyền ẩn (enshrining petals) mở rộng và tia linh quang được khai mở. Lúc đó Linh Từ được nhận biết đầy đủ, các thần chú và câu chú không có công dụng thêm nữa. Thế là cái mỹ lệ của hành tinh hệ được khai mở. Khi Hành Tinh Thượng Đế được liên kết, Linh Từ được ngân lên trên các phân cảnh vũ trụ được phân tích thành các mantrams trên các cõi dĩ thái vũ trụ, vì Ngài đang ở vị thế sáng tạo một cách hữu thức trên các mức độ này; tuy nhiên Ngài hoạt động qua các formulas trên các cõi hồng trần trọng trược của hành tinh hệ của Ngài, tức ba cõi nỗ lực của chúng ta.
Trở lại với các jivas luân hồi: khi xung lực mở đầu được đưa ra, rung động nhẹ gợn lên qua các cánh hoa và hoạt động bắt đầu nơi những cánh hoa của các jivas vốn đáp ứng với nốt của Linh Từ đó. Các Thái Dương Thiên Thần điều khiển 773 rung động, và thần chú cho loại Ego đặc biệt đó được bắt đầu. Sau cùng rung động đạt đến vi tử thường tồn hạ trí, ở đế của chồi hoa sen, còn Lunar Pitris được đưa vào hoạt động. Các Ngài bắt đầu phát triển các formulas (câu chú; công thức huyền bí) của các Ngài cho loại hiện thể đặc biệt vốn cần đến.
(f) Hoạt động của các Pitris. Hoạt động kết hợp của Solar và
Lunar Pitris (1) trong tiến trình được theo đuổi bởi Chân Ngã

1 Hoạt động cộng tác của Solar và Lunar Pitris. GLBN II, 258.
1. “Tia lửa (spark) treo từ ngọn lửa bởi sợi Fohat tinh anh nhất.
a. Linh hỏa ba ngọn không bao giờ tắt ....... Triad (Tam Thượng Thể).
b. Bốn tim bấc (wicks) ................................... Quaternary (Tứ Hạ Thể).
c. Sợi Fohat (thread of Fohat) ...... Sinh mệnh tuyến (thread of Life).
2. Tia Lửa chu du qua 7 thế giới của hão huyền (maya).
Về Đại thiên địa (Macrocosmically) ........... 7 hành tinh hệ.
Về hành tinh (Planetary) .............................. 7 dãy của một hành tinh hệ.
Về mặt Tiểu thiên địa (Microcosmically) ... 7 bầu của một dãy hành tinh.
Chú ý và suy nghiệm về :
“… Thất Bộ thiêng liêng máng vào Triad, như vậy tạo ra Thập Bộ (Decad) và các hoán vị (permutations) của nó. Bảy, năm và ba”.
3. Nó dừng lại ở cái thứ nhất, và là một kim loại và một hòn đá; nó trải qua cái thứ hai và xem kia – một cây; cây xoay tít qua bảy hình dạng và trở thành một con vật linh thiêng”. So với GLBN I, 266.
Chú ý dụ ngôn của Kabalah: “Một hòn đá trở thành một cái cây; một cái cây trở thành một con vật; một con vật trở thành một con người; một con người trở thành một vị thần; một vị thần (spirit) trở thành một
Thượng Đế (God). GLBN I, 267.
4. Từ các đặc tính kết hợp của các cái này, Manu, tức Chủ Thể Suy Tưởng (Thinker) được tạo thành. Xem GLBN II, 179, 187.
5. Ai tạo ra y ? Bảy Sự Sống và Sự Sống Duy Nhất.
Xem GLBN II, 268.
Bảy nhóm các sự sống hợp thành ba thể thấp. các Lunar Pitris hay là các tổ phụ của các hình hài vật chất.
6. Ai làm hoàn thiện y ? Vị Lha thất phân.
Ai hợp nhất Tam Bộ Tinh Thần cao với cái ngã thấp ?
luân hồi, trong chủ đề xem xét sắp tới của chúng ta. Chân Ngã, bị dục vọng thúc đẩy tìm kiếm kinh nghiệm hồng trần, đã tạo ra hoạt động ban đầu và một rung động, phát ra từ trung tâm chồi của hoa sen, đi tới các cánh của hoa sen, và tất
774 nhiên là rung động trong thần chất, tức là vật chất được cấp sinh lực bởi các Agnishvattas. Khi các cánh hoa được thúc đẩy vào hoạt động (tùy theo nhóm chịu ảnh hưởng) thì rung động tăng lên, và một âm kép được phát ra. Âm kép này là căn bản của mantram mà dựa vào đó, chu kỳ luân hồi của Ego được tạo ra. Rung động, đang đập nhịp qua vòng cánh hoa bên ngoài (vì hai vòng bên trong và ba cánh hoa nằm giữa, cho đến nay vẫn chưa đáp ứng) đi đến tam giác được tạo thành bằng ba vi tử thường tồn và đang làm sinh động ba loa tuyến thấp, gây nên một đáp ứng yếu ớt trong loa tuyến thứ tư và chừa lại ba loa tuyến cao vẫn còn im lìm. Trong mỗi cuộc tuần hoàn, một trong các loa tuyến được “tạo ra” (“created”), và trong cuộc tuần hoàn thứ tư này (do việc sáng tạo loa tuyến thứ tư) giới thứ tư hay giới nhân loại có thể xuất

a. Các Thần ngũ phân của trí tuệ.
b. Nguyên khí trí tuệ thứ năm.
7. Ai làm hoàn thiện thể cuối cùng ? Cá, tội lỗi và soma.
a. Cá, tội lỗi và soma tổng hợp tạo thành ba biểu tượng của thực thể
bất tử.
b. Cá – biểu tượng của nguyên khí bồ đề, sự sống biểu lộ trên cõi trần. Chú ý hóa thân của Vishnu. Cung Song Ngư, con cá. Jesus ngư phủ của con người.
c. Tội lỗi (sin) – Sự sa đọa của con người, tiến hóa giáng hạ (involution) của Tinh Thần (Spirit).
d. Soma – Mặt Trăng. Công việc của Lunar Pitris, cung cấp các thể.
Xem câu kinh VII, 6. GLBN I, 285.
hiện. Từ ngữ “sáng tạo” (“creation”) phải được hiểu theo nghĩa huyền linh và hàm ý là sự xuất hiện bằng biểu lộ linh hoạt của một hình thức năng lượng nào đó. Chỉ trong cuộc tuần hoàn tới, loa tuyến thứ năm mới trở thành một đơn vị tác động linh hoạt theo một ý nghĩa mà hiện giờ không thể hiểu được.
Các đạo sinh cần nhớ rằng điều này áp dụng trước tiên cho nhân loại được biệt ngã hóa trên bầu này, và cũng vẫn đúng trong dãy trước kia; tuy vậy, các đơn vị vốn tiến vào dãy thứ tư này hay dãy Địa Cầu từ một dãy trước kia, đều hơn hẳn nhân loại của Địa Cầu, và loa tuyến thứ năm của họ được khơi hoạt thành hoạt động có tổ chức trong cuộc tuần hoàn này. Vạn vật trong Thiên Nhiên thường trùng lắp.
Do đó, khi rung động từ Ý Chí trung ương này đến với tam giác nguyên tử, thì đó là một chỉ dẫn rằng toàn bộ hoa sen đang chuyển thần lực của nó hướng xuống, và trong giai đoạn biểu lộ của luồng năng lượng chân ngã đang hướng về bên dưới, tất phải tách xa khỏi cái bên trên. Vào giai đoạn này có rất ít chỗ rẽ của năng lượng chân ngã theo hướng Chân Thần, vì nó chưa tạo ra đủ lực, và cho đến nay không kích hoạt phóng xạ hướng về trạng thái Tinh Thần. Các hoạt động của nó trước tiên thuộc về nội tâm và trụ vào bản ngã đối với phần lớn thời gian, hoặc là được hướng về phía khơi hoạt các
775 vi tử thường tồn, chứ không hướng về việc khai mở các cánh hoa. Điều này cần được ghi nhớ kỹ.
Công việc của các Solar Angels có bản chất tam phân :
1. Hướng rung động về phía tam giác nguyên tử. Ở đây một sự kiện đáng chú ý cần được ghi nhớ. Ba vi tử thường tồn, hay là ba điểm của tam giác, không luôn luôn giữ cùng vị thế tương đối liên quan với trung tâm của hoa sen, mà tùy theo giai đoạn phát triển, các nguyên tử sẽ có vị thế như thế, và thần lực đang chảy vào cũng sẽ được nắm bắt như thế. Trong các giai đoạn trước kia, vi tử thường tồn thể xác là vi tử đầu tiên nhận dòng thần lực chảy vào, chuyển thần lực đó qua hệ thống của nó đến vi tử thường tồn cảm dục và vi tử thường tồn hạ trí. Lực này được lưu chuyển bốn lần quanh tam giác (lực này thuộc về cuộc tuần hoàn thứ tư) cho đến khi vi tử thường tồn hạ trí lại được tiếp xúc và năng lượng trở nên được tập trung trong loa tuyến thứ tư của vi tử thường tồn hạ trí. Lúc đó và chỉ lúc đó các Lunar Pitris mới bắt đầu công việc của các Ngài và bắt đầu việc phối hợp chất liệu vốn sẽ tạo thành thể trí (mental sheath), kế đó tác động với thể cảm dục và sau cùng với thể dĩ thái.
Ở giai đoạn sau trong công cuộc tiến hóa của con người (giai đoạn của người thông thường hiện nay), vi tử thường tồn cảm dục được tiếp xúc đầu tiên, và năng lượng luân lưu qua nó đến hai vi tử thường tồn kia. Ở giai đoạn của người tiến hóa về trí tuệ, vi tử thường tồn hạ trí chiếm vị trí ban đầu. Trong trường hợp này, hiện giờ có thể xảy ra sự chỉnh hợp (alignment, sắp thẳng hàng) của ba thể mà sau này sẽ là một sự kiện được hoàn tất. Loa tuyến thứ năm trong hai nguyên tử hạ đẳng tăng độ rung động của nó. Như chúng ta biết, chỉ có bốn vòng xoắn ốc trong vi tử thường tồn hạ trí và thời điểm mà loa tuyến đó ở trạng thái hoạt động đầy đủ, sự phối kết của antaskamana mới có thể xảy ra. Hiện giờ các thay đổi đang xảy ra trong hoa sen chân ngã, còn các cánh hoa đang khai mở, việc khai mở đó một phần tùy vào rung động trong vòng xoắn ốc (spirillae, loa tuyến) và việc khơi hoạt chúng.
776 Đạo sinh cần nên nhớ rằng ngay khi vi tử thường tồn hạ trí trở thành đỉnh của tam giác nguyên tử, thì một tình trạng được tạo ra, trong đó thần lực trong tương lai sẽ đi vào ba nguyên tử cùng một lúc qua ba cánh hoa đã khai mở của vòng ngoài, do đó, con người đạt đến một giai đoạn rất chắc chắn trong bước tiến hóa. Chiều hướng của lực và áp dụng của nó cho các nguyên tử là công việc của các Solar Pitris. Khi sự tiến hóa tiếp diễn, công việc của các Ngài liên quan đến điều này trở nên phức tạp hơn, vì các cánh hoa đang khai mở và tam giác quay nhanh hơn.
2. Xướng lên thần chú (mantram) vốn sẽ giúp cho 777 cuộc luân hồi có thể thực hiện được.
Mỗi con số trong bộ ba này thay cho :
a. Một chu kỳ biểu lộ của Chân Ngã.
b. Một âm đặc biệt nó sẽ giúp cho Ego thể hiện được
một số cung phụ nào đó của Cung Chân Ngã này.
c. Ba vòng cánh hoa sẽ khai mở theo kết quả của luân hồi.
d. Nhóm đặc biệt của các manasadevas vốn tạo ra thể
nguyên nhân của Chân Ngã có liên hệ.
Do đó các âm của thần chú được dựa trên các con số này, và qua mantram (vốn tăng lên về âm lượng, độ sâu và số các âm có liên quan theo thời gian qua), mãnh lực được hướng dẫn, các cánh hoa liên hệ được kích hoạt, và các Lunar Pitris trở nên hiểu biết về công việc cần làm để chuẩn bị cho bất cứ cuộc luân hồi nào.
3. Tạo thành thể nguyên nhân, những gì cần có để hoàn tất việc đó.
Trong các giai đoạn đầu, công việc này tương đối nhỏ, nhưng khi giai đoạn phát triển thứ ba được đạt đến, và con người đang minh chứng đặc tính và năng lực, công việc của họ nhanh chóng tăng lên, và họ hoàn toàn bận rộn trong việc làm hoàn thiện thể chân ngã, trong việc mở rộng Chân ngã thức, nếu thích sử dụng các thuật ngữ siêu hình. Mọi việc này 777 đều được hoàn thành nhờ vào chất liệu được cung cấp bởi phàm ngã. Khi phàm ngã đó dần dần trở nên phóng phát (radioactive), các phát xạ này được thu hút tới ego dương tính và được hấp thu vào bản thể của nó qua hoạt động của các Solar Angels.
Ba hoạt động này là công việc chính của các Solar Pitris liên quan với con người. Nơi nào có liên hệ đến tập thể chớ không liên hệ đến cá nhân, công việc của họ diễn ra theo lối hiệu chỉnh các đơn vị chân ngã trong các nhóm của họ và giúp các nhóm đó có được tập thể thức, nhưng điều này chỉ có thể xảy ra về phía các giai đoạn tiến hóa cuối cùng khi công việc của nhóm các Agnishvattas diễn ra suông sẻ. Nhóm giữa tức nhóm hợp thành chín cánh hoa luôn luôn là nhóm linh hoạt nhất. Họ hành động liên quan với nhóm thấp, nhóm này là các tác nhân truyền đạt năng lượng trực tiếp cho tam giác nguyên tử, nhận năng lượng đó từ nhóm giữa. Nhiều công việc của họ thì không thể diễn tả ra chi tiết, vì công việc của các Agnishvattas thì mênh mông và phức tạp, và cũng khác nhau trong các hành tinh hệ khác nhau trong một vài chi tiết. Các vị đang hoạt động trong hành tinh hệ Uranus, Neptune và hành tinh hệ Saturn làm việc có phần khác với các vị đang hoạt động trong hành tinh hệ Venus, Vulcan, Mars, Mercury, Jupiter, Địa Cầu và hành tinh hệ bên ngoài Saturn, và các Manasadevas của vòng tuần hoàn nội cũng làm như thế. Ở đây chúng ta nên để ý rằng chúng ta lại có một bộ ba các nhóm, tiêu biểu cho một bộ ba thần lực, và ở đây có một ẩn ngữ. Trong danh sách giữa của các hành tinh hệ, nhóm các Agnishvattas ở giữa và ở dưới đều linh hoạt. Trong các hành tinh hệ khác, nhóm ở trên và nhóm giữa có ảnh hưởng lớn nhất vì các hành tinh này là các hành tinh huyền bí nhất và thiêng liêng nhất đang biểu lộ và chỉ liên quan với các egos đang ở trên Thánh Đạo, và do đó mới có hoạt động-tập thể (group-active). Liên quan với Uranus, Neptune và Saturn, điều này có thể được mong đợi vì chúng là các hành tinh hệ tổng hợp, và mang lại các tình trạng chỉ thích hợp cho các giai đoạn rất tiến bộ. Chúng là các hành tinh “đang thu hoạch” (the “reaping” planets).
778 Nhiều lầm lẫn liên quan đến các Egos hiện có trong trí của các đạo sinh vì họ không nhận thức được rằng (như H.P.B. có nêu ra trong GLBN I, 41, 83) GLBN trước tiên đề cập tới hành tinh hệ Địa Cầu chúng ta, và có ít điều cần truyền đạt liên quan tới các hành tinh hệ khác và các phương pháp của chúng để phát triển ngã-thức. Phương pháp chung trên các phân cảnh trí tuệ thì như nhau, nhưng vì mỗi hành tinh hệ biểu hiện cho một loại thần lực đặc biệt, tính chất đặc thù của huyền lực đó sẽ nhuốm màu mọi tiến hóa của hành tinh hệ đó, và công việc của các Agnishvattas sẽ phù hợp. Không thể trình bày sắc thái đặc biệt nào của Cung vốn được biểu hiện trong hành tinh hệ chúng ta vì đó là một bí ẩn nhất trong các bí ẩn được tiết lộ lúc điểm đạo, nhưng các đạo sinh phải nhớ rằng trong các nguyên tắc cơ bản được đưa ra ở đây, chúng ta đặc biệt không bàn đến hành tinh hệ chúng ta.
Một số lớn điều đã được nói đến trong văn liệu huyền linh học hiện đại liên quan đến tiến trình được noi theo trong việc làm hoàn thiện của các Egos, họ chọn lựa để ở lại với Thánh Đoàn của hành tinh chúng ta và phương pháp phát triển của các Egos đó (qua tình trạng đệ tử - chelaship – đến tình trạng Chân Sư – adeptship). Nhưng gần như không có gì được truyền đạt liên quan đến nhiều egos đã đạt một trình độ tiến hóa cao nào đó trong hành tinh hệ chúng ta và lúc đó họ đã chuyển qua một trong ba hành tinh hệ tổng hợp, trước tiên chuyển sang hệ thống vốn là đối cực với hệ thống chúng ta và từ đó đến hành tinh hệ tổng hợp. Về số lượng, họ đông hơn những người còn ở lại trong hệ Địa Cầu. Cái nào có thể là hành tinh hệ tổng hợp so với cái mà họ được thu hút đến, nó đánh dấu và chỉ ra sự khởi đầu của họ trên một trong số ba vũ trụ đạo. Công việc của các Manasadevas được xúc tiến khắp toàn bộ thái dương hệ, và một luân chuyển thường xuyên xảy ra, và một sự truyền đạt năng lượng thường xuyên và của các đơn vị thần lực biểu hiện cho năng lượng đó, diễn ra khắp toàn thể thái dương hệ. Sự truyền chuyển này có thể xảy ra
779 trong bất cứ hành tinh hệ nào khi giới thứ tư hay giới nhân loại trở nên được kích hoạt (radioactive); điều đó thực sự đánh dấu việc bắt đầu thời kỳ hồng hoang (period of obscuration). Venus là một thí dụ điển hình. Về mặt siêu hình, nó đánh dấu điểm mà các Thượng Đế (the Logoi) bắt đầu tách Chính Các Ngài ra khỏi các thể hồng trần trọng trược của Các Ngài, tức là ra khỏi ba cõi nỗ lực của con người.
Ba nhóm Agnishvattas có liên hệ với cuộc tiến hóa của con người trên mức độ trí tuệ, mỗi nhóm có một chức năng đặc biệt, như chúng ta đã thấy, và nhóm thấp nhất trong ba nhóm, liên quan trước nhất với sự truyền chuyển thần lực hoặc năng lượng cho ba vi tử thường tồn. Trong việc ngân lên hai lần mantram của chân ngã bởi nhóm thấp nhất trong ba nhóm, các thay đổi được mang lại và các Lunar Pitris (chính họ có liên quan với ba thể thấp) đi vào công việc của họ, chìa khóa được các Solar Angels trao cho họ.
Các Lunar Pitris này là hiện thân cho chất liệu của các thể thấp của con người, giống như các Solar Pitris hy sinh chính mình để giúp con người có được thể chân ngã của mình cùng với tâm thức của con người.(1)(2) Các Ngài là vật chất (substance) ở trạng thái lưỡng phân của nó, còn các Lunar Pitris trong các đẳng cấp cao của các Ngài là năng lượng dương của vật chất nguyên tử, còn trong các đẳng cấp thấp của các Ngài, là trạng thái âm (negative aspect) của cùng vật
780 chất. Các Ngài có thể được xem như liên quan với con người, với tư cách ba mặt trong các cấp của các Ngài :
a. Nhóm cao nhất trong tất cả nhận năng lượng từ các cảnh giới cao, và làm linh hoạt (ensouls, cấp sinh khí) cho các loa tuyến của ba vi tử thường tồn.

1 Ego được mô tả như sau trong GLBN: Mỗi Ego là một trụ cột của Linh Quang (Light). Sau khi chọn hiện thể cho mình, nó mở rộng, bao bọc người thú bằng một hào quang akasha, với Nguyên Khí Thiêng Liêng được bố trí bên trong hình hài con người”. GLBN III, 494.
Họ là các Fire Dhyanis, và phóng phát từ Nhật Tâm. GLBN II, 96.
Xem các lời của Luận Giải trên GLBN II, 96.
Họ là các Con của Lửa và tạo thành con người bên trong.
GLBN II, 114. 2 Các Solar Angels (Các Con của Minh Triết) là các thực thể đang mưu tìm tâm thức đầy đủ hơn. GLBN II, 176, 177, 643.
a. Các Ngài có trí năng qua việc tiếp xúc trước kia với vật chất.
b. Các Ngài luân hồi theo luật Karma. GLBN III, 517.
c. Các Ngài phải trở nên minh triết hoàn toàn (all wise).
Đọc kỹ GLBN II, chú thích 243. d. Các Solar Angels là các trí tuệ cao cấp. GLBN II, 259.
e. Các Ngài là các Nirmanakayas. * GLBN II, 266.
f. Các Ngài là các yogis siêu phàm. GLBN II, 257.
* Nirmanakaya là một tên gọi làm bằng hai từ ngữ có nghĩa là “không có xác thân” (“having no body”) và không có liên quan chút gì đến các tính chất luân lý. Đó là một trạng thái tâm thức. Các Huấn Sư vĩ đại (great Teachers) của các cảnh giới Niết Bàn đều được gọi bằng danh xưng này.
b. Nhóm thứ hai, chính là năng lượng dương, năng lượng này thu hút, xây dựng và tạo thành hình hài của con người trên ba cõi.
c. Nhóm thấp nhất là trạng thái âm của vật chất chứa
năng lượng và vật chất của ba thể thấp (sheaths, lớp vỏ).
Liên quan với thái dương hệ, các Ngài biểu hiện cho trạng thái Brahma, nguyên là sản phẩm của các chu kỳ trước, trong đó hoạt động hữu thức được đạt đến, nhưng ý thức tự ngã chỉ đến bởi một số thực thể vũ trụ, các vị này vượt qua chất liệu hữu thức, và đem lại cho nó loại tiềm năng vốn sẽ giúp cho chất liệu nguyên tử - sau nhiều Kalpas – phát triển được ngã thức (self-consciousness). Liên quan đến một hành tinh, các Ngài được gọi bằng một danh xưng huyền bí mà không thể được tiết lộ, vì nó ẩn giấu cái bí mật của hành tinh hệ có trước hành tinh hệ chúng ta, và hành tinh hệ chúng ta là một phiên bản của nó. Có các vị Pitris hoạt động liên quan với một hành tinh và với một thái dương hệ, cũng như có các vị hoạt động liên quan với giới nhân loại. Các Ngài biểu hiện cho năng lượng của vật chất như được biểu lộ trong một thái dương hệ, một hành tinh hệ và một chu kỳ nhân loại.
Liên quan với Địa Cầu hệ đặc biệt của chúng ta, cũng có các vị Lunar Pitris, các Ngài đã đạt được trình độ hoạt động hiện nay của các Ngài trong dãy Nguyệt Cầu. Các Ngài là các nhóm devas, nhưng (khác với các Agnishvattas) các Ngài không trải qua giai đoạn nhân loại; đối với các Ngài việc đó còn phải đạt cho được, và kinh nghiệm hiện nay của các Ngài liên quan với Thánh Đoàn nhân loại, là nhắm vào mục tiêu đó. Nên nhớ rằng đó là một qui luật căn bản trong sự phát triển huyền linh mà bất cứ sự sống nào chỉ có thể cho ra cái
781 mà nó đã thủ đắc được, còn việc có được các thuộc tính khác nhau của tâm thức từ tâm thức của nguyên tử lên đến tâm thức của một Thái Dương Thượng Đế, là kết quả của các chu kỳ lâu dài của thành tựu. Do đó, các Solar Pitris có thể mang lại cho con người ý thức của y; các Lunar Pitris có thể mang lại cho con người ý thức do bản năng (instinctual consciousness) của các hiện thể của y. Đối với toàn bộ của chúng trong mọi giới của thiên nhiên, trên hành tinh này và nơi khác, các Ngài mang lại cho Hành Tinh Thượng Đế và cho Thái Dương Thượng Đế toàn bộ ý thức sắc tướng (form consciousness) lần lượt đối với các thể của các Đấng này. Đây là trường hợp của mọi hành tinh hệ trong thái dương hệ, nhưng trong dãy Địa Cầu, một tình trạng các sự việc đặc biệt đã xảy ra qua sự thất bại của hành tinh, trùng hợp với dãy Nguyệt Cầu; đây là nguyên nhân của sự thăng bằng của các Lực hiện nay trên dãy này. Dãy thứ tư trong mỗi hành tinh hệ đều chứng kiến công việc của các Solar Pitris có liên hệ đến con người đã được bắt đầu. Dãy đó cũng chứng kiến các Pitris với các thể con người hoạt động qua xung lực do các Solar Angels đưa ra. Vật chất của các thể này đã trải qua ba dãy hành tinh và ba cuộc tuần hoàn, và trở nên rung động theo một nốt vốn được điều hợp với …. (chỗ này chỉ có 4 chấm – ND). Nói cách khác, nốt thứ ba có thể được ngân lên một cách rõ ràng và được đi theo một cách đương nhiên bằng nốt thứ năm, hay là the dominant (nốt thứ năm của một thang âm của bất cứ khóa nào – Tự Điển Oxford 1994). Việc ngân lên cùng lúc của nốt thứ ba và thứ năm được căn cứ vào chủ âm (keynote) của hành tinh, tạo ra hiệu quả của một hợp âm (chord) tam phân, hay là âm điệu (tone) thứ tư, một thanh âm (sound) phức tạp. Ở đây tôi bàn đến hợp âm của hệ cấp nhân loại nói chung. Trong hệ cấp này lại có thiên hình vạn trạng, dựa trên hợp âm của hệ cấp, và điều này tạo ra nhiều hợp âm Chân Ngã (egoic chords) và nhiều nốt; đến phiên chúng, các cái này tạo ra biểu lộ ngoại cảnh.
Đến đây, chúng ta có thể vạch ra sự tiến bộ của năng lượng chân ngã khi nó từ các cõi giới trừu tượng đi xuống các vi tử thường tồn. Trên mỗi cõi giới, công việc chia làm ba và có thể được liệt kê như sau :
1. Đáp ứng trong vi tử thường tồn với rung động được các
782 Solar Pitris tạo nên; nói khác đi: đáp ứng của nhóm Lunar Pitris cao nhất với hợp âm của Ego. Việc này dứt khoát là tác động vào các loa tuyến của vi tử, tùy theo giai đoạn tiến hóa của Ego liên hệ.
2. Đáp ứng của vật chất với rung động nguyên tử trên cõi đặc biệt có liên quan. Việc này có liên quan đến nhóm Pitris thứ hai, chức năng của nhóm này chính là gom góp lại chất liệu hài hòa với bất cứ khóa (key) đặc biệt nào, và tập hợp nó chung quanh vi tử thường tồn. Họ làm việc theo Định Luật Thu Hút Từ Điển, và là năng lượng thu hút của vi tử thường tồn. Ở một giai tầng nhỏ bé, mỗi vi tử thường tồn có (so với vật chất của các thể/ lớp vỏ của một người) một vị trí tương đối, so với vị trí mà mặt trời vật chất nắm giữ so với vật chất của thái dương hệ. Đó là nhân của lực hút.
3. Đáp ứng của vật chất âm có liên hệ và việc nắn khuôn vật chất đó thành hình hài mong muốn qua năng lượng kép của hai nhóm Pitris cao cấp. Một vài ý tưởng về sự hợp nhất của công việc ba mặt này đã được đưa ra trong sự phân hóa của chất liệu của bất cứ cõi nào, thành:
a. Vật chất nguyên tử (atomic substance).
b. Vật chất phân tử (molecular substance).
c. Linh khí tinh hoa chất (elemental essence).
Phân hóa này không hoàn toàn chính xác, và một ý tưởng xác thực hơn của quan niệm nằm bên dưới có thể được truyền đạt nếu từ ngữ “năng lượng” thay chỗ của “vật chất và linh khí”. Nhóm Pitris thứ ba này không thực đúng với tên gọi Pitris chút nào. Lunar Pitris xác thực là các Pitris thuộc nhóm thứ nhất và cao nhất, vì các Ngài biểu hiện cho một khía cạnh của ý chí thông tuệ của Brahma hay của Thượng Đế-trong-vật chất (God-in-substance). Nhóm thứ 3, theo nghĩa đen là các Thần Kiến Tạo cấp thấp, và là các lực cố kết mù quáng, lệ thuộc vào năng lượng phát ra từ hai nhóm cao. Về mặt huyền linh, ba nhóm này được chia ra như sau :
783 a. Các Pitris nhìn thấy, nhưng không đạt tới cũng không vận dụng được.
b. Các Pitris đạt tới nhưng không thấy được.
c. Các Pitris nghe, nhưng không thấy cũng không
chạm đến được.
Vì tất cả họ đều có năng khiếu thính giác thần bí, họ có đặc điểm là “Các Pitris có tai mở rộng”; họ hoạt động hoàn toàn dưới ảnh hưởng của thần chú chân ngã. Nếu các phân biệt này được nghiên cứu, thì nhiều điều có thể trở nên rõ rệt liên quan đến một nhóm rất quan trọng các thiên thần hoạt động. Các vị này là một nhóm chỉ biểu lộ như là một tam bộ phối kết (co-ordinated triplicity) trong cuộc tuần hoàn thứ tư để cung cấp các hiện thể cho con người; lý do của điều này tàng ẩn trong karma của bảy Thượng Đế, vì Các Ngài cấp năng lượng cho các Hierarchies thứ tư, thứ năm và thứ sáu. Trong cuộc tuần hoàn trước trong mỗi hành tinh hệ, ba nhóm này đạt được một trình độ tăng trưởng cần thiết nào đó, và biểu hiện cho sự tiến hóa cao nhất của trạng thái vật chất. Chỉ những nguyên tử cao cấp và hoàn thiện nhất trong các nguyên tử vật chất mới tìm cách của chúng đi vào các hiện thể của con người, - những nguyên tử vốn đã là các phần rất cần của các hình hài tiến hóa cao siêu.
(g). Công tác kiến tạo Hình Hài. (The work of Formbuilding). Công tác kiến tạo hình hài này diễn tiến theo các định luật nhất định, vốn là các định luật của chính vật chất; hiệu quả như nhau đối với các hiện thể của con người, của hành tinh và của thái dương. Các giai đoạn khác nhau có thể được liệt kê như sau :
1. Giai đoạn mơ hồ (the Nebulous). Giai đoạn mà trong đó vật chất của lớp vỏ sắp đến bắt đầu tự tách rời dần dần ra khỏi tập hợp chất liệu của cõi giới, và khoác lấy một trạng thái mơ hồ hay trạng thái giống như sữa. Trạng thái này tương ứng với giai đoạn “lửa-sương mù” (“fire-mist”) trong khi tạo lập một thái dương hệ và tạo lập một hành tinh. Các Pitris của Sương Mù lúc bấy giờ hoạt động như là một trong nhiều nhóm phụ của ba nhóm chính.
2. Giai đoạn phôi thai (The inchoat). Sự ngưng tụ đã được tạo ra bên trong, nhưng cho đến nay tất cả hãy còn phôi thai, và tình trạng còn hỗn độn; không có hình hài rõ rệt. “Pitris của Thời Hỗn Mang” chi phối và được đặc trưng bởi năng lượng quá mức, và hoạt động dữ dội, vì sự ngưng tụ trước
784 khi phối kết càng lớn, thì hậu quả của hoạt động càng khủng khiếp hơn. Điều này đúng đối với các Thần Thánh (Gods), đối với con người và đối với các nguyên tử.
3. Giai đoạn lửa (The Fiery). Nội năng của tập hợp các nguyên tử chuyển động nhanh và hiệu quả lẫn nhau của chúng tạo ra một sự tăng nhiệt, và kết quả là sự biểu lộ của một dạng thức gần hình cầu, thế nên hiện thể của mọi thực thể được nhìn thấy về căn bản là một hình cầu, quay tròn (rolling) trên chính nó, hút và đẩy các khối cầu khác. “Pitris của các Khối Cầu Lửa” (“Pitris of the Fiery Spheres”) cộng thêm các công sức của các Ngài đối với những vị thuộc hai giai đoạn trước đây và một giai đoạn rõ rệt được đạt tới. Các Lunar Pitris trên mỗi hành tinh hệ và toàn bộ thái dương hệ, theo sát nghĩa, là các tác nhân linh hoạt trong việc kiến tạo thể vật chất trọng trược của Thượng Đế; các Ngài tiếp năng lượng cho vật chất của ba cõi giới (planes) trong ba cõi thấp (worlds), cõi trí, cõi cảm dục và cõi hồng trần của thái dương hệ. Sự kiện này cần nhiều suy nghiệm.
4. Giai đoạn Nước (The Watery). Quả cầu hay khối cầu chứa tinh hoa chất hơi lửa trở nên đậm đặc hơn nữa và được hóa lỏng; nó bắt đầu cứng lại ở mặt ngoài của nó và vònghạn-định của mỗi lớp vỏ được xác định rõ rệt hơn. Sức nóng của khối cầu trở nên tăng lên và được tập trung ở tâm của khối cầu nơi mà nó tạo ra sự đập nhịp ở trung tâm vốn đặc trưng cho mặt trời, hành tinh và các hiện thể khác nhau của mọi thực thể đang lâm phàm. Đó là giai đoạn tương đồng với giai đoạn của việc khơi hoạt sự sống trong bào thai ở giai đoạn trước khi sinh, và sự tương đồng này có thể được thấy thể hiện trong việc kiến tạo hình hài vốn đang tiếp diễn trên mọi cõi. Giai đoạn này đánh dấu việc kết hợp công việc của hai nhóm Lunar Pitris cao cấp hơn và “Các Pitris của Hơi Nóng Kép” giờ đây đang hợp tác một cách sáng suốt. Quả tim và bộ óc của vật chất của hình hài đang tiến hóa chậm chạp được nối liền. Đạo sinh sẽ thấy thích thú mà vạch ra sự tương đồng của giai đoạn này, tức giai đoạn nước (watery stage), so với vị trí mà cõi cảm dục nắm giữ trong thể hành tinh và thể thái dương hệ, còn sự kết hợp giữa trí óc và trái tim vốn được che giấu trong thuật ngữ “Kama-manas”. Một
785 trong các bí ẩn huyền linh sâu xa nhất sẽ được khai mở cho tâm thức con người khi y giải đáp được cái bí ẩn về việc tạo ra thể cảm dục của mình và việc tạo thành cái khoen vốn tồn tại giữa thể đó với cảm dục quang trong toàn bộ của nó trên cõi cảm dục.
5. Giai đoạn Dĩ thái (the Etheric). Giai đoạn này không bị giới hạn vào việc tạo ra thể xác trong cách phân chia dĩ thái của nó, vì đối phần của nó được tìm thấy trên mọi cõi giới mà con người có liên hệ đến trong ba cõi thấp. Sự cô đọng và đông cứng của vật chất đã tiếp diễn cho đến ngày nay, ba nhóm Pitris hợp thành một đơn vị trong hoạt động. Nhịp điệu đã được thiết lập và công việc được đồng bộ. Các thần tạo tác cấp thấp làm việc một cách có hệ thống, và luật Karma được biểu hiện một cách linh hoạt, vì cần nên nhớ rằng chính karma có sẵn, đang tô điểm, hay là đáp ứng rung động của chính vật chất vốn là phản ứng chọn lọc đối với nốt chân ngã. Chỉ có chất liệu đó vốn được (qua việc sử dụng trong quá khứ) điều chỉnh với một nốt và rung động nào đó sẽ đáp ứng với mantram và với các rung động tiếp theo sau phát xuất từ vi tử thường tồn. Giai đoạn này rất quan trọng vì nó đánh dấu sự luân lưu của sinh lực khắp toàn bộ hiện thể của loại thần lực đặc biệt. Thần lực này được thấy rõ ràng có liên quan với thể dĩ thái, thể này truyền dẫn sinh lực (vital force) hay là prana của mặt trời. Một liên kết tương tự với thần lực có liên hệ được nhận thấy trên cõi cảm dục và cõi trí. “Các Pitris của Nhiệt Tam Phân” hiện đang hoạt động một cách tổng hợp, bộ óc, quả tim và các bí huyệt ở dưới được phối kết. Các vận hà thấp và cao được liên kết, và các vận hà không bị ngăn trở, cho nên việc lưu chuyển của năng lượng tam phân có thể xảy ra. Điều này đúng đối với việc tạo ra hình hài của mọi thực thể, đại thiên địa và tiểu thiên địa. Điều đó được đánh dấu bằng sự hợp tác linh hoạt của một nhóm Pitris khác, gọi là “Pitris của Sinh Lực” (“Pitris of
Vitality”) liên quan với các Pitris khác. Nhóm này đến nhóm
786 khác hợp tác, vì ba thể chính được phân phối trong nhiều thể (bodies) thứ yếu.
6. Giai đoạn Rắn Đặc (The Solid). Đây là giai đoạn cuối cùng trong việc tạo ra hình hài hiện nay, và có nghĩa là lúc mà công việc được làm xong đối với việc tập hợp và nắn tạo vật chất. Phần lớn công việc của các Lunar Pitris giờ đây trở nên hoàn tất. Thuật ngữ “rắn đặc” (“solid”) không chỉ đề cập đến biểu lộ ngoại cảnh thấp nhất, vì một thể rắn đặc có thể thuộc về dĩ thái (ethereal) và chỉ là giai đoạn tiến hóa của thực thể có liên quan sẽ tiết lộ ý nghĩa tương đối của nó.
Tất cả những gì đã được đưa ra ở đây về các giai đoạn tiến hóa của việc kiến tạo hình hài trên mọi cõi giới đều đúng đối với mọi hình hài trong mọi thái dương hệ và hành tinh hệ, và cũng đúng đối với mọi việc kiến tạo hình tư tưởng. Con người luôn luôn tạo ra hình tư tưởng, và đang theo đuổi một cách vô tình cùng phương pháp như là Ego của y theo đuổi trong việc tạo ra các thể của mình, giống như Thượng Đế theo đuổi khi tạo lập thái dương hệ của Ngài, và giống như một Hành Tinh Thượng Đế vận dụng để tạo ra hành tinh hệ của Ngài.
Khi con người nói chuyện, hậu quả là tạo ra một mantram rất đa dạng. Năng lượng được sinh ra như thế đưa vào hoạt động hằng hà sa số các sinh linh nhỏ bé, chúng tiếp tục tạo ra một hình hài cho tư tưởng của mình; chúng theo đuổi các giai đoạn tương tự với các giai đoạn vừa được vạch ra. Lúc đó, con người tạo ra các rung động do mantram này một cách vô tình, và thiếu hiểu biết các định luật về âm thanh và về hiệu quả của chúng. Như vậy y đang tiến hành một việc huyền bí mà y không hề biết. Về sau y sẽ nói ít lại, tìm hiểu nhiều hơn, và tạo các hình tư tưởng chính xác hơn, chúng sẽ tạo ra các hiệu quả mạnh mẽ trên các cõi vật chất. Như thế sau rốt, trong các chu kỳ xa xăm, thế gian sẽ được “cứu độ” (“saved”) chớ không phải chỉ có một ít ở đó, đây.
Về việc kiến tạo các thể thấp (sheaths) của con người, một vài điểm lý thú của việc biểu lộ xảy ra hiện nay có thể được bàn đến, để cho đạo sinh giải đáp các tương ứng trong mối liên hệ với thái dương hệ và hành tinh, đồng thời chỉ nêu ra các chỉ dẫn khái quát mà có thể dùng cho y trong các kết luận của y.
787 Trong mọi công việc tạo hình, một vài cơ hội tối quan trọng xảy ra có liên quan tới Ego thậm chí còn nhiều hơn là chính các thể thấp, mặc dầu tác dụng phản xạ giữa phàm ngã với chân ngã rất chặt chẽ đến mức trở thành hầu như không thể tách rời.
Thời khắc mà trong đó Ego chiếm hữu/chuyên dụng thể thấp. Thời khắc này xảy ra chỉ sau khi loa tuyến thứ tư bắt đầu rung động, và giai đoạn khác nhau tùy theo sức mạnh của Ego vượt qua phàm ngã. Về nhục thân, một tương tự có thể được nhận thấy khi Ego ngừng công việc linh trợ của mình và ở giai đoạn nào đó giữa năm thứ tư và năm thứ bảy, tạo ra sự tiếp xúc của Ego với não bộ xác thịt của đứa trẻ. Một sự việc tương tự xảy ra liên quan với thể dĩ thái, thể cảm dục và thể trí.
Thời khắc mà trong đó năng lượng của Ego được truyền từ một thể thấp đến thể thấp hơn. Người ta thường không nhận ra rằng con đường luân hồi không phải là con đường mau chóng, mà là Ego đi xuống rất chậm và từ từ chiếm lấy các vận thể của nó. Người càng kém tiến hóa, tiến trình càng chậm chạp. Ở đây, chúng ta đang bàn đến thời gian xảy ra sau khi Chân Ngã đã tạo ra hoạt động đầu tiên hướng xuống dưới, chớ không theo thời gian trôi qua giữa hai lần luân hồi. Công việc này diễn ra trên một bình diện vì các mục tiêu của luân hồi đánh dấu một bước ngoặt rõ rệt, và được tiêu biểu bằng một nỗ lực của ý chí trong sự hy sinh, sự chiếm hữu vật chất bằng tình thương, và việc đưa năng lượng của nó vào hoạt động.
Thời khắc mà trong đó loại thần lực đặc biệt mà với nó bất cứ thể đặc biệt nào được truyền năng lượng được chiếm hữu. Điều này đưa thể thấp có liên quan:
a. Đến dưới ảnh hưởng của Cung Chân Ngã,
b. Đến dưới ảnh hưởng của một Cung phụ đặc biệt của
Cung Chân Ngã,
c. Và qua ảnh hưởng đó, -
788 Đến dưới một số ảnh hưởng về thiên tượng,
Đến dưới một số bức xạ hành tinh,
Đến dưới các ảnh hưởng của một vài luồng thần lực, phát ra từ một số chòm sao.
Ba biến cố này có một tương đồng rất lý thú liên quan với công việc của Thượng Đế trong việc tạo ra thể hồng trần của Ngài, tức thái dương hệ, và cũng trong một vài tương ứng vốn có thể được thấy biểu hiện trong các sự kiện được bàn đến ở ba Cuộc Điểm Đạo đầu tiên.
Theo quan điểm của phàm ngã, hai thời khắc quan trọng nhất trong công việc của Chân Ngã luân hồi, là các thời khắc mà trong đó vi tử thường tồn hạ trí được tái-kích hoạt (reenergised) vào hoạt động theo chu kỳ, và trong đó thể dĩ thái được truyền sinh lực. Điều đó liên quan đến những gì vốn nối liền bí huyệt ở đáy xương sống với một điểm nào đó bên trong não bộ hồng trần xuyên qua lá lách. Điều này thuần túy liên quan đến bí quyết sinh lý học.
Bây giờ, chúng ta có thể đề cập đến một điểm rất lý thú liên quan đến nhục thể, do đó bàn đến những gì không được xem như là một nguyên khí, hoặc là trong đại thiên địa hoặc trong tiểu thiên địa. Như chúng ta biết, về thực chất con người là con người trí tuệ và con người cảm dục; kế đó cả hai khoác vào chính mình một lớp vỏ dĩ thái cho các mục đích của công việc bên ngoài. Đó là con người hạ đẳng thực sự, cả hai đều ở trong thể dĩ thái. Nhưng sau đó – với mục đích hiểu biết ngay cả trên cõi thấp nhất – con người khoác vào chính mình một áo khoác bằng da, theo cách diễn tả của Thánh Kinh, và đặt lên (trên thể dĩ thái) loại huyễn hình bên ngoài mà chúng ta biết quá rõ. Đó là mức biểu lộ ngoại cảnh thấp nhất và là “nhà ngục” (“imprisoning”) trực tiếp của con người. Sự chiếm dụng lớp vỏ trọng trược của Chân Ngã lệ thuộc vào một loại karma rất đặc biệt có liên hệ với bốn vị Kumaras, hay là Thiên Đế (Heavenly Men), tức là các Đấng hợp thành Tứ Thể Thượng Đế (logoic Quaternary). Trong các hành tinh hệ có liên quan với Tam Thượng Thể Thượng Đế (logoic Triad) (hay các hành tinh hệ của ba Cung chính yếu hay là các Heavenly Men) việc luân hồi trong nhục thân (dense
789 physical incarnation) không phải là số phận ấn định và con người hoạt động trong biểu lộ thấp nhất của mình ở trong chất dĩ thái.
Việc chiếm hữu thể thấp nhất này được phân biệt theo nhiều cách với việc tiếp cận các thể khác. Chỉ một điều là không có vi tử thường tồn nào được làm cho sinh động. Cõi trần là một phản ảnh hoàn toàn của cõi trí; ba cõi phụ thấp nhất phản ảnh những cõi phụ trừu tượng và bốn cõi phụ dĩ thái phản ảnh bốn cõi cụ thể của cõi trí. Biểu lộ của Ego trên cõi trí (tức là thể nguyên nhân) không phải là kết quả của năng lượng xuất phát từ các vi tử thường tồn như một cái nhân của lực, mà là kết quả của các lực khác nhau, và trước tiên của lực tập thể. Nó được đánh dấu chủ yếu bằng một tác động của một ngoại lực, và bị lạc mất trong các bí mật của karma hành tinh. Điều này cũng đúng đối với các biểu lộ thấp nhất của con người. Đó là kết quả của tác động phản xạ, và được dựa vào lực của nhóm gồm các trung tâm lực dĩ thái, qua đó con người (dưới hình thức một tập hợp các sinh linh) đang hoạt động. Hoạt động của các trung tâm lực này lập nên một rung động đáp ứng trong ba cõi phụ thấp nhất của cõi trần, và sự tương tác giữa cả hai tạo nên một sự gắn bó với, hay là tập hợp chung quanh, thể dĩ thái của các cấu tử của cái mà chúng ta gọi lầm là “chất đặc” (“dense substance”). Loại chất liệu mang năng lượng này được dồn vào trong vùng xoáy của các dòng thần lực xuất phát từ các trung tâm lực và không thể thoát ra. Do đó các đơn vị lực này, chồng chất theo hướng năng lượng chung quanh và trong thể dĩ thái cho đến khi nó tàng ẩn và bị che giấu, tuy vẫn xuyên thấu lẫn nhau. Một định luật không thể tránh được, định luật của chính vật chất, tạo ra điều này, và chỉ những ai có thể thoát được hiệu ứng của sức sống của các trung tâm lực riêng của họ, tức là người chắc chắn là “Các Chúa Tể Yoga” và có thể - qua ý chí hữu thức của chính bản thể của họ - thoát khỏi lực thôi thúc của Định Luật Hút đang tác động trên cõi phụ hồng trần vũ trụ thấp nhất.
Một sự tương đồng lý thú (chính xác trên các đường lối
790 chung mặc dù trong chi tiết không lộ rõ đến thế) hiện có giữa việc kiến tạo antaskarana trên các phân cảnh trí tuệ giữa vi tử thường tồn hạ trí với vi tử thường tồn thượng trí (nhờ đó Con Đường Giải Thoát được đi qua và con người được phóng thích) và việc khai mở vận hà giữa bí huyệt ở đáy xương sống với não bộ và từ đó đến bí huyệt đầu. Nhờ vận hà sau này mà con người thoát ra khỏi nhục thân và đạt được sự liên tục tâm thức (giữa cõi cảm dục với cõi trần). Trong một trường hợp, nhờ hướng thần lực đi đúng, lưới dĩ thái không còn tạo thành một chướng ngại nữa; nó bị hủy diệt và con người có ý thức đầy đủ trong não bộ xác thân về những gì xảy ra trên cõi cảm
dục. Trong trường hợp khác, sau rốt thể nguyên nhân cũng bị hủy diệt qua đúng hướng của thần lực. Nơi đây, chúng ta sẽ không nói đến công việc kiến tạo đặc biệt hình hài nhục thân dựa vào giàn giáo của thể dĩ thái. Nó sẽ được bàn đến một cách đầy đủ trong các sách khác. Chúng ta sẽ chỉ cần đề cập tới hai điểm nữa vốn dĩ được quan tâm đến trong việc xem xét này về công việc của các Lunar Pitris trong việc xây đắp cơ thể con người.
Liên quan đến việc kiến tạo nhục thân, có thể nói rằng, dường như dưới một hình hài con người, có nhiều thứ trong thiên nhiên có hình thập giá (cross) nằm trong hình trứng của các khối cầu khác. Đáng chú ý là với bản chất ngũ phân :
Đầu.
Hai cánh tay.
Hai chân.
Tùy theo vị trí mà con người đảm trách, y được nhìn thấy dưới biểu tượng của thập giá và lúc đó trở thành tứ phân (hai chân được xem như một chi dưới) hoặc là, nếu tách ra, như là ngũ phân, và lúc đó được xem như là biểu tượng của ngôi sao năm cánh. Bản chất ngũ phân này của nhục thân là do sự kiện chỉ có năm trung tâm lực cơ bản thực sự được linh hoạt
791 (active) nơi người bình thường cho tới lần Điểm Đạo thứ ba; mọi việc là thế, và tất cả đều được truyền sinh lực, nhưng chỉ có năm bí huyệt trong cuộc tiến hóa ngũ phân bình thường này là có ưu thế. Do đó, lực phát ra từ năm trung tâm lực này, cuốn vào vật chất trọng trược thành một tập hợp chặt chẽ. Vì hai trong số các trung tâm lực không hoạt động một cách linh hoạt như là năm trung tâm lực kia, một hình trứng (ovoid) không được tạo ra như trong trường hợp các thể dĩ thái, cảm dục, và thể trí. Dạng thức ngũ phân của con người hồng trần là kết quả của năm hướng của các luồng thần lực từ năm trung tâm lực.
Cũng có thể lý thú khi nêu ra rằng sự tương tác của năng lượng của các Solar Pitris và của Lunar Pitris tạo ra một hiệu quả rất rõ rệt trên các nhóm Lunar Pitris cấp thấp, và là một trong các cách mà nhờ đó, cuối cùng các Ngài sẽ đạt đến giai đoạn mà các Solar Pitris đang đạt đến. Điều này, (nếu được con người nhận thức đầy đủ) sẽ đưa con người đến một sự kiểm soát rất cẩn thận về các thể của mình và đến một chú ý chặt chẽ vào hướng mà lực hay năng lượng của y được chuyển vào. Y chịu trách nhiệm cho công việc trợ giúp vào sự tiến hóa của vật chất, vì chính y là một Manasaputra. (Con của Trí Tuệ).
(h). Luân hồi và karma. Khi tóm tắt việc nghiên cứu của chúng ta về tiến trình mà Ego luân hồi theo đuổi, cần nêu ra rằng toàn bộ vấn đề có liên quan triệt để đến năng lượng, và rằng tùy theo vị trí trong cơ tiến hóa của đơn vị thần lực có liên quan, vì thế nên thời gian cần cho tiến trình sẽ ngắn đi, hoặc là ngược lại. Trong các giai đoạn đầu, xung lực mở đầu thì nặng nề và chậm chạp, còn vật chất cần cho các thể thì có mức độ “chậm chạp” một cách tương ứng, nghĩa là, nó có khả năng rung động thấp, còn thời gian trôi qua giữa rung động đầu tiên hướng ra ngoài trên cõi trí và sự phối kết của nhục thân là một sự phối kết lâu dài. Sau đó, rung động trở nên mạnh mẽ hơn, và do đó các hiệu quả được cảm nhận nhanh hơn. Vào cuối cuộc tiến hóa, khi từng con người đang ở trên
Thánh Đạo và đang kiểm soát vận mệnh mình một cách hữu
792 thức, và đang thanh toán hết karma, các thời khoảng chen vào giữa hai lần luân hồi trở nên ngắn hoặc là không có vì con người có thể quyết định vì công việc cần làm và tùy theo sự chú ý của mình để đạt được sự giải thoát ra khỏi hình tướng. Cũng cần nên nhớ rằng theo diễn trình tiến hóa tiếp tục, hoạt động của Chân Ngã làm thức động sự đáp ứng không những từ vật chất trong ba cõi thấp, mà còn từ các cõi giới vô sắc tướng của thái dương hệ. Sau cùng, sự đáp ứng sẽ được cảm nhận trên các cõi Chân Thần. Lúc bấy giờ, sau một thời khoảng cân bằng, hiệu quả của sự nhịp nhàng được hoàn toàn cảm nhận trên các cõi cao, và không còn ở cõi thấp nữa.
Từ ngữ “khoảnh khắc” (“moment”) ở đây được dùng theo ý nghĩa huyền linh để chỉ rõ một giai đoạn thời gian (period of time) và phải được xem như một giai đoạn liên quan đến một ngày hoặc năm của Brahma.
* Một trong các bí ẩn của điểm đạo có liên quan tới việc hiểu rõ các chu kỳ, và liên quan với kỳ gian của chúng và các thời hạn theo sau phải được thẩm định, kỳ gian (thời gian định trước) của chúng được nhận ra, và điều trái ngược của chúng (một pralaya chen vào) được xem xét đúng mức trước khi một người được xem như một nhà huyền linh học thực sự.
a) 100 năm của Brahma … Một thế kỷ huyền linh. Chu kỳ của một thái dương hệ.
b) Một năm của Brahma … Chu kỳ của 7 dãy hành tinh, nơi mà 7 hành tinh hệ có liên quan.
c) Một tuần của Brahma … Chu kỳ của 7 cuộc tuần hoàn trong một hành tinh hệ. Nó có ý nghĩa một dãy.
d) Một ngày của Brahma … Chu kỳ huyền linh của một cuộc tuần hoàn.
e) Một giờ của Brahma … Liên quan đến các sự việc giữa dãy hành tinh.
f) Một phút của Brahma … Liên quan đến các trung tâm hành tinh, và do đó đến các nhóm Chân Ngã.
g) Một khoảnh khắc Liên quan đến một nhóm Chân Ngã, (moment) của Brahma … và liên quan của nó với tổng thể.
Đây là các chu kỳ thời gian lớn, và khi ý nghĩa của các chu kỳ đó được hiểu rõ, thì nhiều điều mà hiện nay còn khó hiểu
793 sẽ được khai mở. Cho đến nay, các con số thực sự chỉ được đưa ra cho các điểm đạo đồ, các con số trong GLBN như là 100 năm của Brahma, làm ngạc nhiên/ gây ấn tượng (strike) cho đa số người bậc trung, nhưng phải luôn luôn nhớ rằng khi xem xét các con số mà chẳng hạn như một hành tinh hệ có liên quan, nhiều phạm vi/tầm xa (latitude) phải được cho phép có đối với karma hành tinh cá nhân, và cá tính (idio syncrasy).
Các điểm sau đây đáng được xem xét khi dựa vào chủ đề này và bàn đến một vài yếu tố lý thú.
Tất cả các Rishis của hành tinh đều không “thọ” (“longlived”) như nhau, theo ý nghĩa huyền linh của thuật ngữ, và bảy vị Hành Tinh Thượng Đế của bảy hành tinh thánh thiện đều ở các giai đoạn tiến hóa khác nhau; do đó, đáp ứng rung động của các Ngài khác nhau, tạo ra các hiệu quả hay thay đổi trong thời gian.
Ba hành tinh hệ chính yếu (Uranus, Neptune và Saturn) cho đến nay, chưa nhận được sự kích thích đầy đủ nhất của chúng, và sẽ không nhận như vậy cho đến khi “năng lượng của bảy hành tinh thánh thiện” đã được chuyển qua cho chúng. Do đó các con số, về kỳ gian và sự tồn tại của chúng đều không có giá trị.
Các con số về các hành tinh liên quan tới “nội tuần hoàn” (“xin xem lại giải thích về “inner round”, ở trang 211 của bộ luận này – ND) khác về “độ dài thời gian”, nhưng không khác về vị trí không gian với các con số của các hành tinh khác.
Các con số thực sự liên quan tới bất cứ hành tinh hệ nào và hoạt động huyền linh của nó, đều không thể biết chắc được bởi người nào không thể được tin tưởng với ý nghĩa của các thể hành tinh khác (đối với số lớn) bên trong vòng hạn định của thái dương hệ. Toàn bộ lĩnh vực thái dương hệ đầy các thể hành tinh như thế, được đặc trưng bởi cùng các đặc điểm như là 7 và 10, và mỗi một trong các đặc điểm đó, ở một mức độ nào đó, đều có ảnh hưởng lên tổng thể. Do đó các con số không thể được xem như là cuối cùng mãi cho tới khi ảnh hưởng của các thể hành tinh thứ yếu vào các láng giềng trực tiếp của chúng được biết rõ, và phạm vi của bức xạ hành tinh của chúng đã được lượng định. Có nhiều hơn 115 thể hành tinh như thế nên được tính đến, và tất cả đều ở các giai đoạn
794 xung lực rung động thay đổi. Chúng có các quỹ đạo rõ ràng, chúng xoay trên trục của chúng, chúng lôi cuốn (draw) ‘sự sống’ và chất liệu của chúng từ mặt trời, nhưng do sự tương đối tầm thường của chúng, chúng chưa được xem như là các yếu tố có tầm quan trọng. Thái độ trí tuệ này sẽ thay đổi khi nhãn thông dĩ thái trở thành có thực và thực tại về sự hiện tồn của thể dĩ thái của mọi vật đang biểu lộ sẽ được các khoa học gia nhận biết. Sự kiện này sẽ được minh chứng vào cuối thể kỷ, và trong phần đầu của thế kỷ tới, một cuộc cách mạng trong giới thiên văn học sẽ xảy ra, nó sẽ đưa đến kết quả trong việc nghiên cứu về “các hành tinh dĩ thái”. Vì các thể này là các cơ quan của năng lượng, thấu nhập hình hài rắn đặc, việc nghiên cứu về sự tương tác của năng lượng mặt trời, và việc “cống hiến và thu nhận” của các thể hành tinh (planetary bodies) sẽ khoác vào một ý nghĩa mới. Một số thể hành tinh (cả lớn lẫn nhỏ) đều là các “tác nhân thu hút” (“absorbers”), các thể khác là “các tác nhân phát xạ” (“radiators”), trong khi một số đang ở trong giai đoạn biểu lộ hoạt động song đôi, và đang được “chuyển hóa” (“transmuted”). Tất cả các trường hợp này đều cần được xem xét bởi vị điểm đạo đồ, kẻ đang quan tâm đến các chu kỳ.
Các con số cũng phải được tính toán khi ảnh hưởng trên các hành tinh của cái được gọi là “tiểu hành tinh” (“asteroids”) được nhận biết. Tiểu hành tinh này lớn hơn là khoa học công truyền cho đến giờ đã thừa nhận nhiều, nhưng ý nghĩa của việc này sau rốt phải được giải thích bằng các thuật ngữ chỉ năng lượng và trên các phân cảnh dĩ thái.
Một yếu tố khác trong việc tính toán cũng phải được xem xét là hậu quả của các mặt trăng khác nhau trên bất cứ hành tinh hệ nào và ý nghĩa đích thực của bầu thứ tám liên quan với chất đặc. Về mặt huyền linh, mỗi mặt trăng là một “điểm hư hoại” (“point of corruption”) hay là những gì đang dần dần biến mất trong các chất hơi độc hại. Cách chuyển hóa hình hài đã tiếp diễn trong trường hợp của chúng tới một điểm mà tất cả những gì tiêu biểu cho năng lượng thiết yếu đã lìa bỏ, mọi sự sống, mọi sự sống thái dương đã tiêu tán, không một tàn tích nào của năng lượng sự sống còn lại, và những gì được nhìn thấy chỉ là sự hư hoại của thể xác,- một hư hoại vốn đang tiếp diễn trên các phân cảnh dĩ thái cũng
795 như trên cõi trần. Sự hư hoại của mặt trăng có một hậu quả tệ hại cho tất cả những gì tiếp xúc với nó, cũng to tát như là một xác thân mục rửa trên mặt đất gây ra cho môi trường chung quanh nó. Về mặt huyền linh, thật là “gớm ghiếc, ghê tởm” (“offensive”). Điều này sẽ được hiểu rõ hơn khi thể dĩ thái của mặt trăng chúng ta được nghiên cứu. Khi mặt trăng trở nên nhỏ qua tiến trình tan rã, ảnh hưởng của nó trên Địa Cầu sẽ bị giảm hạ một cách tương xứng, và giai đoạn này sẽ đi song song bằng một tình trạng tự do nhiều hơn, thoát khỏi sự thôi thúc tệ hại của các con của nhân loại. Các tình trạng tốt lành hơn trong các con vật sẽ là một kết quả khác vượt lên
mọi sự, và việc chấm dứt của những gì độc hại trong giới động vật. Vào lúc đạt đến cuộc tuần hoàn thứ bảy, hậu quả tác hại của mặt trăng lúc đó (gần như sẽ thực sự biến mất) sẽ bị kết thúc. Trong cuộc tuần hoàn thứ năm, con người sẽ tìm ra cách để hóa giải bất cứ các hậu quả còn lại nào qua sự thành tựu của khoa học và sự hiểu biết về các âm thanh và mantrams cần thiết, như vậy nhiều tà lực sẽ bị xóa bỏ. Mặt trăng dĩ thái được bao gồm trong các nhận xét này. Hiệu quả lớn nhất của các tình huống mặt trăng được thấy thể hiện hầu hết trong khủng khiếp và thống khổ hiện nay trong giới động vật (Thánh kinh Roman, 8. 22).
Một yếu tố thêm vào trong cách tính chu kỳ nằm ở tác dụng của các tinh tú và chòm sao sau đây trên thái dương hệ chúng ta và trên bất cứ hành tinh hệ đặc biệt nào trong thái dương hệ :
a. Đại Hùng tinh (Great Bear, Gấu Lớn).
b. Tiểu Hùng tinh (Little Bear, Gấu Bé).
c. Bắc Đẩu (Pole Star), nhất là nơi có liên hệ với hành
tinh chúng ta.
d. Chòm sao Rua (Pleiades, sao Tua Rua).
e. Chòm sao Capricorn (Nam Dương, hay Ma kết).
f. Draco.
g. Sirius (Thiên Lang).
h. Các chòm sao và ngôi sao khác của Vòng Hoàng Đạo (Zodiac).
796 Các bí mật ẩn giấu trong chiêm tinh học bí truyền, và cho đến khi vấn đề năng lượng tác động qua thể dĩ thái, lúc đó tính phóng xạ và sự chuyển hóa của tất cả các thể từ một trạng thái thấp thành trạng thái cao mới được hiểu rõ hơn, cái bí ẩn thực sự của “ảnh hưởng” của các thể khác nhau này vào với nhau sẽ vẫn ở giai đoạn hiện nay của nó – một bí ẩn chưa được tiết lộ. Nếu hiệu ứng phát xạ của một người hoặc của một nhóm con người lên trên mỗi người, cho đến nay là một điều không được nhận biết thực sự theo quan điểm của khoa học thực hành, cũng thế, ảnh hưởng huyền linh của các hình thức lớn lao này trên mỗi cái khác vẫn không được hay biết. Khoa học nhận biết một số ảnh hưởng, dẫn đến và có khuynh hướng đưa đến mạch lạc chung của vũ trụ, giống như các định luật chung của trật tự xã hội trong con người được hiểu rõ về mặt lý thuyết, nhưng cái nhận thức khoa học thực sự về các bức xạ năng lượng (energy-radiations) phát ra từ các thể dĩ thái của tất cả các mặt trời và nhóm mặt trời này, và từ tất cả các hành tinh và nhóm hành tinh này được hiểu rất ít. Hoạt động nguyên tử của chúng được nhận biết, nhưng lĩnh vực (department) hiện tồn của chúng, vốn tìm thấy sự tương ứng của nó nơi “từ lực động vật” trong con người, lại ít được biết tới, trong khi ngay cả yếu tố mạnh hơn của bức xạ từ lực của các thể cảm dục của chúng thì hoàn toàn không được tính ra cũng không được thừa nhận. Mọi yếu tố này phải được thừa nhận vì trong bất cứ nghiên cứu nào về yếu tố thời gian và các chu kỳ, tri thức huyền môn thực sự không nhận được bằng cách nghiên cứu các con số do nơi hạ trí. Nó xảy đến theo kết quả của trực giác và được khơi dậy lúc điểm đạo.
Tất cả những gì đã được nêu ra ở đây, có thể cũng được áp dụng (dù theo một ý nghĩa rất hạn chế) cho Ego và các chu kỳ của nó, và ngoài ra, cũng như các nghiên cứu khác hơn là nghiên cứu thuần “cá nhân” sẽ đi vào các chu kỳ thời gian của nó. Ảnh hưởng của các nhóm khác và của các đơn vị khác, các hiệu quả của bức xạ từ các tia sáng khác, và của vài loại thần lực cho đến nay chưa được tiết lộ, và như vậy, nằm ngoài việc nghiên cứu của chúng ta, có liên quan với việc xuất hiện của nó, với kỳ gian biểu lộ của nó, việc qui nguyên 797 sau đó của nó, và thời gian đi vào ngơi nghỉ (pralayic interval) của nó. Vì Ego có các chu kỳ thời gian tương ứng với các chu kỳ của Brahma, và “100 năm” của nó cũng như “777 lần luân hồi” của nó có một tương ứng thái dương, thế nên các nhóm Egos cũng khác nhau về thời gian, giống như các hành tinh hệ đều tương tự trong sự tiến hóa nhưng lại khác nhau khi xét về các chu kỳ có liên quan của chúng. Định Luật Chu Kỳ tuy độc tôn, nhưng vì nó được dựa vào cách thôi thúc ban đầu và dựa vào tiếng đập nhịp nhàng của “quả tim trung tâm” hay là “mặt trời trung tâm” của bất cứ cơ cấu nào (thái dương hệ, hành tinh hệ, dãy hành tinh, nhóm chân ngã hoặc sự sống chân ngã cá biệt) mà bản thể thực sự hay “gia đình” của bất cứ cơ cấu nào như thế phải được xác định trước khi các đánh giá về chu kỳ có thể được đưa ra với bất cứ hy vọng gần đúng nào. Điều này giải thích tại sao H.P.B. tìm cách nhấn mạnh vào nhu cầu nghiên cứu “dòng dõi đẩu tinh” (“astral family”) và tính chất di truyền theo huyền linh (occult heredity) của bất cứ người nào, vì trong đẩu tinh có thể tìm thấy manh mối đối với “gia đình hoặc nhóm chân ngã”. Với manh mối này, bấy giờ đạo sinh có thể xác định các đặc tính của nhóm mình trên các phân cảnh chân ngã, vị trí của nó trong số các nhóm chân ngã khác, và sau rốt tia sáng hay trung tâm nhóm của y. Theo thời gian qua, việc nghiên cứu thực sự về tính di truyền và sự truyền chuyển huyền bí sẽ khai mở, và toàn thể kết cấu của tư tưởng được xây dựng chung quanh các diễn đạt hiện đại như :
a. Liên hệ huyết thống hay ràng buộc huyết tộc.
b. Di truyền thể chất (physial heredity).
c. Cách thế di truyền (atavism, cách một đời hoặc hai đời
mới truyền lại cho con cháu; hồi tổ, lại giống – ND).
d. Hôn nhân giữa các chủng tộc khác nhau (inter-
marriage).
e. Các liên hệ gia đình.
f. Đơn vị gia đình.
g. Bạn tâm giao (soul mates, bạn tri âm, tri kỷ).
h. Ly dị và nhiều thuật ngữ khác,
sẽ được chuyển di lên các cõi cao, và sẽ được nhận biết và sử dụng liên quan với các liên hệ về linh hồn. Cho đến nay, chúng chỉ là một nhận thức yếu ớt trên cõi trần của một vài
798 liên hệ bên trong, vốn đang mưu tìm đáp ứng bên ngoài. Khi mọi tập hợp ý tưởng được diễn dịch bằng các thuật ngữ về lực và năng lượng, bằng các thuật ngữ về hút và đẩy, hoặc là các đáp ứng rung động của các đơn vị với nhau, và của toàn thể các đơn vị đối với các nhóm khác, chúng ta sẽ có việc làm sáng tỏ nhiều vấn đề và một sự dễ hiểu của sự sống. Con người sẽ trở nên trung thực với các hội nhập tập thể của họ, và việc phân sai nhóm và kết đôi sai lầm, nhờ hiểu biết, sẽ từ từ biến mất.
Giờ đây, chúng ta có thể bắt đầu nghiên cứu karma trong mối liên hệ của nó với tác động của luân hồi. Như chúng ta biết rõ, luật karma là luật kỳ diệu nhất trong thái dương hệ và là một luật mà đối với người trung bình, không thể hiểu được về bất cứ mặt nào, vì, nếu truy nguyên dọc theo nguồn cội trung tâm của nó và nhiều phân nhánh của nó, sau rốt người ta đạt tới vị thế mà các nguyên nhân xảy ra trước thái dương hệ phải được bàn đến, và quan điểm này có thể chỉ được hiểu một cách có ích bởi một điểm đạo đồ cao cấp.
Thực ra, định luật lớn này có liên quan, hay là được dựa vào các nguyên nhân có sẵn trong cấu tạo của chính vật chất và dựa trên sự tương tác giữa các đơn vị nguyên tử, dù cho chúng ta dùng cách diễn đạt này liên quan đến một nguyên tử của vật chất, một con người, một nguyên tử hành tinh hoặc một nguyên tử thái dương.
Chúng ta cũng có thể diễn tả nó bằng cách nói rằng trạng thái ý chí hoặc xung lực mở đầu trước tiên là những gì tạo ra nguyên nhân, vốn là chính nguyên nhân. Bao giờ cũng nên nhớ rằng nguyên nhân bao hàm/gắn chặt với (involves) ý tưởng về nhị nguyên, nghĩa là những gì khởi xướng (initiates) và những gì đồng thời được tạo ra bởi sự khởi xướng đó (the initiation). Hai ý tưởng này gắn liền nhau, tuy thế, dù sao đi nữa, với hàm ý trừu tượng nhất của nó, ý tưởng thứ hai đừng nên được xét – theo nghĩa đen như là một hiệu quả (effect); hiệu quả thực sự gắn chặt với ý tưởng thứ ba. Một nhận thức nào đó về vấn đề có thể được góp nhặt bằng việc xem xét về hiện tượng bao giờ cũng liên quan đến nguyên nhân lưỡng nguyên khởi đầu và hiệu quả bên ngoài của nó:
799 a. Với hoạt động song đôi, tinh thần – vật chất tạo ra vũ trụ biểu lộ (objective universe).
b. Khi được tiếp xúc, lửa điện và lửa do ma sát tạo ra lửa thái dương; nó chớp lóe lên thoát khỏi chỗ tăm tối , tuy một tăm tối vốn mạnh mẽ với năng lượng.
c. Ý chí – ham muốn là nguyên nhân của luân hồi; ý-
muốn-tồn-tại (will-to-be) khi tác động lên vật chất (mà tính chất chủ yếu của nó là ham muốn và đáp ứng với cảm giác) tạo ra hình hài mà qua đó Sự Sống trung tâm (central Life) hay là Sự Hiện Tồn (Existence) tìm cách biểu lộ.
d. Các ý tưởng (ideas) và chất–tư tưởng (thought –
matter) cùng nhau tạo ra các hình-tư tưởng (thought-forms).
Nếu đạo sinh xem xét kỹ các điểm này, điều sẽ trở nên hiển nhiên là y không thể làm được gì nhiều hơn là nghiên cứu các hiệu quả (effects) được tạo ra bằng việc đặt kề nhau các cặp đối ứng; y không thể tách các cặp đó riêng ra trong trí của mình và bàn đến chỉ một mình Tinh Thần hay bàn đến chỉ một mình Vật Chất, chẳng khác nào nguyên tử của vật chất trong xác thân con người có thể tự tách ra khỏi xác thân đó và xem chính nó như là độc lập với các ảnh hưởng của hình hài. Mọi nguyên tử đều luôn luôn bị kiềm chế bởi các yếu tố theo sau, giống như một con người trong cơ thể của một Hành Tinh Thượng Đế, và một Hành Tinh Thượng Đế bên trong Tổng Thể vĩ đại hơn của Ngài cũng sẽ bị kiềm chế bởi cùng các nguyên tắc căn bản :
Ảnh hưởng và tính chất của cơ quan hay đơn vị mà trong đó nó tìm được một vị trí. Nơi nguyên tử con người, điều này hàm ý mãnh lực hay ảnh hưởng của nhóm con người.
Ảnh hưởng của sự sống của toàn bộ thể xác mà bất cứ nguyên tử nào là một phần hợp thành của nó. Nơi nguyên tử con người, điều này có nghĩa là ảnh hưởng của trung tâm lực đặc biệt trong đó nhóm chân ngã của y có một vị trí, và loại năng lượng mà nó biểu hiện.
Ảnh hưởng sự sống của thể dục vọng hay thể cảm dục, môi giới nghiệp quả mạnh nhất cần phải được xem xét.
800 Trong nguyên tử con người, điều này bao hàm ảnh hưởng của ba trung tâm lực trong cơ thể của Hành Tinh Thượng Đế vốn tạo thành bất cứ “tam giác lực” đặc biệt nào và vốn có liên quan nhiều với việc giải thoát của các nhóm Egos tách khỏi biểu lộ.
Các ảnh hưởng của sự sống của thể trí hay của loại nguyên khí vốn áp đặt lên nguyên tử tính chất của hoạt động trong hình hài, vốn chi phối phản ứng của nguyên tử đối với sự sống thuộc nhóm của nó, và nó giúp cho tính chất của sự sống của nó được biểu lộ. Trong nguyên tử con người, điều này liên hệ đến các nguyên nhân vốn gắn liền với một Cung của con người, hoặc là theo nghĩa đen, ảnh hưởng của sự sống của Hành Tinh Thượng Đế khi Ngài hành động như một Sự Sống hữu ngã thức trên cõi riêng của Ngài, khi Ngài thể hiện các kế hoạch của Chính Ngài, và tất nhiên đưa vào hoạt động các tế bào của cơ thể Ngài đơn thuần như là các biến cố nơi mà Ngài (sự sống trung ương căn bản) có liên hệ.
Xung lực sự sống của Chủ Thể Suy Tưởng đang tác động trong thể nguyên nhân – mặc dù một sự trừu xuất lớn lao hay là Sự Tuyệt Đối nơi mà sự sống tế bào có liên hệ - tuy thế thể này lại là một yếu tố mạnh mẽ và tích cực trong việc ấn định nhịp điệu lên nguyên tử trong mọi thể. Trong nguyên tử con người, việc này mang lại ảnh hưởng của sự sống của Thái Dương Thượng Đế, vì chính Sự Sống đó ấn định tiết điệu lên mỗi nguyên tử con người trong thái dương hệ, đồng thời hành xử như thế qua sự tác động của vật chất và tính chất có sẵn của nó, tức là cảm giác (sensation).
Trong các tư tưởng này, chúng ta chỉ tiến gần đến cách nghiên cứu karma theo khía cạnh mới, và cố gắng chỉ ra các cội nguồn của các “ảnh hưởng” vốn tác động vào mọi sự sống nguyên tử.
Nguyên tử cũng bị sự kiềm chế bởi chính “esse” của nó, tức là bởi chính bản thể cố hữu của riêng nó hay là rung động (vibration) của riêng nó, vốn là tính chất của chính vật chất trước khi nó được tập hợp (aggregated) thành một thái dương hệ, và chính hoạt động rung động đã được tạo ra qua
801 sự sống có tiết điệu của một thái dương hệ trước. Điều này cũng đúng đối với tất cả các nguyên tử thuộc mọi đẳng cấp, nhưng chỉ liên quan tới nguyên tử của vật chất và tới một mức độ nào đó với nguyên tử của con người, bằng bất cứ cách nào có thể có được để xác định các nguyên nhân mở đường. Chỉ khi nào cái bí mật của Đại Hùng Tinh được tiết lộ
và được nhận biết theo đúng thực chất của nó, và chỉ khi nào ảnh hưởng của Chòm Sao Rua được hiểu rõ, và ý nghĩa thực sự của tam giác vũ trụ được tạo thành bởi :
a. Bảy Thánh Hiền (Rishis) của Đại Hùng Tinh,
b. Bảy Hành Tinh Thượng Đế của thái dương hệ chúng
ta,
c. Bảy Pleiades hay Sisters (Sao Rua hay Tỉ Muội Tinh Đẩu), được tiết lộ, thì karma của bảy hành tinh thánh thiện sẽ vẫn không được biết rõ. Tất cả những gì mà chúng ta có thể thấy, đều là cách thể hiện của nó trong thái dương hệ. Sự phức tạp của toàn bộ vấn đề sẽ lộ rõ khi nảy sinh trong trí ý tưởng không những chắc chắn cả ba nhóm này hợp thành một tam giác vũ trụ, mà bên trong tam giác đó, nhiều tam giác nhỏ hơn phải được nghiên cứu. Bất luận một trong bảy Rishis với một trong bảy Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta và một trong bảy sao Tỉ Muội có thể hợp thành một tam giác phụ, và như vậy tất cả đều phải được nghiên cứu.
Về karma của Thái Dương Thượng Đế, vấn đề thậm chí còn trừu tượng và khó hiểu hơn nữa. Nó nằm ẩn giấu – không phải trong bảy chòm sao – mà là trong ba chòm sao vốn liên quan đến ba thể của Phàm Ngã của Ngài và bản thân chúng chỉ là các biểu lộ của một Sự Sống Vĩ Đại ở trung tâm vượt ngoài ý niệm và nhận thức của chúng ta. Nó liên quan đến biểu lộ trong thời gian và không gian của Vũ Trụ Thượng Đế (One About Whom Naught May Be Said), còn mối liên hệ của đấng Vĩ Đại này đối với Thái Dương Thượng Đế tìm được (finds) một tương đồng yếu ớt trong mối liên hệ của Hành Tinh Thượng Đế đối với con người, đơn vị con người. Không lợi ích gì khi quãng diễn ý tưởng này thêm nữa.
Chúng tôi chỉ tìm cách nhấn mạnh sự kiện về sự tương thuộc của mọi nguyên tử và hình hài, nhấn mạnh vào thực tại của sự đa dạng đối với các ảnh hưởng vốn đang tác động lên
802 tất cả những gì đang biểu lộ, và để hướng sự chú ý đến sự kiện về karma của vô số thời đại đã qua, các thiên kiếp và giai đoạn không thể biết, trong đó các xung lực mở đầu được tạo ra chúng vẫn còn tồn tại, và những gì mà Thượng Đế, con người và các nguyên tử vẫn đang phát triển và loại bỏ. Các ảnh hưởng hoặc các rung động, đang khơi dậy sự đáp ứng, tác động lên mọi hình hài và nguyên tử trong thái dương hệ, và tất cả những gì có thể được xác định về chúng là cái mà họ có khuynh hướng phát triển tâm thức thuộc loại nào đó, đặt vào một vài tiết điệu tùy theo sự đáp ứng hữu thức đó, và tạo ra các tập hợp hay hoạt động tập thể.
Việc giải thoát khỏi karma mà các đạo sinh huyền học tương lai nói đến một cách rất nhanh nhẩu, sau rốt chỉ là việc phóng thích (freeing) của nguyên tử ra khỏi vấn đề cá nhân của chính nó (vấn đề về sự đáp ứng với cảm giác đơn nhất) và sự chấp nhận hữu ý của nó trong sự đáp ứng và công việc của tập thể. Việc đó đánh dấu việc tách ra của nguyên tử thuộc con người ra khỏi tiết điệu được đặt vào con người bởi “các ảnh hưởng” thấp kém, các ảnh hưởng này đang tìm con đường tiếp cận của chúng qua các hiện thể của con người, tức là các nguyệt thể (lunar bodies), và việc sẵn sàng thừa nhận sau đó của sự thôi thúc do ý chí của tổng thể lớn hơn của con người, tức là sự sống của nhóm chân ngã – một trung tâm trong cơ thể hành tinh (planetary body). Nó liên quan đến việc kiểm soát nguyên tử, nhưng cũng liên quan đến việc lệ thuộc có chủ ý vào karma của Hành Tinh Thượng Đế. Con người không còn là nô lệ của nhịp điệu của vật chất thuần túy nữa, mà kiểm soát nó trong ba cõi nỗ lực của y; tuy nhiên y vẫn còn bị kiềm chế bởi karma tập thể của trung tâm hành tinh, bởi ảnh hưởng, sự sống và xung lực rung động của trung tâm đó. Cùng một việc như thế cũng có thể được khẳng định đối với Hành Tinh Thượng Đế và với Thái Dương Thượng Đế.
Để kết thúc, chúng ta có thể diễn tả cùng ý tưởng bằng các thuật ngữ về lửa, nên nhớ rằng từ ngữ chỉ hạn chế và ràng buộc tư tưởng, và rằng lý do chính cho cách tiếp cận này là mang lại bằng minh họa trước con người một vài khía cạnh của ý tưởng chính yếu.
“Lửa điện, hay xung lực ý chí” liên kết với “Lửa do masát” tạo ra ánh sáng hay “lửa thái dương”. Lửa điện là lực
803 hay năng lượng thuộc loại nào đó, và do đó trong chính nó, về căn bản là một bức xạ (emanation, phóng xuất). “Lửa do cọ xát” là vật chất với tính chất nhiệt như đặc tính chủ yếu của nó, đó là tiềm nhiệt (latent heat) hay là sensation (?). Do đó cả hai ý tưởng này đều dồn tới ý tưởng về nhị nguyên tính (duality). Một phóng xuất/bức xạ phải có cội nguồn xuất phát của nó và nhiệt (hơi nóng) chỉ là kết quả của sự cọ xát, và tất nhiên là nhị nguyên (dual). Cả hai quan niệm này bao gồm các sự kiện xảy ra trước thái dương hệ từ lâu, và giấu kín trong Thiên Trí (Universal Mind). Tất cả những gì mà chúng ta có thể xác định một cách khoa học là bản chất của những gì được tạo ra bằng sự phỏng định của chúng, và đây là lửa thái dương hay là ánh sáng. Các ý tưởng này có thể làm sáng tỏ phần nào ý nghĩa của số năm, xét về mặt nội môn. Lửa điện, vốn là một phân thân, về bản thể có khái niệm lưỡng nguyên, và lửa do cọ xát cũng thế; chúng cùng nhau tạo ra lửa thái dương, và như thế là cái thứ năm huyền bí.
Điều sẽ hiển nhiên là khi một người nói đến karma, thì y đang bàn đến một điều gì đó rộng lớn hơn là sự tương tác của quả và nhân bên trong lĩnh vực của công việc thường lệ riêng tư của chính y. Trong tất cả mọi việc, y bị chi phối bởi các nguyên nhân xuất phát trong toàn bộ các kiếp sống vốn đang tạo thành nhóm chân ngã của y, bởi sự tập hợp của các nhóm tạo thành một cánh hoa trong một trung tâm lực của một Hành Tinh Thượng Đế, bằng thần lực hay mục tiêu luân lưu qua một tam giác của các trung tâm lực, và bởi năng lượng sự sống hay là ý chí có mục tiêu của Chính Hành Tinh Thượng Đế. Sau cùng, y bị chi phối bởi ý chí của Thái Dương Thượng Đế khi ý chí này tự biểu hiện trong hoạt động mở đầu. Vượt qua điều này chúng ta đáng lẽ tiến tới một cách khó khăn, nhưng nói thế cũng đủ chứng tỏ rằng mọi nguyên tử con người đều ở dưới sự chi phối của các lực ở ngoài nhận thức của chính y, các lực đó đang lôi cuốn y và các người khác vào các tình huống vốn không có lối thoát, và không thể hiểu được đối với y.
Không lúc nào mà điều này được minh họa rõ hơn là trong trường hợp chiến tranh vừa qua và trong các tình hình thế giới ngày nay; đây là các nhân và quả có nguồn gốc của chúng trong hoạt động đổi mới của một tam giác hành tinh nào đó, và trong mức rung động được Hành Tinh Thượng Đế
804 của chúng ta thiết lập trên dãy nguyệt cầu, và nó đã có một khởi đầu yếu ớt trong một thái dương hệ trước. Rung động này trước tiên tác động vào một số nguyên tử và nhóm nguyên tử trong cơ thể Ngài, chính yếu là các nguyên tử tạo thành giới nhân loại và giới động vật, tạo ra các hậu quả tệ hại lộ rõ mà chúng ta đã đang chứng kiến. Hiệu quả năng lượng của Ngài to tát đến nỗi giới thực vật có phần nào (dù không nhiều lắm) bị tác động, còn giới khoáng chất được cảm thấy ảnh hưởng theo một cách đáng ngạc nhiên, nhiều hơn là giới thực vật và hầu như nhiều bằng giới động vật. Nơi đây, chúng ta có một bối cảnh về các trường hợp ngoài sự kiểm soát của con người và thậm chí sự kiểm soát tập thể, nó minh
họa cho sự bất lực của con người trong một số tình trạng và nó dùng mang lại các yếu tố mà theo bề ngoài không liên hệ với rung động cá biệt của giới thứ tư.
Tuy vậy, bên trong các giới hạn, con người chắc chắn đang “kiểm soát vận mệnh mình” và có thể khởi xướng hành động vốn tạo ra các hiệu quả có thể được y nhận ra như là tùy thuộc vào hoạt động của y theo một đường lối đặc biệt. Ở một mức độ thu nhỏ, y rõ ràng là lặp lại phương thức của Thượng Đế trên một giai tầng rộng lớn hơn và như vậy trở thành người có quyền quyết định (arbiter) vận mệnh của chính mình, kẻ tạo ra kịch tính của chính mình, kiến trúc sư của chính ngôi nhà của mình và là kẻ khai mở (initiator) các sự việc của chính mình. Dù cho y có thể là nơi gặp gỡ của các mãnh lực ngoài sự kiểm soát của y, tuy thế y có thể sử dụng mãnh lực, hoàn cảnh và môi trường đồng thời có thể chuyển đổi chúng, nếu y muốn thế, cho các mục đích của riêng y.
Việc thể hiện định luật karma trong cuộc đời riêng của một người có thể được chia thành ba phần nhỏ, trong mỗi phần một loại năng lượng khác nhau được biểu hiện, tạo ra các hiệu quả trên các thể thấp và cao của một bản thể nhất định.
Trong các giai đoạn ban đầu, khi con người hầu như không hơn một con thú, thì hoạt động rung động của các nguyên tử trong ba thể của y (và trước tiên là thể thấp nhất) chi phối mọi hoạt động về phía y. Y là nạn nhân của hoạt động rung động của vật chất hồng trần, và đa số những gì xảy ra đều là kết quả của sự tương tác giữa Ego với biểu lộ
805 thấp nhất của nó, tức xác thân (physical sheath). Trung tâm của sự chú ý là thể xác, còn hai thể tinh anh hơn chỉ đáp ứng thật yếu ớt. Sự thôi thúc của Chân Ngã chậm chạp và nặng nề, và rung động được hướng đến việc tạo ra đáp ứng giữa ý thức về Chân Ngã với các nguyên tử của xác thân. Vi tử thường tồn hồng trần thì linh hoạt nhiều hơn là hai vi tử kia. Đó là trạng thái của “lửa do ma sát”, lửa này được thổi bùng lên bằng hơi thở của Chân Ngã nhắm tới ba mục tiêu :
a. Phối kết thể xác.
b. Tăng sức chịu đựng của lưới dĩ thái, một công việc chỉ được tiến hành đến mức mong muốn vào giữa căn chủng
Atlantis.
c. Đưa một vài bí huyệt thấp đến giai đoạn biểu lộ cần thiết.
Độ nóng của các nguyên tử trong các thể tăng lên trong giai đoạn này, và sự sống nguyên tử của chúng được phối kết, trong khi tam giác giữa ba vi tử thường tồn trở thành một sự kiện có thể chứng minh và không phải là một dấu hiệu yếu ớt.
Trong giai đoạn hai, định luật karma hay ảnh hưởng của karma (qua tác động phản xạ không tránh khỏi do hoạt động ngày càng tăng của các thể tạo ra) chuyển sự chú ý của nó vào việc thể hiện dục vọng và sự chuyển hóa của nó thành hoài bão cao siêu. Qua kinh nghiệm, các cặp đối ứng được Chủ Thể Suy Tưởng nhận ra, và Chủ Thể này không còn trở thành nạn nhân của các thôi thúc rung động của thể xác của mình nữa; yếu tố chọn lựa sáng suốt trở nên lộ rõ. Con người bắt đầu phân biệt giữa các cặp đối ứng (cặp đối hợp), bao giờ cũng chọn trong các giai đoạn ban đầu những gì lôi cuốn nhất đối với bản chất thấp của y và những gì mà y tin tưởng sẽ đưa y tới vui thích. Trung tâm chú ý của Ego là thể cảm dục, và thể đó trở nên kết hợp chặt chẽ với thể xác đến nỗi cả hai hợp thành một biểu lộ duy nhất của dục vọng. Ở giai
806 đoạn này, thể trí vẫn còn tương đối bất động. Bản chất bác ái của Ego đang ở trong tiến trình phát triển, và giai đoạn này là
giai đoạn dài nhất trong số ba giai đoạn. Nó liên quan đến sự tiến hóa của các cánh của hoa sen chân ngã và liên quan với sự pha trộn của lửa thái dương và lửa do ma sát. Tác động phản xạ giữa cái thấp với cái cao trong giai đoạn trung gian này tạo ra ba hiệu quả, điều đó sẽ được nhìn thấy, nếu nghiên cứu cẩn thận để truyền đạt nhiều thông tin liên quan đến việc thể hiện luật karma. Ba hiệu quả này là :
1. Sự phát triển của vi tử thường tồn cảm dục với sự kích thích đồng thời của vi tử thường tồn xác thân, và như vậy có liên hệ đến sự phát triển và sự tiến hóa của hai thể thấp.
2. Sự phối kết của con người tam phân nhờ sinh lực/sinh khí (vitality) của thể cảm dục và ảnh hưởng của nó trên thể trí và thể xác. Đây là giai đoạn kama-manasic (thể cảm dục có pha lẫn chút ít trí tuệ _ND), và vì thể này chỉ là phạm vi hoàn hảo trong phàm ngã tam phân, đó là thể mạnh mẽ nhất vốn có được cho nó thể hiện (giống như thái dương hệ đang làm) trạng thái tâm, hay là bản chất bác ái phôi thai, mà chính là mục tiêu của cuộc tiến hóa của đại và tiểu thiên địa phải phát triển.
3. Sau rốt khai mở chín cánh hoa Chân Ngã trong ba giai đoạn.
Do đó, khi thực thi các thiên luật , chúng ta phải chú ý rằng, trước tiên con người là nạn nhân của các xung lực của chất trọng trược của trạng thái Brahma, và như vậy lặp lại một cách nhanh chóng diễn trình tiến hóa của thái dương hệ có trước; trong giai đoạn thứ hai, con người là nạn nhân của ham muốn, hay của bản chất bác ái của chính mình.
Trong giai đoạn thứ ba, định luật karma tác động qua bản chất trí tuệ của con người, và khơi dậy nơi người này nhận thức về thiên luật và một nhận thức của trí tuệ về nhân và quả. Đây là giai đoạn ngắn nhất nhưng cũng là giai đoạn
807 mạnh mẽ nhất; nó liên quan đến sự tiến hóa của ba cánh hoa bên trong đang che chở ”bảo ngọc”, và năng lực của chúng để hé mở vào đúng lúc những gì còn ẩn giấu. Nó bao hàm giai đoạn của người tiến hóa và của người trên Thánh Đạo. Liên quan với gia đình nhân loại, nó bao hàm nửa đầu của cuộc tuần hoàn tới, trước cuộc phân chia lớn. Lửa điện đang bắt đầu làm cho các bức xạ của nó được cảm nhận, và ý chí hoặc mục tiêu của Ego bây giờ được nhận thức rõ rệt trên cõi trần. Ba vi tử thường tồn hợp thành một tam giác ánh sáng, và các cánh của hoa sen đang nhanh chóng khai mở. Khi ý chí và mục tiêu của Ego được con người hiểu rõ trong tâm thức tỉnh thức của y trong não bộ xác thân, bấy giờ luật karma trong ba cõi thấp đang trở nên được hóa giải và con người sắp giải thoát. Con người đã trút sạch rung động ban đầu, và không có sự đáp ứng nào bên trong các thể của y với ba loại rung động của ba cõi thấp nữa; y thoát khỏi ba giới và giới thứ tư.
d. Về việc tạo ra Thể Nguyên Nhân.
Bây giờ chúng ta tiến vào một trong các phần thực hành trọng yếu nhất của Luận về Lửa, bàn về việc tạo ra thể nguyên nhân tức là thể biểu lộ của Ego. Việc đó có liên quan đến việc của các Solar Angels, hay là Chủ Thể hữu ngã thức thực sự, tức con người. Nếu đạo sinh có bất cứ cách nào hiểu được khuynh hướng tổng quát của các trang trên, thì bấy giờ y sẽ ở vào một tình trạng trí tuệ sẽ giúp cho y giải thích tất cả những gì được nói đến bằng các thuật ngữ chỉ về năng lượng, hay là của bất cứ hoạt động rung động nào vốn được tạo ra bởi ba giai đoạn chính của hiện tượng điện, sự hợp nhất vốn dĩ tạo ra biểu lộ thiêng liêng được gọi là Con Người, hay là, khi các đơn vị tập hợp lại được xét, tức là giới nhân loại.
(a) Các nhận xét mở đầu. Chúng ta đã nghiên cứu phần nào về cấu tạo của các Tam Giác, hay Pitris, qua sự hy sinh, các Ngài phú cho con người ý thức tự ngã (self-consciousness), kiến tạo thể Chân Ngã (egoic vehicle) của con người bằng
808 tinh hoa của chính các Ngài. Chúng ta đã đề cập vắn tắt đến các Lunar Pitris, các thần này phú cho con người các thể và các nguyên khí thấp của con người, qua đó năng lượng của các Solar Lords có thể làm cho chính nó được cảm nhận, và bây giờ chúng ta sẽ tiếp tục nghiên cứu ba điều :
Thứ nhất, ảnh hưởng của năng lượng cao trên các thể thấp, khi nó từ từ làm cho chính nó được cảm nhận trong diễn trình tiến hóa, và như vậy đồng thời “cứu nguy” (“redeem”) con người theo một nghĩa huyền linh, và cũng “nâng cao” (“elevates”) các Lunar Pitris.
Thứ hai, ảnh hưởng của năng lượng này trên cõi trí trong việc phát triển và khai mở hoa sen chân ngã.
Thứ ba, việc đưa vào hoạt động của Sự Sống trung ương bên trong hoa sen. Hoạt động này biểu lộ theo hai cách : a/ Theo nhận thức của con người trên cõi trần trong vòng bộ óc phàm trần của bản chất thiêng liêng của con người, dẫn đến biểu lộ tất nhiên của tính chất thiêng liêng (divinity) trên cõi trần trước khi giải thoát.
b/ Theo hoạt động hữu thức của Ego cá biệt trên cõi trí
trong sự hợp tác với nhóm hoặc các nhóm của nó.
Trong trường hợp thứ nhất, chúng ta có ảnh hưởng của sự sống chân ngã trên các thể thấp của nó, và sự kiểm soát sau đó của chúng, còn trong trường hợp thứ hai, chúng ta có sự tự - nhận thức (self-awakening) của đơn vị chân ngã trên cõi riêng của nó; trong trường hợp thứ ba, chúng ta có một nhận thức tập thể, hay là việc tiến nhập của đơn vị vào trong tâm thức của Hành Tinh Thượng Đế.
Sẽ không thể làm gì nhiều hơn là nêu ra các đường lối phát triển chung rộng lớn. Vấn đề tiến hóa của chân ngã không thể được nhận thức đầy đủ cho tới khi sau điểm đạo, nhưng bây giờ nó được nhận thấy bởi các Đức Thầy trên khía cạnh nội tâm mà các nguyên khí chính đã được đưa ra hoàn hảo xét về sự phát triển không mong đợi (vì sự khai mở của thế kỷ này) của hai môn học lớn :
809 Khoa Điện Học. Các tìm tòi của các nhà khoa học đã được khích lệ lớn lao bởi việc khám phá ra radium, vốn là một hiện tượng điện thuộc một loại nào đó, và bằng sự hiểu biết mà sự khám phá này đã đưa tới chất phóng xạ; sự phát triển của nhiều phương pháp sử dụng điện lực cũng được trợ giúp rất nhiều. Khoa học này đã đưa con người tới ngưỡng cửa của một khám phá vốn sẽ cách mạng hóa tư tưởng thế gian về các vấn đề này, và sau rốt nó sẽ giải quyết một phần lớn vấn đề kinh tế, như vậy giúp cho nhiều người hơn được rỗi rãi để phát triển và hoạt động về trí tuệ. Việc mở rộng tri thức này có thể được tìm ra trước khi một trăm năm mươi (150) năm xảy ra.
Khoa tâm lý học. Lý thuyết về tâm phân (psycho-analytic) (dù tỏ ra có sự tiến bộ) tuy thế nó đang dẫn tới một hướng sai lầm, có thể đâm ra tai hại cho sự phát triển cao của nhân loại trừ phi bản chất đích thực của “tâm” (“psyche”, tinh thần) được minh giải. Khi tâm trí quần chúng đã hiểu, dù phớt qua, các sự kiện được trình bày vắn tắt sau đây, khuynh hướng giáo dục quần chúng, mục tiêu của khoa chính trị và mục tiêu của nỗ lực kinh tế và xã hội sẽ khoác lấy một chiều hướng mới và tốt đẹp hơn. Các sự kiện này có thể được tóm tắt trong các nguyên lý sau :
I. Con người về cơ bản là thiêng liêng.(1) Điều này luôn luôn được nói đến qua các thời đại, nhưng cho đến nay vẫn là một thuyết lý hoặc niềm tin dễ chịu, chớ không phải là một sự kiện khoa học được chứng minh, mà cũng không được mọi người tuân giữ.
810 II. Con người thực sự là một phần nhỏ (fragment) của Thiên Trí (Universel Mind) hay là linh hồn thế giới (GLBN I, Lời Nói Đầu, trang 42 – 44) và với tư cách là một phần nhỏ, như vậy là kẻ chia sẻ (partaker) vào các bản năng và tính chất của linh hồn đó, vì nó biểu lộ qua gia đình nhân loại. Do đó sự hợp nhất chỉ có thể xảy ra trên cõi trí. Nếu đúng, điều này phải đưa đến khuynh hướng phát triển bên trong não bộ xác thân một nhận thức hữu ý về các kết nạp tập thể trên cõi trí, một nhận biết hữu ý về các liên hệ tập thể, các lý tưởng và mục tiêu, cũng như một biểu lộ hữu thức về tính liên tục đó của tâm thức vốn là mục tiêu tiến hóa vào lúc này. Việc đó sẽ thúc đẩy tạo ra sự chuyển đổi của tâm thức nhân loại từ cõi trần đến cõi trí và việc tháo gỡ tiếp theo sau qua “hiểu biết,

1 Mỗi con người là một hiện thân (incarnation) của Thượng Đế. GLBN III, 449. So sánh với GLBN II, 541; GLBN III, 475 và các lời trong Thánh Kinh: “Ta nói, Các Con là Thượng Đế”. “Các Con không biết rằng các con là Thánh Điện của Chúa Thánh Thần sao ?”
Không một Being (Thực Tại, Thực Thể, Sự Sống, Thể Tính) nào có thể trở thành một Thượng Đế mà không trải qua chu kỳ con người.
GLBN II, 336.
Do đó con người giống Thượng Đế ở chỗ con người tượng trưng cho các cặp đối ứng (pairs of opposites), tốt và xấu, sáng và tối, nam và nữ v..v… Con người là một nhị nguyên (duality).
Con người cũng tượng trưng cho Thượng Đế ở chỗ Thượng Đế là một tam nguyên (triplcity), vốn là ba trong một, và một trong ba.
Xem GLBN II, 553.
Chân Thần thiêng liêng được hàm ý bởi con người. GLBN II, 196.
bác ái và hy sinh” về mọi vấn đề hiện hữu. Điều này sẽ đưa tới việc thoát khỏi rối loạn ở cõi trần hiện tại. Điều đó phải đưa đến việc giáo huấn quần chúng về bản chất của con người và sự phát triển các quyền năng tiềm tàng bên trong con người – các quyền năng vốn sẽ giải thoát con người khỏi các giới hạn hiện tại của y, và vốn sẽ tạo ra trong gia đình nhân loại một sự từ khước chung về các tình trạng hiện tại. Khi con người ở khắp nơi nhận biết chính mình và nhận biết lẫn nhau, như các đơn vị hữu ngã thức thiêng liêng, trước tiên hoạt động trong thể nguyên nhân nhưng vận dụng ba hiện thể thấp chỉ như một phương tiện tiếp xúc với ba cõi thấp, chúng ta sẽ có việc cai trị, chính trị, kinh tế và trật tự xã hội được tái điều chỉnh dựa vào các đường lối lành mạnh, sáng suốt và thiêng liêng.
III. Với bản chất thấp và với ba hiện thể của mình, con người là một tập hợp các sự sống thấp kém, tùy thuộc vào y vì bản chất tập thể của chúng, vì kiểu hoạt động của chúng và
811 sự đáp ứng tổng hợp và – qua năng lượng hay hoạt động của Solar Lord – chính các sự sống đó sau này sẽ được nâng lên và phát triển tới giai đoạn con người.
Khi cả ba sự kiện này được hiểu rõ, lúc đó và chỉ lúc đó chúng ta mới có được sự hiểu biết đúng và chính xác về bản chất con người.
Thêm nữa, nhận thức này sẽ mang lại ba thay đổi trong quan điểm của thời đại.
1. Việc tái điều chỉnh kiến thức y học của con người, đưa đến kết quả là hiểu biết xác thực hơn về thể xác, về cách điều trị thể đó, và về cách bảo vệ nó, và như vậy tạo ra một hiểu biết chính xác hơn các định luật về sức khỏe. Mục tiêu của thầy thuốc lúc bấy giờ sẽ là tìm ra chính trong sự sống của một người những gì đang ngăn không cho năng lượng của chân ngã tràn ngập mọi thành phần của bản thể y; để tìm ra những đường lối tư tưởng nào đang bị mê đắm, nó gây nên tình trạng thiếu năng động của trạng thái ý chí thường hay đưa đến hành vi sai trái; để xác định cái gì trong thể tình cảm đang ảnh hưởng đến hệ thần kinh, và như thế ngăn chận dòng năng lượng từ các cánh hoa bác ái của hoa sen chân ngã (qua vi tử thường tồn cảm dục) đến thể cảm dục, và từ đó đến hệ thần kinh; để tìm ra cái gì là chướng ngại trong thể dĩ thái đang ngăn chận nguồn prana thích hợp, hay nguồn sinh lực thái dương đến mọi nơi của cơ thể.
Chính yếu là trong những ngày sắp đến, các thầy thuốc sẽ nhận thức rằng trong thể xác có thể xảy ra các tình trạng sai lầm bên trong. Điều này đã được cân nhắc phần nào, nhưng toàn bộ vấn đề sẽ vẫn chỉ là một lý thuyết tuyệt vời (dù là một lý thuyết không thể chối cãi được xét về các thành tựu của các nhà khoa học về tinh thần và của các nhà trị liệu bằng đức tin khác nhau) cho đến khi bản chất thực sự của Ego, cấu tạo của nó, các năng lực của nó và lĩnh vực ảnh hưởng của nó được hiểu đúng.
Sự khai mở này sẽ đến khi các nhà y học chấp nhận giáo
812 lý này như là một giả thuyết tạm đủ, và lúc đó bắt đầu ghi nhận, thí dụ các mãnh lực của sức chịu đựng được bộc lộ bởi các linh hồn vĩ đại của địa cầu, và năng lực của các linh hồn đó để hoạt động với sức ép cao và để vẫn gần như miễn nhiễm với bệnh tật cho tới khi (vào cuối một kiếp sống dài đầy hữu ích) Ego có chủ ý chọn cách “thoát khỏi” (“die-out”) kiếp sống hồng trần. Việc đó sẽ đến khi giới y khoa tập trung vào tác động phòng ngừa, thay bằng ánh nắng, ăn chay, áp dụng các định luật về rung động từ điện và sinh lực đối với cách dùng thuốc hiện nay và các hoạt động giải phẫu. Bấy giờ sẽ đến thời kỳ mà những người tinh tế và hoàn hảo hơn sẽ xuất hiện trên địa cầu. Cũng thế, khi các nhà y học biết được bản chất của thể dĩ thái và công việc của lá lách với vai trò là một điểm tập trung cho các phóng phát prana, kế đó là các nguyên tắc và các phương pháp vững chắc sẽ được đưa vào, nhất định chúng sẽ xóa bỏ các bệnh như là lao, suy nhược, kém dinh dưỡng và các bệnh về máu huyết và thận. Khi các bác sĩ hiểu rõ ảnh hưởng của các xúc cảm trên hệ thần kinh, họ sẽ xoay sự chú ý của họ vào việc cải thiện các tình trạng chung quanh, và sẽ nghiên cứu các ảnh hưởng của các khuynh hướng tình cảm trên các lưu chất của cơ thể, và trước tiên trên các trung tâm thần kinh lớn và cột sống. Khi sự liên lạc giữa thể xác với các thể tinh anh là một sự thật được thiết lập trong các giới y khoa, lúc bấy giờ việc chữa trị chính xác đối với bệnh mất trí, các ám nhập (obsessions) và các tình trạng trí tuệ không như mong muốn sẽ được hiểu rõ hơn, kết quả sẽ thành công hơn. Sau cùng, khi bản chất của lực Chân Ngã, hay của năng lượng được nghiên cứu, và chức năng của não bộ với vai trò là kẻ phát ra ý định của Chân Ngã được hiểu rõ hơn, kế đến sự phối kết của toàn bộ bản thể con người sẽ được nghiên cứu, đồng thời đau ốm, suy nhược và bệnh tật sẽ được truy nguyên đến nguyên nhân đích thực của chúng và sẽ được đối trị qua nguyên nhân chớ không chỉ qua hậu quả nữa.
2. Toàn bộ giới tư tưởng trong xã hội sẽ tự áp dụng vào sự hiểu biết về bản chất tình cảm của nhân loại, vào các liên
813 quan tập thể có dính líu đến và vào sự tương tác giữa các cá nhân với các cá nhân khác, giữa các nhóm với các nhóm khác. Các mối liên hệ này sẽ được lý giải một cách khôn khéo và rộng rãi, rồi con người sẽ được dạy về trách nhiệm của mình đối với các sinh linh kém tiến hóa hơn mà con người làm cho linh hoạt. Điều này sẽ tạo ra một hướng đi đúng của mãnh
lực cá nhân và cách dùng lực đó cho việc làm ổn định, phát triển và việc tinh luyện vật chất của các hiện thể khác nhau. Con người cũng sẽ được dạy về nghĩa vụ rõ rệt của họ theo thiên luật đối với các con cháu của riêng cá nhân họ. Điều này sẽ mang đến việc che chở của đơn vị gia đình và việc phát triển kỹ năng của nó; nó cũng sẽ tạo ra việc loại bỏ các phiền toái về hôn nhân và sự hủy bỏ các lạm dụng thuộc các loại khác nhau, rất phổ biến hiện nay trong nhiều nhóm gia tộc.
Trách nhiệm đối với cộng đồng mà một người được đặt vào trong đó cũng sẽ được nhấn mạnh. Con người sẽ được chỉ dạy ý nghĩa huyền bí thực sự của bổn phận công dân – một bổn phận công dân được dựa vào các liên hệ của nhóm chân ngã, định luật luân hồi và ý nghĩa thực sự của luật karma. Họ cũng sẽ được dạy về trách nhiệm quốc gia và vị trí của cộng đồng trong quốc gia, và trách nhiệm của quốc gia trong sự thân hữu của các quốc gia. Sau rốt con người sẽ được dạy về trách nhiệm của họ đối với giới động vật. Điều này sẽ xảy ra theo ba cách :
1- Hiểu biết đích thực hơn của con người về bản chất con vật của chính họ.
2- Hiểu biết về các định luật biệt ngã hóa (individuali sation), và hiệu quả của ảnh hưởng của giới thứ tư, tức giới nhân loại trên giới thứ ba, giới động vật.
3- Công việc của một Avatar ở cấp thấp, Đấng sẽ đến trong cuối thế kỷ tới để tiết lộ cho con người mối liên hệ của y đối với giới thứ ba. Công việc của Ngài đang được chuẩn bị bởi nhiều người trong thời này, họ đang phát triển sự chú ý
814 của quần chúng qua các hội đoàn khác nhau cho lợi ích và việc bảo vệ động vật và qua nhiều câu chuyện có trong các sách và các tạp chí định kỳ thông thường.
Trong GLBN (quyển III, 580) H.P.B. có dạy chúng ta rằng nhận thức về trách nhiệm là một trong các dấu hiệu đầu tiên của việc kiểm soát của chân ngã, và vì ngày càng nhiều gia đình nhân loại đến dưới ảnh hưởng của Chân Ngã, các tình trạng sẽ được cải tiến từ từ và một cách vững vàng trong mọi lĩnh vực sự sống.
3. Trong tầng lớp giáo dục, một hiểu biết về bản chất thực sự của con người sẽ mang lại một thay đổi căn bản trong các phương pháp giáo huấn. Việc nhấn mạnh sẽ được đặt vào việc giáo huấn con người sự thật về Ego trên cõi riêng của nó, bản chất của các nguyệt thể và các phương pháp chỉnh hợp các thể thấp sao cho Ego có thể giao tiếp trực tiếp với bộ óc xác thân, và nhờ thế kiểm soát phàm ngã và tiến hành các mục tiêu của Chân Ngã. Con người sẽ được dạy làm cách nào mà qua sự định trí và tham thiền, họ có thể xác định được tri thức cho chính họ, có thể mở được trực giác, và như vậy có thể dùng được các vốn liếng của Ego. Bấy giờ, con người sẽ được dạy cách suy tưởng, kiểm soát thể hạ trí, và như thế phát triển được các khả năng tiềm tàng của họ.
Trên đây, vài nhận xét được nêu ra rất vắn tắt và không đầy đủ về các kết quả vốn có thể trông chờ từ một hiểu biết đích thực về bản chất thiết yếu của con người. Được viết ra vì nhu cầu của thời điểm đối với một trần thuật về con người đích thực hay con người nội tâm và về các luật của Thiên giới. Con người nội tâm đó có bao giờ được biết hiện hữu nơi đây còn “vương quốc nội tâm” (“kingdom within”) có bao giờ được nêu ra cho đến khi H.P.B. xuất hiện và đưa ra cùng các chân lý xưa cũ theo một quan điểm mới, đưa ra một chiều hướng huyền linh cho tư tưởng thần bí. Giờ đây đến lúc cho con người hiểu được các định luật về bản thể của chính mình, và trong nhận thức đó những kẻ sắp sửa am hiểu tri thức bằng trực giác và những kẻ có năng khiếu khoa học quyết
815 tâm chấp nhận các chân lý này như một giả thuyết tạm đủ để được dùng như một nền tảng thử nghiệm cho tới khi cái sai trái được minh chứng, sẽ có được cơ may để giải quyết các vấn đề thế giới từ bên trong. Có như thế nguyên lý/khuôn mẫu (principle) của Đấng Christ mới hiển lộ trên cõi trần và có thế bản chất Christ sẽ được minh chứng là thực trong chính bản chất của nó.
Giá trị đối với tư tưởng quần chúng đối với một giải thích xác đáng về sự tiến hóa của Ego và năng lực phát triển từ từ của Chân Ngã trên cõi trần là rất lớn. Có hai cách để con người xem xét vấn đề này, cả hai đều cung cấp chất liệu để suy tưởng và sẽ rất đáng xem xét nghiêm túc. Cả hai cách đều được những kẻ suy tư của nhiều trường phái tư tưởng bàn đến ít nhiều, do đó không cần đến bất cứ giải thích dài dòng nào cả. Vấn đề có thể được xem như một thôi thúc để nâng cao tâm thức bên trong của con người (khi hoạt động trong xác thân) lên các phân cảnh cao của cõi trí, và do đó cần đến việc nâng cao hay mở rộng tâm thức tỉnh thức cho đến khi nó trở nên biết được sự sống cao siêu này. Đây là cách tiếp cận huyền bí, và nhiều trường hợp về sự hoàn tất thành công của nó có thể được nghiên cứu trong các kiếp sống của các nhà thần bí thuộc mọi thời. Bằng sự sùng tín tuyệt đối và áp dụng tích cực, và bằng một giới luật nghiêm nhặt của xác thân, nhà thần bí tiến hành việc nhập vào bí huyệt tim của hệ thống bé nhỏ của mình, và sự sống của y trở nên chiếu sáng bởi các tia của mặt trời trung ương của chính mình – ánh sáng thiêng liêng của Chân Ngã. Vấn đề có thể lại được xem như là vấn đề mà trong đó nỗ lực của con người được tập trung trong một cố gắng đưa vào trong tâm thức bộ óc hồng trần, và như thế vào cõi trần, sự sống, sức mạnh và năng lượng của bí huyệt bên trong, tức Chân Ngã. Điều này tất nhiên cần đến một am hiểu khoa học về các định luật của cuộc sống, và một nhận thức về bản chất kép của Bản Ngã. Nó bao hàm một sự tận tụy đối với việc mang lại sự kiềm chế các Lunar Lords qua sự kiểm soát phát xạ của Solar Lord. Đây là phương pháp huyền linh. Chính phương pháp nghiên cứu sự cấu tạo
816 của các thực thể vốn hợp thành bản chất tứ phân thấp kém, tức phàm ngã và việc nghiên cứu kỹ càng các Bản Thể thiêng liêng này, tức là các Đấng Kiến Tạo thể của Ego hay là higher self (Thượng Ngã). Cần phải đưa thêm vào điều này một áp dụng nghiêm khắc về các luật của thiên nhiên vào vấn đề cá nhân.
Những gì được đề xuất trong Bộ Luận này là noi theo phương pháp sau này, như là mục tiêu để làm sáng tỏ căn nguyên của diễn trình.
(b) Tiến hóa của các cánh hoa. Việc kiến tạo thể nguyên nhân là kết quả của hai năng lượng, năng lượng của phàm ngã với tác động phản xạ của nó trên chân ngã, và năng lượng của công sức tự nhiên của bản ngã khi nó tạo ấn tượng trực tiếp của nó vào chất liệu của hoa sen chân ngã. Ở đây, cần nhớ rằng, dù cho vật chất có thể tinh anh đi nữa, hoa sen chân ngã cũng là vật chất thực sự có một rung động đặc biệt như là thể xác, chỉ có (do sự khác lạ của nó) con người ở cõi trần xem nó gần như không có thực. Thực ra, như trước kia đã có nói, kết quả của rung động kép của vị Dhyanis ngũ phân hay là các Thần (Gods) kết hợp với Quaternary tứ phân, hay là các Pitris thuộc các hiện thể thấp. Qua một nỗ lực hữu thức của Các Hành Tinh Thượng Đế, các vị Dhyanis này và các Pitris cấp thấp lập được một liên quan chặt chẽ. Điều này tạo ra (trên cõi phụ thứ ba của cõi trí) một rung động ngũ phân hay là vòng xoắn ốc (whorl) trong chất khí của cõi đó – mà sau một giai đoạn kiên trì, sẽ khoác lấy hình thức của hoa sen chín cánh. Hoa sen này được gấp lại bên trên theo hình nụ úp trên điểm trung ương hay là tâm của hoa sen – tia lửa điện đó, bằng tác động của nó hay sức sống có sẵn của nó, tác động trên vật chất của hoa sen, thu hút vào chính nó đủ chất liệu để tạo thành ba cánh hoa bên trong, chúng bảo vệ kỹ càng tia lửa ở giữa; tuy thế, các cánh hoa này có cùng chất liệu hay tinh túy như chín cánh hoa kia. Nhà nghiên cứu phải thận trọng đừng cụ thể hóa ý niệm của mình quá nhiều và do đó có thể là khôn ngoan cho y khi nhìn biểu lộ này từ các
818 khía cạnh khác và dùng các từ ngữ khác để diễn đạt cùng ý tưởng. Chẳng hạn, thể Chân ngã có thể được nhìn theo bốn cách.
Dưới hình thức chín rung động, phát ra từ điểm trung tâm, mà trong nhịp đập của nó hoặc các phát quang của nó, tâm điểm này tạo ra ba rung động chính có mãnh lực lớn lao chạy theo một hoạt động vòng quanh chung quanh tâm; chín rung động chạy theo một con đường chéo cho đến khi chúng đạt đến ngoại vi của khu vực ảnh hưởng của Chân Ngã. Ở điểm này, chúng đột ngột quay lại, như vậy tạo ra một dạng gần hình cầu nổi tiếng của thể nguyên nhân.
Dưới hình thức chín cánh của hoa sen, xạ ra từ một tâm chung và che giấu bên trong chúng ba cánh hoa trung ương, chúng che đậy điểm Lửa ở giữa. Các tia phóng quang từ đầu nhọn của mỗi cánh hoa là các tia vốn tạo ra ảo giác có dạng gần hình cầu.
Dưới hình thức chín nan hoa của bánh xe, hội tụ về phía trục giữa, vốn chia ba trong chính nó, và đang che giấu năng lượng trung ương hay máy phát ra lực (dynamo of force) – nơi phát sinh ra mọi hoạt động.

Biểu đồ VIII
Hoa Sen Chân Ngã và Các Trung Tâm Lực
817

Dưới hình thức chín loại năng lượng, chúng tạo ra các phóng phát rõ rệt từ một loại năng lượng tam phân, chính năng lượng tam phân này lại là một phóng phát từ một đơn vị lực trung ương.
Đối với mọi mục đích, lý giải thứ hai sẽ là một lý giải được dùng nhiều nhất cho chúng ta trong cố gắng minh họa cấu tạo, bản chất, phương pháp phát triển và tiến hóa thực sự của Ego, đang hoạt động trong thể nguyên nhân.
Bằng các thuật ngữ về lửa, cùng các chân lý có thể được diễn đạt như sau, và điều này nên được thận trọng nghiền ngẫm bởi người nghiên cứu Bộ Luận này :
1. Lửa điện………….Tinh Thần …Trạng thái ý chí ……….Bảo ngọc
trong liên hoa
2. Lửa thái dương …Tâm thức…...Trạng thái bác ái ………Chín cánh hoa.
3. Lửa do ma sát …..Vật chất .……Trạng thái hoạt động … Ba vi tử thường tồn.
819 Trong Lửa điện, Monad được biểu thị bằng bản chất tam phân của nó và thay thế cho loại biểu lộ vốn sẽ được đưa tới giai đoạn phát triển cao nhất trong thái dương hệ sắp tới.
Trong Lửa thái dương, các Solar Pitris dưới cấu tạo cửu phân của các Ngài, tiêu biểu cho và giúp cho xảy ra việc khai mở tâm thức của Chân Thần qua phương tiện Ego trong ba cõi tiến hóa của con người.
Trong lửa do ma sát, các Lunar Pitris được tiêu biểu và tạo ra phàm ngã, tức personality, hay các hiện thể mà nhờ đó Ego thu đạt kinh nghiệm trên các cõi thấp.
Tuy nhiên cả ba Lửa này đều là một, khi biểu lộ trong hào quang noãn của Chân Ngã và sự trao đổi lẫn nhau của năng lượng và sinh lực tiếp diễn đều đặn. Tinh Thần sử dụng Linh Hồn hay Ego, như là một hiện thể soi sáng, còn Chân Ngã dùng Tứ hạ thể như là phương tiện biểu lộ của nó. Do đó, sự tiến hóa của Tinh Thần thực sự có thể được chia làm ba giai đoạn:
Thứ nhất. Giai đoạn mà trong đó các Lunar Pitris hoạt động trước tiên và chuẩn bị các thể thấp cho sự lưu trú. Các rung động thấp kiềm chế, và “lửa do ma sát” là loại lửa vốn sưởi ấm và bảo dưỡng so với việc loại trừ thích hợp mọi lửa khác.
Thứ hai. Giai đoạn mà trong đó các Solar Pitris từ từ trở nên có ưu thế, trong đó Chân Ngã thức được phát triển. Các thể thấp được chiếm giữ bởi Chủ Thể Suy Tưởng, dần dần được kiểm soát bởi Chủ Thể đó, có xu hướng về phía ý chí và mục tiêu của y, và sau rốt được vứt bỏ. Các rung động ở giữa kiểm soát và lửa thái dương chiếu rọi; vào đúng diễn trình tiến hóa, nó soi sáng các thể thấp; nó từ từ tăng độ nóng, và sau rốt giúp vào việc thiêu hủy các hình tướng.
Thứ ba. Giai đoạn mà trong đó lửa điện được tiết lộ, và nhờ sức mạnh của ngọn lửa của nó, các lửa khác bùng lên.
Các Lunar Pitris đã làm tròn công việc của họ, các Solar Pitris
820 đã phát triển được đơn vị hữu ngã thức, tức con người, và Chân Thần (đã vận dụng cả hai) tách rời cả hai, và rút vào chính nó, lần này cộng thêm với việc thu lượm của cuộc sống và cộng thêm bác ái – minh triết đã phát triển.
Cổ Luận diễn đạt chân lý này như sau :
“Chính Vị Chúa Sự Sống ngự ở tâm và quán sát. Các Chúa của lửa thái dương theo đuổi nhiệm vụ của họ và tự hy sinh cho các Lunar Lords của mọi cõi thấp. Họ chết đi, nhưng sống lại. Họ vượt ra ngoài, và đến trở lại. Song, Chúa Tể Sự Sống vẫn còn ngự lại.
Các Lunar Lords bắt đầu tàn tạ; năng lực các vị này bắt đầu giảm dần theo mỗi chu kỳ nối tiếp. Các Solar Lords tỏa chiếu trong thành công và phó thác các tứ phân cho Lửa, - ngọn Lửa vốn thiêu đốt và làm tan hình hài.
Nhiều thời kỳ công việc tự lặp lại; các chu kỳ thăng trầm, cho đến ngày chiến thắng khi Solar Lord chào đón chính mình và biết chính mình là kẻ điều khiển.
Bấy giờ Chúa Tể Sự Sống chuyển vào chính mình và vươn lên trong quyền lực của Ngài. Ngài tiêu hủy các Solar Lords, và các vị này tàn tạ như các Lunar Lords đã làm. Ngài phát ra một Linh Từ; lửa giáng xuống. Ngọn lửa cháy lên. Lửa thứ yếu vượt qua ngọn lửa thái dương đang cháy, đi vào ngọn lửa giữa qua sức mạnh của lửa từ bầu trời.
Không gì còn lại ngoại trừ ngọn lửa tam phân gồm tím, chàm và vàng. Cái Đó xuất lộ. Kế đó sự đen tối ngự trị. Tuy nhiên Chúa Tể Sự Sống tồn tại, dù là vô hình”.
Như chúng ta biết, hoa sen Chân Ngã gồm ba vòng – mỗi vòng được tạo thành bằng ba cánh hoa, và tất cả đều che chở chồi nụ bên trong nơi che giấu bảo ngọc. Chính là với sự tiến hóa của các cánh hoa này mà chúng ta bận tâm đến sự tạo thành, đem sinh khí, bảo dưỡng và sự khai mở sau rốt của chúng. Sẽ hữu ích cho nhà nghiên cứu ở giai đoạn này khi nhớ rằng trước tiên chúng ta bàn đến sự phát triển của trạng thái thứ hai trong con người, tức trạng thái minh triết – bác ái, và chỉ xem xét sơ qua trạng thái thứ ba, trạng thái hoạt động, trạng thái này có các trung tâm đem năng lượng của nó trong ba vi tử thường tồn.
821 Theo thuật ngữ huyền môn, các vòng cánh hoa này được gọi là :
1. Tam bộ “tri thức ngoài” (“outer knowledge” triad) hay là các chúa tể của minh triết linh hoạt (lords of active wisdom).
2. Tam bộ “bác ái” ở giữa, hay các chủ tể của bác ái linh hoạt.
3. Bộ ba “hy sinh” bên trong, hay các chủ tể của ý chí linh hoạt.
Vòng thứ nhất là tập hợp của kinh nghiệm và tâm thức đã phát triển. Vòng thứ hai là việc áp dụng tri thức đó trong bác ái và phụng sự, hay là biểu lộ của Ngã và Phi-Ngã trong rung động hỗ tương. Vòng thứ ba là biểu lộ đầy đủ của tri thức và bác ái chuyển về phía hy sinh hữu thức của vạn vật đối với việc đẩy mạnh các kế hoạch của Hành Tinh Thượng Đế, và đối với việc tiến hành các mục tiêu của Ngài trong công việc tập thể. Mỗi một trong ba nhóm cánh hoa này chịu ảnh hưởng sự dẫn dắt rõ rệt của ba nhóm Agnishvattas, các Ngài tạo hình cho chúng bằng chất liệu riêng của các Ngài và về bản chất, các Ngài là Ego tam phân trong biểu lộ của nó. Lực và năng lượng cố kết của các Thực Thể huyền bí này tuôn đổ qua ba nhóm cánh hoa, các Đấng (khi xét gia đình nhân loại nói chung) mà chúng ta gọi là a/ Các Đức Phật hay là các Tinh Quân Hoạt Động (Lords
of Activity).
b/ Các Đức Phật hay là các Tinh Quân Từ Ái (Lords of Compassionate Love).
c/ Các Đức Phật Hy Sinh, mà đối với con người, Đấng Chưởng Quản Thế Gian là Đấng tiêu biểu (exponent) được biết nhiều nhất.
Qua ba nhóm cánh hoa này, năng lượng tam phân, trên cõi trí, đang tuôn đổ qua đó, tìm thấy nó là phương tiện biểu lộ liên quan với giới nhân loại, trong ba nhóm Agnishvattas hay Solar Pitris được nói đến ở trên. Các nhóm này tạo ra chất liệu của ba vòng cánh hoa, và mỗi nhóm cũng có một ảnh hưởng đặc biệt trên cánh hoa đặc biệt thuộc về giai tầng rung động đặc biệt của chúng. Với mục đích minh giải, chúng ta có thể kê ra các cánh hoa khác nhau để cho nhà nghiên
822 cứu có thể nhận được một hiểu biết về việc thành lập thể nguyên nhân của chính y và một ý tưởng nào đó về các mối liên quan tam giác khác nhau : I. Bộ ba “tri thức” ngoài :
a/ Cánh hoa 1 … Tri thức trên cõi trần.
Các màu: cam, lục và tím. b/ Cánh hoa 2 … Bác ái trên cõi trần.
Các màu: cam, hồng và lam. c/ Cánh hoa 3 … Hy sinh trên cõi trần.
Các màu: cam, vàng và chàm.
Ba cánh hoa này được cấu tạo và tiếp sinh lực trong Phòng Vô Minh (Hall of Ignorance), nhưng vẫn chưa khai mở và chỉ bắt đầu khi vòng cánh hoa thứ hai được sắp xếp.
II. Bộ ba “bác ái” ở giữa:
a/ Cánh hoa 1 … Tri thức cao siêu áp dụng qua bác ái trên cõi trần và cõi cảm dục.
Các màu : hồng và ba màu gốc.
b/ Cánh hoa 2 … Bác ái sáng suốt cao trên cõi trần và cõi cảm dục.
Các màu : hồng và ba màu tương ứng. c/ Cánh hoa 3 … Hy sinh sáng suốt nhờ bác ái trên cõi trần và cảm dục.
Các màu : hồng và ba màu tương tự.
Ba cánh hoa này bảo tồn màu cam căn bản nhưng có thêm màu hồng trong mọi cánh hoa, để cho bốn màu giờ đây đều được thấy. Các cánh hoa này được cấu tạo và đem lại sinh khí trong Phòng Học Tập, nhưng vẫn chưa khai mở. Tầng cánh hoa bên ngoài trải ra cùng lúc chỉ khi nào nó mở hoàn toàn, lộ ra vòng thứ hai; vòng thứ ba vẫn được che chở.
823 Biểu đồ IX
Hoa Sen chân ngã


III. Bộ ba “hy sinh” bên trong.
a/ Cánh hoa 1 … Ý chí-hy sinh nhờ tri thức trên cõi trí, và như thế khống chế một cách sáng suốt toàn bộ phàm ngã tam phân.
Các màu : vàng và bốn màu cam, lục, tím và hồng.
824 b/ Cánh hoa 2 … Ý chí-hy sinh nhờ bác ái trên cõi trí và như vậy đưa đến phụng sự.
Các màu: vàng và bốn màu cam, tím, hồng, lam. c/ Cánh hoa 3 … Hy sinh hoàn toàn cho vạn vật mãi mãi.
Các màu: vàng, cam, hồng, lam và chàm.
Trong cái bí ẩn của các màu phụ này và của sự tỏa chiếu từ từ trong hoa sen của năm màu trong bất cứ một cánh hoa nào vào bất cứ lúc nào, có ẩn giấu cái bí ẩn của năm Kumaras (GLBN I, 483). Người nghiên cứu tìm kiếm ý nghĩa về sự vượt trội của màu cam và hồng trong việc tiến đến cái bí ẩn của hai vị Kumaras đã rơi xuống (fell). Nhiều điều không thể nói, nhưng màu sắc nắm giữ chìa khóa bí mật đối với sự việc lớn lao này. Vòng cánh hoa bên trong được tạo ra và được cấp sinh khí trong Phòng Minh Triết, đồng thời vòng giữa khai mở, cho nên hai dãy cánh hoa được mở đúng lúc và chỉ có vòng thứ ba vẫn cần được mở. Việc khai mở sau rốt này được thực hiện trong giai đoạn bước lên Con Đường Điểm Đạo, và trong cuộc tuần hoàn này nó được hối thúc bằng các nghi thức điểm đạo và bằng các cố gắng bất thường và tích cực của chính con người, được trợ giúp bằng công tác từ điện của Đấng Điểm Đạo, đang vận dụng Quyền Lực Trượng.
Mặc dù chúng ta đã chia rõ các giai đoạn phát triển khác nhau, chúng ta chỉ bàn đến đa số người bậc trung, gom góp các sự kiện của chúng ta từ các tài liệu mà chúng ta tiếp nhận được và chúng được tập hợp liên quan đến đề tài thành ba nhóm, có liên quan tới :
a/ Các Chân Thần quyền lực. b/ Các Chân Thần bác ái. c/ Các Chân Thần hoạt động.
Người nghiên cứu phải nhớ rằng tùy theo các nhóm này, mà khuynh hướng của các cánh hoa sẽ khai mở ra sao. Giả dụ, trong trường hợp của đa số con người, vốn là các Chân
825 Thần bác ái, thì các cánh hoa bác ái được khơi hoạt dễ hơn, vì bác ái là bản chất của cuộc biểu lộ hiện tại, còn đường lối bác ái theo một chiều hướng nào đó (thấp, cao, hoặc tâm linh) là đường lối dễ nhất đối với nhiều người. Tuy nhiên các Chân Thần hoạt động thì nhiều và có ảnh hưởng, còn cánh hoa thứ nhất trong mỗi vòng đối với chúng thì dễ khai mở nhất. Đối với cả hai nhóm, cánh hoa “tri thức” được khai mở trước tiên, do bản chất có sẵn của chính các Manasadevas, và rung động căn bản của các thần này. Đối với mọi vật, hy sinh là cái khó nhất, vì bao giờ nó cũng cần đến hai yếu tố thông tuệ và bác ái – tri thức sáng suốt và một tình thương vốn dành cho những gì phải được cứu vớt qua hy sinh.
Trong ba vòng cánh hoa này có ẩn giấu một manh mối khác đối với cái bí ẩn về 777 lần luân hồi. Các con số này không truyền đạt số năm chính xác, mà chỉ là ẩn dụ và có tính chất biểu tượng. Chúng được dự định để truyền đạt ý tưởng về ba chu kỳ với kỳ gian thay đổi, căn cứ vào bản chất thất phân của Chân Thần đang biểu lộ.
Thứ nhất. 700 lần lâm phàm. Các lần lâm phàm này liên quan đến sự phát triển của vòng tuần hoàn bên ngoài. Đây là thời kỳ dài nhất. Rung động lúc đầu thì chậm lụt và nặng nề, và hàng ngàn kiếp sống phải trôi qua trước khi sự trao đổi lẫn nhau của năng lượng giữa Ego với hình ảnh của nó, tức phàm ngã (con người tam phân hạ đẳng) đến nỗi tâm thức của con người “thức tỉnh” (“awakens”) về mặt huyền linh trong Phòng Học Tập. Đối với người tiến hóa vào lúc này, các lần luân hồi này xảy ra trên dãy nguyệt cầu (moon chain) và trong một số trường hợp trên một vài hành tinh có liên quan với cuộc nội tuần hoàn. Đây là trường hợp tất yếu đưa đến sự “nhập-vào” (“coming-in”) của con người trong căn chủng Atlantis. Con người thuộc mẫu này đã từ chối luân hồi trước kia, vì các cơ thể (bodies) đều quá thô lậu; việc này là hình ảnh theo chu kỳ (trên cõi thấp nhất) của việc từ khước của các Chân Thần để nhập thể vào dịp khai nguyên. Không có “tội lỗi” thực sự nào bị phạm phải; chính đặc ân của họ là phân biện, và việc khước từ này có sự liên quan của nó với các tình
826 trạng trên Địa Cầu, nguyên là nền tảng của các phân biệt lớn về giai cấp mà – trong mọi vùng đất – gây ra hậu quả phiền toái và nền móng huyền bí của hệ thống “đẳng cấp”, rất bị lạm dụng ngày nay ở Ấn Độ. Vấn đề lao động và tư bản có căn cội của nó trong sự phân biệt chủ quan giữa các Egos “có trang bị và không trang bị”, giữa các đơn vị này của gia đình nhân loại trên địa cầu, những người đã vượt qua Phòng Vô Minh và những người chưa dò dẫm trong các hành lang tối tăm, giữa các Chân Ngã này vốn chỉ là các Egos “chồi nụ”, với những người đã thiết lập được vòng cánh hoa bên ngoài và các cánh hoa này đã sẵn sàng khai mở.
Ý tưởng về thất bộ của các thế kỷ phải được xem xét cẩn thận và cũng như bao giờ trong mọi vấn đề huyền linh, ý tưởng về tam bộ cũng phải được ghi nhớ với một giai đoạn tổng hợp, vốn là một tóm tắt về sự phối kết tam phân:
3 giai đoạn của 3 số mười …... 90 năm
1 giai đoạn tổng hợp ….… 10 năm
100 năm
Bảy lần này lặp lại ….. 7
700 năm
Mỗi chu kỳ (lại các chu kỳ ẩn dụ) để lại một trong các cánh hoa được cấp sinh lực nhiều hơn và có một hiệu quả rõ rệt trên mỗi cánh hoa.
Thứ hai. 70 lần luân hồi. Các cuộc lâm phàm này liên quan đến việc phát triển của vòng cánh hoa giữa. Nhiều người có thể học được từ việc xem xét ý nghĩa huyền linh có liên quan đến việc nhắn gửi trong số các môn đồ của họ bởi bất cứ điểm đạo đồ nào (như là Đức Christ) trong các nhóm 70, đang diễn ra 2 và 2. Bảy mươi lần luân hồi này trước nhất có ảnh hưởng đến sự phát triển của tình thương trong cuộc đời riêng tư, sự tiến hóa của bản chất cảm dục, dựa trên sự nhận thức về các cặp đối ứng, và sự cân bằng của chúng trong bác ái và phụng sự.
Chu kỳ này bao hàm giai đoạn con người vượt qua trong
827 Phòng Học Tập và có sự tương ứng của nó trong căn chủng Atlantis và sự mâu thuẫn giữa các Chúa Tể của Hắc Diện (Dark Face) với Huynh Hữu Chính Đạo. Bên trong sự sống của mỗi cá nhân, một mâu thuẫn tương tự diễn ra trong giai đoạn này, kết thúc với Kurukshetra hay bãi chiến trường, nó giành được cho con người cái quyền bước trên Con Đường Dự Bị, và sau rốt cái đặc quyền đứng trước Cánh Cửa Điểm Đạo. Lần nữa ý nghĩa về số của các con số phải được nghiên cứu; lần này chúng được ẩn giấu trong số mười hay là 3 chu kỳ có 3 giai đoạn thứ yếu, mỗi cái tạo ra 9, và một giai đoạn tổng hợp, đưa đến mục đích cuối cùng của một giai đoạn bên trong chu kỳ lớn hơn; điều này được biểu hiện bởi 10 hoàn thiện tương đối.( )( )
Sự tương tác giữa xung lực karma với năng lượng trí tuệ đã tạo ra một nhận thức bên trong tâm thức của Chân Ngã
828 của điều mà con người đã học được bên trong hai Phòng; vòng cánh hoa bên ngoài được khai mở, còn vòng ở tâm sẵn sàng mở.

a) Adi - Sanat, Số Mục, Nhất Nguyên. Thượng Đế hay là Đấng Duy Nhất đang lâm phàm trong vật chất. Thượng Đế và con người hoạt động dưới hình thức các đơn nhất trên các cõi vật chất thích hợp.
b) Tiếng nói của Linh Từ, các Con Số, vì Ngài là một và chín. Trạng thái
thứ hai, Ý tưởng được biểu hiện. Tâm thức.
c) Hình Vuông vô sắc tướng, (formless Square) trạng thái vật chất, chất
liệu và hình hài. Giới hạn.
Vạch ra các điều này liên quan với :
a- Một Thái Dương Thượng Đế, đang làm linh hoạt một thái dương hệ. b- Một Hành Tinh Thượng Đế, đang làm linh hoạt một hành tinh hệ. c- Một con người, đang làm linh hoạt các thể biểu lộ của mình.
2. Mười là vũ trụ vô sắc tướng. (arupa universe).
Ở đây việc nhấn mạnh được đặt vào các Sự Sống nội tâm, hay là Tâm Thức sáng suốt bên trong các hình tướng. Mười này có thể được gọi là :
I. Thượng Đế Ngôi Một … Shiva … Chúa Cha … Ý Chí.
II. Thượng Đế Ngôi Hai … Vishnu … Chúa Con … Bác ái-minh triết. III. Thượng Đế Ngôi Ba … Brahma … Chúa Thánh Thần …Thông tuệ.
đang ứng linh Vật Chất, Mẹ.
1 Đấng Chủ Quản Ý Chí vũ trụ …. Cung 1.
2 Đấng Chủ Quản Bác ái vũ trụ … Cung 2. 3. Đấng Chủ Quản Thông Tuệ vũ trụ … Cung 3.
4. Đấng Chủ Quản Sự Hài hòa vũ trụ … Cung 4.
5. Đấng Chủ Quản Tri thức vũ trụ …. Cung 5.
6. Đấng Chủ Quản Sự Sùng tín vũ trụ … Cung 6.
7. Đấng Chủ Quản Nghi Thức vũ trụ … Cung 7.
Chúng là tâm thức chủ quan, nguyên nhân của biểu lộ.

Thứ ba. 7 lần luân hồi. Các lần luân hồi này là các luân hồi được trải qua trên Con Đường Dự Bị. Đây là một giai đoạn lý thú, trong đó vài việc được thực hiện vốn có thể được mô tả bằng các lời sau :
Hai vòng cánh hoa ngoài được kích thích theo một nhận thức mới mẻ và đặc biệt qua tác động hữu thức của đệ tử dự bị. Nhiều việc cho đến giờ được theo đuổi dưới ảnh hưởng các luật tiến hóa thông thường và không được hay biết. Bây giờ, tất cả đều thay đổi, vì thể trí trở nên linh hoạt, và hai trong số các cánh hoa ý chí được phối kết, còn một “khơi hoạt” sinh lực và khai mở.
Lửa hay năng lượng từ hai vòng cánh hoa này bắt đầu luân lưu theo tam giác nguyên tử và khi trường hợp này xảy ra, nó ghi dấu một giai đoạn rất quan trọng; một công việc song đôi đã được hoàn thành trong cuộc sống thấp kém của cá nhân và trong cuộc sống chân ngã :
a/ Các vi tử thường tồn có bốn loa tuyến thấp hoàn toàn linh hoạt (hai nhóm trong mỗi bộ hai), còn loa tuyến thứ năm ở trong tiến trình thức tỉnh đi vào hoạt động y như thế. Tam giác đang ở trong hoạt động tuần hoàn, nhưng chưa đạt đến độ sáng chói đầy đủ của nó, cũng như không có sự quay tròn hay xoay theo bề đo thứ tư của nó. b/ Hai vòng cánh hoa được “khơi hoạt”, một được mở
rộng, còn vòng kia sắp khai mở.
Như vậy, trong sự sống của đệ tử dự bị, hai trạng thái của sự sống thiêng liêng được làm cho tự hiển lộ, và dù cho đến nay nhiều điều vẫn cần làm, tuy thế khi các vòng cánh hoa bên trong được khơi hoạt – qua phương tiện của diễn trình khai mở kỳ lạ và bất thường – trạng thái còn lại sẽ được đưa tới xuất lộ tương tự, và tạo ra con người hoàn thiện trong ba 829 cõi thấp. Thế là công việc của Solar Pitris được hoàn tất.
Sự kiện về hiện tượng khác thường của diễn trình khai mở cần được nhấn mạnh ở đây.
Sự khai mở (initiation) có bản chất của một thực nghiệm lớn lao mà Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta đang tạo ra trong cuộc tuần hoàn này. Trong các cuộc tuần hoàn trước và có lẽ trong các cuộc tuần hoàn sau này, toàn bộ diễn trình sẽ tuân theo định luật tự nhiên. Trong cuộc tuần hoàn này và trên dãy hành tinh này, Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta trên mức độ cao của Ngài, là cái mà về mặt huyền bí được gọi là “tọa thiền hợp nhất” (“sitting for yoga”) và được trải qua rõ rệt một vài tiến trình huấn luyện ngõ hầu kích hoạt các trung tâm lực của Ngài. Sự kiện này đang được Thánh Đoàn trên Địa Cầu tận dụng để tạo ra vài thành quả trong các giống dân dưới sự dẫn dắt của các Ngài. Toàn bộ diễn trình được chọn lựa, và một người có thể - nếu y chọn như thế - noi theo tiến trình bình thường, và mất rất nhiều thời gian để thực hiện những gì được chọn để làm trong một giai đoạn ngắn hơn, qua một tiến trình tự chọn bắt buộc.
Vào lúc kết thúc 777 kiếp luân hồi, con người đi qua cửa điểm đạo và nhập vào một tiến trình tổng hợp ngắn, tức là giai đoạn sau rốt trong đó y thu thập các kết quả của kinh nghiệm trong hai phòng đầu tiên và chuyển hóa tri thức thành minh triết, biến đổi cái bóng (shadow) của các sự vật nhìn thấy thành năng lượng của những gì đang hiện hữu, và đạt đến sự giải thoát cuối cùng ra khỏi mọi hình tướng thấp kém vốn ra sức cầm giữ y trong ngục tù. Chính giai đoạn điểm đạo này được chia thành bảy giai đoạn nhỏ (stages), nhưng chỉ có năm trong các giai đoạn nhỏ này có liên quan đến cuộc tiến hóa của Ego, giống như năm vị Kumuras có liên quan trước tiên đến cơ tiến hóa của nhân loại trong thái dương hệ và trên hành tinh này.
Như thế, chúng ta lại có bốn vị Kumaras ngoại môn, mà trong các Ngài, hai vị đã rơi xuống (fell), còn ba vị thuộc nội môn (esoteric), một vị trong số đó đang tập trung các mãnh lực sự sống của bốn vị ngoại môn, cùng với Các Kumaras này hợp thành năm vị như nói trên. Đạo sinh phải nghiên cứu vấn đề này theo quan điểm về năng lượng hay sinh lực, xét nó theo khía cạnh của tính đối cực (polarity) và của sự phối
830 ngẫu huyền bí, theo sự hiểu biết về ý nghĩa thực sự của liên hệ tính dục, của sự gặp gỡ và hòa nhập của các cặp đối ứng và công việc của một người tổng hợp ở chỗ mà mọi kiểu mẫu năng lượng có liên quan. Thí dụ :
a/ Chân Ngã tổng hợp hay gom góp trong các sinh lực
của phàm ngã tứ phân.
b/ Cung của Đức Mahachohan trên Địa Cầu tổng hợp các sinh lực của tứ hạ thể. Cung này là cung phụ thứ ba của Cung hành tinh chúng ta.
c/ Cung chính thứ ba của thái dương hệ pha trộn bốn
cung thứ yếu.
d/ Đức Kumara thứ năm phối hợp và nối kết trong Chính Ngài công việc của bốn cung thấp.
Hình ảnh của tất cả mọi điều này trong Tiểu thiên địa có thể được nghiên cứu bởi người hiểu tại sao thể xác là vận thể của tất cả mọi nguyên khí.
Vào lúc Cuộc Điểm Đạo thứ ba xảy ra, vòng trong của các cánh hoa được khai mở và hoa sen mãn khai với mọi vẻ đẹp của nó có thể được nhìn thấy. Ở Cuộc Điểm Đạo thứ tư, búp nụ bên trong nở bung ra qua hiệu ứng của điện lực của Điểm Đạo Trượng, vốn đem tới sức mạnh của cung tổng hợp của chính thái dương hệ; nhờ thế, bảo ngọc bên trong được hiển lộ. Công việc đã được hoàn tất; năng lượng nằm ở trong các vi tử thường tồn, đã đem sinh lực cho tất cả mọi loa tuyến trong khi lực hoàn thiện của hoa sen, và ý chí năng động của tia lửa trung ương được đưa vào hoạt động đầy đủ và hợp nhất. Việc này mang lại một biểu lộ tam phân của sinh lực, nó gây ra sự tan rã của hình hài và các kết quả sau:
a/ Các vi tử thường tồn trở nên phóng quang, và do đó vòng-
giới-hạn của chúng không còn là chướng ngại vật đối với các đơn vị thứ yếu bên trong; các sự sống của âm điện tử trong các nhóm khác nhau của chúng thoát ra, và trở lại với kho chứa vĩnh cửu. Chúng tạo thành vật chất thuộc một đẳng cấp
831 rất cao, và sẽ tạo ra các hình hài của các sự sống mà, trong một chu kỳ khác, sẽ tìm kiếm các vận thể.
b/ Các cánh hoa bị hủy diệt bởi tác động của lửa, và một số lớn các sự sống thiên thần vốn tạo thành chúng và đem lại cho chúng sự cố kết và tính chất của chúng, được gom lại phía sau bởi các Solar Pitris ở cấp cao nhất, vào Tâm của Thái Dương; chúng sẽ được hướng ra ngoài trở lại trong một thái dương hệ khác. Vật chất nguyên tử sẽ được dùng đến cho một kỳ khai nguyên khác, nhưng các Solar Pitris sẽ không lại bị kêu gọi để hy sinh chính họ cho đến thái dương hệ tới khi họ sẽ bước vào với tư cách các Cung hành tinh, như vậy lặp lại trên các mức độ Chân Thần trong thái dương hệ kế tiếp những gì mà các Ngài đã làm trong thái dương hệ này. Bấy giờ các vị ấy sẽ trở thành các Hành Tinh Thượng Đế (Planetary Logoi).
c/ Sự Sống gây hứng khởi chính yếu trở lại với cội nguồn của nó, thoát ra khỏi ngục tù và hoạt động với tư cách một trung tâm năng lượng trên các cõi năng lượng dĩ thái vũ trụ.
Trên đây, chúng ta đã cố gắng gợi ra một ý tưởng tổng quát về diễn trình tiến hóa liên quan đến Ego và sự tiến triển của nó dưới luật nghiệp quả và chu kỳ. Nếu nhà nghiên cứu cân nhắc về hai định luật này, điều sẽ trở nên rõ rệt đối với y là cả hai có thể được tóm lược dưới tên gọi thông thường là Định Luật Tiết Điệu (Law of Rhythm). Mọi biểu lộ đều là kết quả của năng lượng linh hoạt tạo ra một số hiệu quả và chi tiêu năng lượng theo bất cứ một hướng nào sẽ cần có một chi tiêu ngang bằng theo một hướng ngược lại. Liên quan tới Ego và kinh nghiệm sống của nó, điều này tạo ra ba giai đoạn :
Thứ nhất. Giai đoạn mà trong đó năng lượng được biểu lộ tác động hướng ra ngoài. Bản Ngã trở nên đồng nhất hóa với các thể thấp (sheaths) của nó. Đây là giai đoạn hoàn toàn thuộc cá nhân.
Thứ hai. Giai đoạn mà trong đó việc hiệu chỉnh theo thiên luật được cố công tìm kiếm, còn Bản Ngã không hoàn toàn đồng nhất hóa với các thể thấp của nó, mà cũng không hoàn toàn đồng nhất hóa với Chính Nó. Nó đang học cách chọn các
832 cặp đối ứng. Đây là giai đoạn xung đột và xáo động mãnh liệt nhất, và là chiến trường mà trong đó sự hiệu chỉnh phải được tạo ra; đó là giai đoạn trắc nghiệm trong đó lực chuyển hóa vừa đủ được sinh ra bởi đệ tử để đưa y đến thái cực đối nghịch của giai đoạn trước, - giai đoạn mà trong đó năng lượng sẽ biểu lộ bên trong chứ không phải bên ngoài.
Thứ ba. Giai đoạn mà trong đó năng lượng của Ego được tập trung ở tâm vòng tròn, chứ không còn ở ngoại vi, được áp dụng từ đó nhờ cố gắng hữu thức của Ego trong việc phụng sự tập thể. Việc lôi kéo của bản chất thấp được thay thế, và việc thu hút của những gì thậm chí còn cao hơn cả cái mà Ego đã cảm nhận. Tiến trình trước đây, bây giờ đã được lặp lại trên một vòng xoắn ốc cao hơn và năng lượng Chân Thần bắt đầu tác động tới Ego giống như năng lượng của Chân Ngã đã tác động lên phàm ngã. Monad, vốn đã đồng nhất hóa với Ego (biểu lộ bên ngoài của Chân Thần), lại bắt đầu tìm kiếm trung tâm đích thực của chính nó “bên trong Tâm”, và trên các phân cảnh cao các kết quả tác động đến sự phân phối và bảo tồn năng lượng lại có thể được nhìn thấy.
Cần nhấn mạnh vào phương pháp này bởi vì điều hệ trọng là mọi nhà huyền linh học cần học cách lý giải và suy tưởng bằng các thuật ngữ chỉ năng lượng và lực, trái ngược với các thể thấp hay các công cụ được dùng. Nhà thần bí đã nhận biết yếu tố “lực” này, nhưng chỉ tác động với trạng thái lực dương tính. Nhà huyền linh học phải nhận ra và tác động với ba loại lực, hay năng lượng, và trong đó có ẩn sự phân biệt giữa công việc của y với công việc của nhà thần bí. Y nhận ra :
1. Lực dương … hay những gì mang năng lượng.
2. Lực âm … hay những gì là nơi chứa năng lượng; những gì tác động đến hoặc chiếm giữ hình hài dưới tác động của lực dương.
833 3. Ánh sáng hay lực hài hòa … Những gì được tạo ra bởi sự hợp nhất của hai lực này. Kết quả là năng lượng bức xạ (radiant energy) và là kết quả của việc giữ thăng bằng của hai lực kia.
Ba trạng thái năng lượng này thường được gọi là : a/ Lửa điện ............. năng lượng dương ..... Từ Phụ. b/ Lửa do ma sát ..... năng lượng âm ........... Từ Mẫu.
c/ Lửa thái dương .. năng lượng bức xạ ..... Thái Dương hay Con.
Mỗi một trong hai trạng thái sau cùng này biểu lộ trong chính nó theo cách nhị nguyên, nhưng hiệu quả là một tổng thể đồng nhất so với Cái Đơn Nhất vĩ đại mà trong đó chúng đang biểu lộ.
Vấn đề các devas có thể phần nào được hiểu rõ hơn, nếu người ta nhớ rằng chính các devas biểu hiện cho hai loại năng lượng. Thí dụ, các Solar Pitris là chất liệu của các thể chân ngã và các nhóm chân ngã, và là phương tiện biểu lộ cho trạng thái Tinh Thần, vì Tinh Thần biểu lộ nhờ vào linh hồn. Các Lunar Pitris, vốn tạo ra phàm ngã, chính là tập hợp của các thể thấp, được truyền năng lượng và được sử dụng bởi các Solar Lords. Các Solar Angels này lại ở trong nhiều nhóm và biểu lộ trong chính đẳng cấp của các Ngài một năng lượng song đôi, cả dương lẫn âm. Có sự sống dương của hoa sen chân ngã vốn kết hợp, bảo toàn và kích hoạt các cánh hoa, đồng thời cũng có năng lượng của chính chất liệu cánh hoa, hay là khía cạnh âm được cuốn hút bởi lực dương của các Solar Lords cấp cao vào trong các vòng xoắn sinh động hay là các bánh xe mà chúng ta gọi một cách tượng trưng là “các cánh hoa”. Có một tương đồng chặt chẽ liên quan với Hành Tinh Thượng Đế và Thái Dương Thượng Đế giữa prana, tức sinh lực vốn làm linh hoạt thể dĩ thái của con người, và bằng
834 lực kết hợp thể xác và chính sinh lực tổng hợp đó của Thượng Đế giúp làm sinh động mọi nguyên tử trên mọi cõi của thái dương hệ. Nếu điều này được suy nghiệm và sự thật về tất cả mọi cõi của chúng ta vốn là biểu lộ dĩ thái và trọng trược của Thái Dương Thượng Đế được hiểu rõ, lúc đó vị trí mà các Solar Angels nắm giữ, có thể trở nên sáng tỏ phần nào, và mối liên hệ của các Ngài với Hành Tinh Thượng Đế và với Thái Dương Thượng Đế có thể cũng trở nên rõ ràng hơn.
Không những chúng ta phải nghiên cứu các Ngài vì có liên quan đến chính chúng ta và liên quan đến cố gắng của chúng ta để đồng nhất hóa chính chúng ta với các Solar Lords của các Lunar Pitris, mà cũng phải nhận ra : a/ Các Solar Angels của một hệ hành tinh. b/ Các Solar Angels của thái dương hệ. c/ Các Lunar Lords của hành tinh hệ và thái dương hệ.
Thuật ngữ “lunar” (“thuộc về trăng”) ở đây là một lỗi thời (anachronism) và không chính xác về mặt chuyên môn. Mặt trăng hoặc các mặt trăng trong bất cứ hành tinh hệ nào đều là các quả của thái dương hệ, chớ không phải các nhân. Trong một vài liên hệ hành tinh, chúng được xem là các nhân, nhưng liên quan với thái dương hệ chúng ta chúng lại không. Tuy nhiên, cũng liên quan với một thái dương hệ, về mặt vũ trụ, có hiện hữu một vài thể trong không gian, chúng có một hiệu quả nhất định đối với thái dương hệ giống như mặt trăng đang có đối với địa cầu. Đây là một điều mà cho đến nay chưa được hiểu biết đối với các nhà siêu hình học, các khoa học gia và các nhà thiên văn. Về mặt vũ trụ, cho đến nay, chiến tranh tiến hành giữa các “lunar” lords của thái
835 dương hệ với các Thực Thể vốn tương tự với các Solar Lords trên các cấp độ vũ trụ. Cho đến khi các nhà nghiên cứu của chúng ta mở rộng quan niệm của họ để bao gồm trong các tính toán của họ các thể cảm dục và thể trí của Thượng Đế, khi Thượng Đế tìm cách biểu lộ xúc cảm và trí tuệ trên cõi trần (qua thể hồng trần của Ngài, tức một thái dương hệ) thì các nhà nghiên cứu đó sẽ không tiến được xa hướng về tâm của bí ẩn thái dương. Cho đến khi lực của các Lunar Lords vũ trụ được tìm ra, sự thật về việc có toàn bộ các chòm sao bên ngoài thái dương hệ chúng ta ở trong tiến trình tan rã theo thời gian và không gian theo một cách tương tự với sự tan rã của mặt trăng sẽ không được biết, cũng như không lần ra được các hiệu quả của việc này. Sau rốt, thái dương hệ chúng ta sẽ đi vào một tình trạng tương tự. Cái bí ẩn thực sự về tà lực ( ) nằm nơi đây, và cái thực tại đích thực của “Cuộc Chiến

Trích dẫn sau đây bắt nguồn từ một trước tác xuất thần, được đưa ra qua T.S. Anna Kingsford; nó được viết như sau :
“Bạn cũng muốn biết cội nguồn của tà lực. Đây là một chủ đề lớn, và chúng tôi không còn che giấu điều đó với bạn thêm nữa, nhưng dường như đối với chúng tôi hiện nay bạn đang cần đến nó. Vậy thì nên hiểu rằng Tà Lực là kết quả của Sáng Tạo. Vì Sáng Tạo là kết quả của dự tính của Tinh Thần vào trong vật chất; và với dự tính này, mầm mống đầu tiên của tà lực xuất hiện. Chúng tôi muốn bạn biết rằng không có một điều gì như là tà lực thuần túy, mà tà lực là kết quả của sự thể hiện của Tinh Thần. Nếu bạn xem xét cẩn thận tất cả những gì mà chúng tôi đã nói với bạn liên quan đến các hình thức tà lực khác nhau, bạn sẽ thấy rằng mọi con người đều là kết quả của giới hạn của quyền năng để nhận thức rằng toàn bộ Vũ Trụ chỉ là Bản Ngã Phóng Đại (Larger Self) … Lúc đó, quả thật rằng Thượng Đế tạo ra tà lực, nhưng tuy thế điều cũng đúng rằng Thượng Đế là Tinh Thần, và vì là Tinh Thần thì không thể sai trái. Tà lực lúc đó thuần là và duy nhất là kết quả của sự cụ thể hóa của Thượng Đế. Đây là một bí ẩn vĩ đại. Chúng ta có thể chỉ nêu ra điều đó tới nay… Thượng Đế là chính sự nhận thức. Thượng Đế là sự nhận thức vũ trụ. Thượng Đế là những gì đang thấy và được thấy. Nếu chúng ta có thể thấy tất cả, nghe tất cả, tiếp xúc tất cả và v..v… sẽ không có tà lực, vì tà lực bắt nguồn từ giới hạn của nhận thức. Giới hạn đó là cần thiết nếu Thượng Đế phải tạo ra bất cứ điều gì khác hơn là Thượng Đế. Bất cứ điều gì khác hơn là Thượng Đế phải kém hơn Thượng Đế. Do đó, nếu không có tà lực, Thượng Đế sẽ còn lại có một mình. Mọi vật đều là Thượng Đế tùy theo mức độ của Tinh Thần nơi chúng.”
Cần nói rằng, một nhân loại hoàn hảo sẽ là một hiện thể hoàn hảo của Tinh Thần thiêng liêng (xem Mercaba của Ezekiel, Chương 1). Vĩ đại thay sự hàm ân của chúng ta đối với các Nhà Linh Thị (Seers) họ phóng chiếu cho chúng ta các tia sáng lên cái tối tăm và bí nhiệm của sự sống con người, nơi mà Tinh Thần đang phấn đấu bên trong, lại thường bị chôn vùi trong các hố thẳm của Cái Hồng Hoang (Chaos) bí hiểm này, nhờ đó khiến cho bóng tối thấy được, cho nên chúng ta được phép thấy một vài bước của Con Đường phía trước, nhờ thế khuyến khích chúng ta kiên quyết tiến tới với sự yên tâm đổi mới rằng các đám sương mù và đám mây mờ sẽ bị xua tan, và vào đúng lúc, chúng ta sẽ bước vào sự toàn vẹn của Bản Lai Diện Mục thiêng liêng (divine Presence).
ở Cõi Trời” (“War in Heaven”) phải được tìm ra nơi đây. Tương tự, cần phải nhớ rằng các hành tinh hệ đi vào qui ẩn và “tiêu tán” (“die out”) qua sự triệt thoái trong mọi trường hợp của sự sống tích cực và năng lượng tích cực và của lửa điện vốn là nguyên khí làm linh hoạt của mọi thái dương hệ, hành tinh hệ, bầu hành tinh, giới trong thiên nhiên và cả nhân loại. Việc này lại tạo ra trong mỗi trường hợp sự tàn tạ (dying out) của “sự rực rỡ của mặt trời”, hoặc là của ánh sáng được tạo ra bởi sự hòa lẫn của năng lượng dương và âm. Tất cả những gì còn lại trong mọi trường hợp, lần nữa là năng lượng quen thuộc của vật chất mà dựa vào đó và qua đó, năng lượng dương có một hiệu quả đáng kể như thế. Loại
836 thần lực âm này từ từ tiêu tan hay là tự phân tán và tìm vào kho chứa năng lượng trung ương. Như vậy dạng thức gần hình cầu bị tan rã. Điều này có thể được thấy đang diễn ra ngày nay trong trường hợp mặt trăng, và cùng qui luật vẫn đúng đối với mọi thể. Chúng ta có thể diễn đạt điều đó theo cách khác: Các Solar Devas (hay năng lượng bức xạ) trở về Tâm trung ương hay về nguồn cội phát ra chúng. Nguồn cội này giao lại thần chất cấp thấp tùy vào nội nhiệt riêng của chính nó, vì nó bao hàm sự triệt thoái của những gì kiến tạo vật chất thành hình hài. Thần chất này thuộc nhiều loại và có lẽ diễn tiến tiếp theo có thể được hiểu rõ hơn nếu chúng ta nói rằng khi hình hài kết thúc, các thần kiến tạo cấp thấp và các devas quay lại với hồn tập thể của họ. Một số trong các thần này, tức những vị tạo ra các thể của giới thứ tư trong thiên nhiên, do đó, họ là loại vật chất cao nhất mà qua đó tâm thức có thể biểu lộ trong ba cõi thấp, đang ở trên đường hướng về biệt ngã hóa, - họ đang ở gần giai đoạn con người

Tạp chí The Theosophist, quyển 29, trang 50.
hơn là vật chất của ba giới kia. Họ chiếm một vị trí trong cơ tiến hóa thiên thần tương tự với cơ tiến hóa mà con người đang giữ trong giới nhân loại (để ý rằng tôi nói giới, chớ không nói cơ tiến hóa) tức là người đang tiến gần Thánh Đạo. Mục tiêu đối với các thiên thần (dưới hàng các Solar Pitris) là sự biệt ngã hóa, và mục tiêu của họ là trở thành con người trong một chu kỳ tương lai nào đó. Mục tiêu đối với con người là điểm đạo, hay là trở thành một Dhyan Chohan hữu thức, và trong một chu kỳ xa xăm nào đó làm cho nhân loại của kỷ nguyên đó điều mà Solar Pitris đã từng làm cho nhân loại, và giúp cho biểu lộ hữu ngã thức của họ trở thành hiện thực. Như đã nói trước kia, mục tiêu dành cho một Solar Pitri là trở thành một Cung của Thượng Đế (1).
837 Trở lại với vấn đề mà chúng ta vừa xem xét – Đó là mặt trăng là một lực cản trở hay lực ác hại xét về mặt liên hệ đến

1 Mục tiêu cho các Pitris :
Các Lunar Pitris đang ở vào trình độ với các Nguyên khí thấp.
GLBN II, 82 a/ Các Ngài tạo ra các nguyên khí thấp của chúng ta. GLBN II, 92.
b/ Các Ngài sở hữu lửa sáng tạo nhưng không phải lửa thiêng.
GLBN II, 81, 82. c/ Các Ngài làm phát triển hình hài nhân loại. GLBN I, 203.
d/ Sau cùng các Ngài sẽ trở thành con người.
GLBN I, 203. So sánh GLBN II, 99.
Các Nguyên Khí cao ở trạng thái tiềm tàng trong động vật …
GLBN II, 266, 279. a/ Các Solar Pitris biểu hiện cho nguyên khí thứ 5… GLBN I, 241. b/ Các Ngài đem lại tâm thức cho con người … GLBN I, 204.
c/ Các Ngài cung cấp hiện thể cho Monad lâm phàm, tạo ra thể Chân
Ngã … GLBN I, 237. d/ Các Ngài phát triển mẫu nhân loại …
GLBN II, 243. So với GLBN II, 96
Địa Cầu và là lực sản xuất ra “các ảnh hưởng tai hại”, cũng giống như các cơ thể đang tan rã đều có tính hủy diệt. Các thể đó tồn tại bên trong vòng-giới-hạn thái dương, (1) cho đến nay chưa được nhận ra, còn các chòm sao đang tan rã (có nhiều chòm sao này trong vũ trụ mà các nhà khoa học không nhận ra và không hay biết) cũng có một tác động nguy hại lên thái dương hệ chúng ta và lên tất cả những gì đi vào vùng ảnh hưởng của chúng.
Có một chòm sao như thế nằm giữa chòm Tiểu Hùng Tinh (lesser Dipper) với thái dương hệ chúng ta, và một chòm sao khác, có liên hệ mật thiết với tinh tòa Pleiades (chòm sao

1 Các hành tinh không thấy được: “Không phải tất cả các hành tinh Intra- Mercurial, tuy vậy cũng không phải các hành tinh trong quỹ đạo của Neptune, tuy vậy được tìm thấy, dù chúng bị hoài nghi rất nhiều. Chúng ta biết rằng có sự tồn tại như thế và nơi mà chúng tồn tại; và rằng có vô số hành tinh “tàn tạ” họ nói – còn chúng ta nói ở trong Kỳ Qui Nguyên (Obscuration); - các hành tinh đang thành lập và chưa tỏa sáng, v.v…” “Khi bị ràng buộc như thế, “tasimeter” sẽ cung cấp năng lực không những chỉ đo nhiệt của các tinh tú xa nhất có thể thấy được, mà còn phát hiện bằng các phát xạ vô hình của các sao vốn không thấy được và cũng không thể phát hiện, do đó các hành tinh cũng thế. Nhà khám phá, một F.T.S. một số lớn được tìm ra bởi M., nghĩ rằng nếu, ở bất cứ điểm nào trong một không gian trống không của bầu trời – một không gian vốn có vẻ trống rỗng ngay cả qua một viễn vọng kính mạnh nhất – tasimeter chỉ cho thấy một sự đạt đến nhiệt độ và nhất định không thay đổi; điều này sẽ là một bằng chứng bình thường mà dụng cụ đang ở trong loại với thể tinh tú, hoặc không phát sáng, hoặc rất xa xăm vượt ngoài tầm quan sát của kính viễn vọng. Ngài nói, dụng cụ tasimeter của Ngài “bị tác động bởi một phạm vi rộng hơn của các độ cong của sóng dĩ thái (etheric undulations) hơn là Nhãn Quang có thể nhận biết”. Khoa học sẽ Nghe các âm thanh từ một vài hành tinh trước khi Thấy được chúng. Đây là một
Tiên Tri”. Mahatma Letters to A. P. Sinnett, trang 169.
Rua) và thái dương hệ chúng ta, vốn còn có một hậu quả sâu xa trên thể vật chất của Thái Dương Thượng Đế.
Đoạn trên được diễn đạt rất đặc biệt như thế vì các ảnh hưởng được cảm nhận trong thể thấp nhất của mọi thể, và chịu trách nhiệm cho nhiều điều vốn bị gọi một cách thiếu hiểu biết là “hắc đạo” (“black magic”). Hai chòm sao này đã trải qua các chu kỳ của chúng và “đang tan rã”. Một số sinh lực và năng lượng của chúng đã được chuyển giao cho thái
838 dương hệ chúng ta, giống như sinh lực của mặt trăng được chuyển giao cho địa cầu chúng ta, và điều này diễn ra như thế là nguyên nhân của nhiều tà lực xảy ra theo chu kỳ (cyclic evil). Tiến trình phân hủy và phóng phát tà lực đã dẫn tới còn có sức mạnh để ảnh hưởng đến các hình hài vốn chịu trách nhiệm cho những gì là một rung động trước kia đối với chúng. Vật chất của các hình hài này được liên kết về mặt từ điện với các thể đang phân hủy, cũng nhiều như dĩ thái hình được liên kết với lớp vỏ trọng trược của nó, và do đó các hiệu quả được biểu hiện. Lửa thanh luyện là cách chữa trị duy nhất cho sự hư hoại về từ điển này và điều này được vận dụng tự do bởi các Hành Tinh Thượng Đế trong các hành tinh hệ của các Ngài và bởi Thái Dương Thượng Đế trong thái dương hệ.

LỬA THANH LUYỆN
“Ngọn lửa cháy thấp. Một ánh mờ đỏ tẻ nhạt ngủ say trong Tâm của Mẹ. Hơi ấm của nó ít khi được cảm nhận. Đường thứ nhất và thứ nhì trong số các đường bên trong đập nhanh theo sự cháy, nhưng cái còn lại vẫn lạnh.
Các Con của Thượng Đế từ trung tâm trong cùng nhìn xuống. Các Ngài quan sát, kế đó chuyển sự chú mục và các ý tưởng của các Ngài sang các bầu khác. Thời điểm của các Ngài chưa đến. Các lửa của tinh hoa chất không được chuẩn bị trên bàn thờ cho các Thần Quân (Lords). Lửa hy sinh đã chờ trong chốn cao thâm nhất của nó và ánh sáng mờ kiên trì bên dưới tăng lên.
Lửa cháy rõ hơn. Lửa thứ nhất và lửa thứ nhì sáng lên từ từ. Độ sáng chói của chúng trở thành một đường Lửa sáng rực tuy cái thứ năm vẫn chưa được chạm tới. Các Con của Thượng Đế lại nhìn xuống. Trong một giây ngắn ngủi, các Ngài nghĩ đến Mẹ và cùng lúc các Ngài nghĩ đến lửa thứ ba đã bắt được. Một cách nhanh chóng, các Ngài nhìn đi vì hình hài cho đến nay được chuyển đi cho Các Ngài mà không có phản hồi nào. Sức nóng vẫn tiềm tàng và không hơi ấm bên ngoài nào vươn lên tới chỗ của Các Ngài.
Bao thiên kỷ trôi qua. Ánh sáng rực rỡ tăng thêm. Các khối cầu chiếm hình hài, nhưng tan rã nhanh chóng, vì thiếu lực kết hợp. Chúng đi qua. Chúng trở lại. Hoạt động không ngừng, tiếng động, lửa và sức nóng âm ỉ đặc trưng các chu kỳ của các Ngài. Nhưng các Chân Linh (Lhas) trong bầu trời cao của các Ngài bác bỏ công việc của tinh hoa chất này và chú mục vào trong Chính Các Ngài. Các Ngài trầm tư.
* * * * * * * * * * * *
Ánh sáng mờ trở nên cháy ổn định và ngọn lửa nhỏ được nhìn thấy. Lửa thứ nhất, thứ hai và thứ ba trở thành ba đường lửa và một tam giác được hoàn thành. Tuy nhiên cả bốn được nhìn thấy
839 tĩnh lặng và không đáp ứng với sức nóng. Như thế các chu kỳ và các sự sống tinh hoa chất đi qua và trở lại, công việc của chúng được tiếp tục.
Các hình hài đã được bố trí, tuy nhiên kỳ gian của chúng ngắn. Chúng không hoạt động, tuy thế chúng đi qua. Đã đến lúc cho sự thức tỉnh lớn lao. Chúng không xuống mà cũng không lên.
Đây là khoảng giao thời mà các Lhas trong chốn cao thâm của Các Ngài đã mong đợi. Các Ngài không tiến vào tuy thế các hình hài được chuẩn bị, nhưng cảm nhận giờ của các Ngài đang đến gần. Các Ngài trầm tư trở lại, và trong một khoảnh khắc, nhắm vào vô số lửa tam phân cho đến khi lửa thứ tư đáp ứng.
Sáu mươi giây trôi qua trong sự tập trung mãnh liệt tạo ra ba loại hình hài, ba tập hợp hình hài và vô số ở bộ ba. Tâm của Mẹ co lại và mở rộng với sáu mươi hơi thở nóng này. Các đường trở nên liên kết, khối lập phương được tạo thành, che chở ngọn lửa bên trong. Bàn thờ được chuẩn bị với bốn khán đài vuông vức. Bàn thờ cháy rực, đỏ ở tâm và ấm ở bên ngoài.
* * * * * * * * * * * *
Bàn thờ bùng cháy. Sức nóng của nó tăng lên, tuy nó không thiêu đốt, cũng không phá hủy. Sức nóng của nó, vốn không có ngọn lửa, đạt đến lĩnh vực cao; trong một giai đoạn ngắn, Các Con của Thượng Đế sưởi nóng Chính Các Ngài, tuy nhiên không tiến gần hơn đến nó cho đến khi một chu kỳ khác đi qua. Họ chờ thời điểm, thời điểm hy sinh.
Các Solar Lords, chọn Linh Từ đã được ngân lên bởi Các Con của Thượng Đế, sinh ra trong sức mãnh liệt của sự sống thái dương và tiến đến bệ thờ. Bốn tuyến đường rực sáng và bừng cháy. Mặt trời tập trung vào một tia; các Solar Lords chuyển tia đó qua chất liệu của Các Ngài và tiến gần đến bàn thờ. Tuyến thứ năm khơi hoạt và trở thành một điểm chói sáng, và kế đó một tuyến đỏ buồn tẻ, tính toán khoảng cách giữa bàn thờ với Đấng đang quán sát.
Lửa ngũ phân mãnh liệt bắt đầu chập chờn rồi bùng cháy. Nó chưa soi sáng bên ngoài; nó chỉ tỏa sáng. Các thiên kỷ trôi qua, các chu kỳ đến rồi đi.
Một cách đều đặn, các Solar Lords hy sinh chính Các Ngài; Các Ngài là lửa trên bàn thờ. Cái thứ tư cung ứng chất đốt (firel).
* * * * * * * * * * * *
Các Con của Thượng Đế vẫn quan sát. Công việc tiến gần đến hoàn tất cuối cùng. Các Lhas Vĩnh Cửu trong chốn cao thâm của các Ngài kêu gọi lẫn nhau, và bốn vị bắt đầu tiếng kêu: “Lửa đang cháy. Sức nóng đủ chăng?”
840 Hai trả lời nhau: “Lửa đang cháy; bàn thờ hầu như bị hủy. Cái gì xảy ra kế tiếp?” “Cho vào lửa chất đốt từ Trời. Hít thở dựa vào
lửa cháy bừng và quạt ngọn lửa của nó cho tới nóng rực hoàn toàn”.
Thế là lệnh phát ra từ Đấng đang quán sát, từ trước đến giờ vẫn im lặng, qua vô số thiên kỷ. Các Ngài đưa ra linh khí. Một cái gì đó ngăn chận con đường của linh khí. Các Ngài kêu gọi sự trợ giúp. Đấng làm cho sự xuất hiện của Ngài vẫn chưa được nhìn thấy.
Ngài nhấc lên cánh tay của Ngài. Một, hai, ba, bốn và năm nhập thành một và trộn lẫn với cái thứ sáu. Ngọn Lửa bốc lên, đáp ứng với linh khí. Sự biến mất cuối cùng của hình khối là cần thiết và kế đó công việc vẫn tiến tới”.
Trích Văn Khố của Thánh Đoàn.
c/ Các Danh xưng của các Hoa Sen Chân Ngã. Chúng ta có thể xem qua công việc tạo ra các hoa sen Chân Ngã trên cõi riêng của nó; điều này diễn ra y theo kết quả của công việc của các Agnishvattas, sau khi có sự phân chia trong không gian và tạo ra vòng giới hạn của nó. Chúng ta đã đề cập đến các giai đoạn xa xăm nhất và sớm nhất. Một điểm mà chúng ta chưa nhấn mạnh nhưng rất lôi cuốn đối với người nghiên cứu biết quan tâm. Đây là sự kiện về sự dị biệt hiện có giữa các Chân Ngã thể do bởi các giai đoạn phát triển khác nhau. Thí dụ, cho đến giữa căn chủng Atlantis (GLBN I, 196) (khi cánh cửa thoát kiếp thú được đóng lại), các Egos được nhận thấy ở nhiều giai đoạn khác nhau từ các “chồi” mới được tổ chức, tượng trưng các con người vừa mới thoát kiếp thú, cho đến các thể nguyên nhân đã phát triển cao của các đệ tử và các điểm đạo đồ khác nhau, các vị này đang giám sát cơ tiến hóa của nhân loại. Giờ đây, các Chân Ngã thể có thể được tập hợp từ các trình độ tiến hóa như sau:
Trên cõi phụ thứ ba của cõi trí:
Các egos chồi (bud egos). Hành tinh hệ của chúng ta, đang ở nửa mức tiến hóa của nó, do đó không có “các chồi” chưa khai mở nào, nói một cách chính xác. Mọi hoa sen Chân Ngã đều có ít nhất một cánh đang mở. Mọi hoa sen đều được sắp
841 xếp, nhưng có các dị biệt lớn lao trong số các hoa sen ít phát triển, hiển lộ bằng độ sáng chói của các vi tử thường tồn và trong giai đoạn khai mở cánh hoa.
Các hoa sen Brahma (Brahmic lotuses), trong đó cánh hoa thứ nhất hay cánh hoa tri thức được khai mở hoàn toàn. Chúng được gọi thế vì trên cõi trần, chúng tượng trưng người sáng suốt linh hoạt đầy đủ, người phát triển trí tuệ thấp, hạng công nhân thấp nhất, nông gia và người quê mùa trên mọi lục địa. Họ cũng được gọi là “tầng lớp sáng tạo thứ ba”, vì họ tự biểu lộ chỉ qua tác động sáng tạo vật chất trên cõi trần và phận sự của họ phần lớn để cung cấp các hiện thể cho những người thuộc nhóm riêng của họ.
Các hoa sen của Brahman, trong đó cánh hoa thứ hai là các dấu hiệu thấy rõ của khai mở và trạng thái thứ hai trong biểu lộ thấp nhất của nó là các dấu hiệu minh chứng thấy rõ. Chúng có cương vị tiêu biểu cho một số nhóm Egos của một vài hành tinh hệ, đáng chú ý là Jupiter và Venus, các Chân Ngã này ở đẳng cấp cao hơn là hạng nói trên, nhưng cho đến nay chúng có một con đường dài phải đi. Chúng được gọi là “các nhà sáng tạo cấp hai”, vì mặc dầu chúng biểu hiện trên cõi trần trong tác động sáng tạo vật chất, tuy thế, chúng bị chi phối bởi tình thương nhiều hơn là bởi bản năng thú tính như trong trường hợp đầu. Chúng được tìm thấy đang lâm phàm vào lúc này ở Đông Phương, đặc biệt là ở Ấn Độ và ở các xứ Latin, và chỉ mới đây thôi ở America.
Các hoa sen sơ cấp. Có một nhóm với sự quan tâm đặc biệt được đưa vào dưới ảnh hưởng của Đấng Chủ Quản Cung 5, và do đó, về căn bản có liên kết với năng lượng vốn là biểu lộ đặc biệt trong thái dương hệ này và là nền móng của mọi thành tựu, đó là manas. Chúng ở trạng thái bất động trong căn chủng Atlantis, nhưng đã xảy đến trong phụ chủng 4 và 5 của căn chủng này. Đó là một nhóm gồm một số lớn tiến hóa nhiều hơn các tầng lớp trước kia nhưng cần nhiều phát triển cánh hoa thứ hai. Đối với họ, các cánh hoa thứ nhất và thứ ba thuộc vòng tròn thứ nhất đang khai mở, nhưng cánh hoa giữa vẫn còn khép kín. Tầng giữa cũng không để lộ dấu hiệu nào của sức sống (vitality). Do bởi các tình trạng trong hành
842 tinh xuất phát của chúng, sự phát triển của chúng xảy ra có một chiều, và như thế sự tiến nhập của chúng dựa vào một làn sóng năng lượng trong hành tinh hệ này ngõ hầu “bổ sung” chính chúng, như cách gọi thông thường. Chúng có thể được nhìn thấy trong loại ích kỷ khoa học thuần túy trí tuệ. Chúng chịu trách nhiệm cho nhiều ứng dụng tiến bộ của khoa học cơ khí đối với nhu cầu của con người, và đối với việc đưa vào một vài kiểu loại máy móc; chúng hoạt động phần lớn liên quan với năng lượng của giới khoáng chất. Do việc này phải rút ra kết luận rằng các Solar Lords vốn là hiện thân cho kiểu mẫu này, được liên kết với một nhóm các Lunar Lords, các thần này đáp ứng bằng từ điện với các devas của giới khoáng chất. Công việc của các Ngài dành cho nhân loại hiện nay có một hậu quả tai hại, nhưng khi cánh hoa thứ nhì được khai mở, lúc bấy giờ các điều kỳ lạ sẽ được các thần này đạt tới trong việc phụng sự bác ái theo đường lối đặc biệt của riêng các Ngài, sẽ là một trong các yếu tố vốn sẽ làm phát triển lại giới thứ tư. Các Ngài sẽ đạt tới giải thoát trong cuộc tuần hoàn thứ năm, 4 phần 5 của các Ngài vượt qua Thánh Đạo, còn 1 phần 5 bị chậm trễ qua chu kỳ khác.
Các hoa sen của đam mê hay dục vọng. Chúng được gọi thế vì bản chất căn bản của chúng là bác ái được thể hiện dưới hình thức này hoặc hình thức khác. Phần lớn các Monads Bác Ái đều ở trong nhóm lớn này và họ được thấy lâm phàm trong hạng người khá giả, nhân hậu trên thế giới. Họ được chia thành năm nhóm, trong đó ba nhóm được thoát kiếp thú trên hành tinh này, còn hai nhóm được thoát kiếp thú gần nhất trên dãy nguyệt cầu. Các Monads này có hai cánh hoa khai mở còn cánh hoa thứ ba đối với họ vào lúc này là mục tiêu chú ý của họ. Nhiều người có thể thành công trong việc khai mở cánh hoa đó trước căn chủng thứ bảy của cuộc tuần hoàn này, còn đa số trong họ sẽ khai mở cánh hoa đó trong căn chủng thứ hai của cuộc tuần hoàn kế tiếp, và sẽ ở trong tình trạng sẵn sàng trước khi kết thúc cuộc tuần hoàn để chuyển qua con dường dự bị, nhờ đã khai mở một tầng cánh hoa và chuẩn bị tầng thứ hai. Tất cả các hoa sen này của chu kỳ vòng tròn thứ nhất được chia thành nhiều nhóm, giữa chúng sự tương tác vẫn tiếp tục; năng lượng trong bất cứ trung tâm 843 nào cũng tạo ra năng lượng phản xạ trong trung tâm khác. Cần phải nhớ rằng trong việc đóng lại cánh cửa trong thời Atlantis đối với giới động vật, và việc ngưng lại tạm thời do hậu quả của việc định hình (forming) của bất cứ “hoa sen chồi” nào thêm nữa đều có hậu quả kép, theo các hướng khác hơn là hướng của con người hoặc động vật. Đó là kết quả quyết định bên trong về phía Hành Tinh Thượng Đế để chuyển sự chú ý của Ngài ra khỏi tác động sáng tạo trên cõi trí thái dương hệ đến công việc tiến hóa đang tiếp diễn. Điều này tạo ra việc chấm dứt một vài loại hoạt động, tạo ra sự bất động trong một số trung tâm lực của Ngài và một hoạt động tăng lên nơi các trung tâm khác. Điều đó cũng có một hiệu quả trên các Solar Angels, và tất nhiên trên Tâm của thái dương hệ từ nơi mà các Ngài được thu hút. Các dòng năng lượng hay các luồng thần lực từ tâm mặt trời (Mặt Trời chưa biểu lộ) bị chận lại và được hướng đến nơi khác, trong khi các Pitris đã linh hoạt bắt đầu tập trung sự chú ý của các Ngài vào công việc đã bắt đầu, và tạm thời các điểm khởi đầu mới không hoạt động. Ở đây đừng quên rằng công việc của các Solar Pitris theo quan điểm của các Ngài, trước tiên không phải là sự tiến hóa của con người, mà là tiến trình phát triển riêng của các Ngài trong thiên cơ của Thái Dương Thượng Đế. Với các Ngài, cơ tiến hóa của nhân loại chỉ là một phương cách.
Những người hoàn thiện đều ở trong các hội đồng huyền linh (councils) của Hành Tinh Thượng Đế thuộc cung đặc biệt của họ; các Solar Pitris đều ở trong council của Thái Dương Thượng Đế. (Tất cả các Solar Pitris này đều sẽ trở thành các Thái Dương Thượng Đế thuộc các đẳng cấp khác nhau).
Ở đây, có thể là hữu ích nếu chúng ta tạm thời dừng lại việc xem xét của chúng ta về các nhóm Chân Ngã và liệt kê vắn tắt các cơ tiến hóa, nhớ rằng trong bảng liệt kê này, chỉ có các cõi biến phân (planes of differentiation) có liên hệ đến; trên cõi của cái không biểu lộ hoặc của cái bên trong (the subjective), chỉ có cái đơn nhất (unity) được nhận biết. Lần nữa phải nhớ rằng thuật ngữ “không biểu lộ” (“unmanifest”) là thuật ngữ chỉ tương đối quan trọng, và liên quan đến nhận thức của con người, về tất cả những gì hiện hữu. Đối với Thái Dương Thượng Đế các cõi của cái không biểu lộ đều thuộc ngoại cảnh. Con người cho tới nay chưa đạt được nhãn thông
845 dĩ thái và các cõi phụ dĩ thái đến nay chưa biểu lộ đối với con người. Thái Dương Thượng Đế có nhãn thông dĩ thái vũ trụ đã phát triển đầy đủ, và vì Ngài đang ở trên Vũ Trụ Đạo (cosmic Path) mọi việc đều được hiểu biết và được hiển lộ đầy đủ đối với Ngài bên trong Thái Dương Hệ.

Nơi đây có thể ghi nhận rằng Thực Thể hành tinh là toàn thể mọi sự sống của tinh hoa chất (elemental lives) của các Thần Kiến Tạo cấp thấp hoạt động vì, hoặc tạo thành, vật chất của bất cứ bầu hành tinh dặc biệt nào đang biểu lộ thành vật chất. Bí ẩn của toàn bộ vấn đề ẩn giấu trong ba sự việc :
Sự kiện thứ nhất là ba cõi của chúng ta, cõi trần, cõi cảm dục và cõi trí, tạo thành thể trọng trược của Thái Dương Thượng Đế, do đó, không được xem như tạo thành các nguyên khí.
Sự kiện thứ hai là các “sự sống” cấp thấp hay là linh khí tinh hoa chất (elemental essence) là “vật phế thải” của một thái dương hệ trước và phản ứng với các xung lực có sẵn mạnh mẽ đến nỗi nó chỉ có thể kiềm chế chúng qua ý chí mạnh mẽ của Thái Dương Thượng Đế, áp đặt một cách hữu thức. Từ ngữ “refuse” (“vật phế thải”) phải được lý giải một cách tương tự, và như được hiểu khi nói rằng con người gom vào chính mình trong mỗi lần luân hồi mới, vật chất để tạo thành nhục thân của mình vốn được nhuốm màu bằng các rung động trước kia của các lần luân hồi trước. Các “sinh linh” này đã đang từ từ thu giảm trong toàn bộ chu kỳ đại khai nguyên khi nó trở nên an toàn và có thể kiểm soát và khuất phục chúng theo ý chí của các Thần Tạo Tác cao cấp hơn. Có nhiều trong số năng lượng – vật chất trước kia trong cấu tạo thái dương hệ đã chuyển đổi thành lực – vật chất mà chúng ta gọi là lực- vật chất của Lunar Pitris, và vị trí của nó đã từ từ được thay thế bởi loại năng lượng này, được tập hợp từ phạm vi lớn hơn mà Thượng Đế chúng ta có vị trí trong đó. Sau rốt 12 cuộc tiến hóa chỉ là 12 kiểu mẫu năng lượng, bao giờ cũng biểu lộ trong ba nhóm thần lực, và lại với tư cách một nhóm khi được tổng hợp trong tiến trình biểu lộ.
Chúng có bốn mặt trong sự tương tác, và có một dao động của thái dương hệ về những gì ít được biết tới.
Thứ ba, sự kiện về việc tiến vào lâm phàm của “sự sống”
846 làm linh hoạt của vật chất cấp thấp này, vị này là một thực thể theo một quan điểm trong các Cõi Trời (Heavens) vốn có thể không được ghi nhớ: Ngài tượng trưng cho các ảnh hưởng của một bản chất trí tuệ, mà manas (trí tuệ) ở mức rung động thấp nhất của nó. Có thể một số ý tưởng về điều này nên được tập hợp lại nếu nó được nêu ra rằng có một tương đồng giữa rung động này, hay sự sống mang năng lượng này, với rung động căn bản của thái dương hệ có trước thái dương hệ này. Chúng ta phải nhớ rằng rung động căn bản của chúng ta là kết quả của diễn trình tiến hóa của toàn thể thái dương hệ trước. Thực thể này có cùng mối liên hệ tương đồng với cơ tiến hóa thiên thần khi các “nhịp cầu” huyền bí làm rối trí các nhà khoa học và nó được tìm thấy giữa giới thực vật với giới động vật, và giới khoáng chất với giới thực vật; chúng không phải là cái này mà cũng không phải là cái kia. Ở một giai tầng lớn, “sự sống” hay thực thể làm linh hoạt này so với sự sống thấp hơn của cõi trần của thái dương hệ, không phải là một người tiêu biểu toàn vẹn của sự sống tiềm thức của thái dương hệ trước, mà cũng không phải là sự sống tinh hoa chất (elemental life) của thái dương hệ này; chỉ trong thái dương hệ tới sẽ chứng kiến sự biểu lộ của một hình thức tâm thức thuộc một loại mà hiện nay không thể hình dung được đối với con người. Về mặt huyền bí, y được cho là “không có thị giác, mà cũng không có thính giác; về cơ bản, y không phải là deva, mà cũng không phải là con người huyền linh học, y bị “mù”, hoàn toàn không hay biết; y chỉ có khả năng hoạt động và tương tự cái phôi trong tử cung; những gì xảy đến với việc ra đời chỉ có
chu kỳ lớn hơn sắp tới mới được tiết lộ. Bí ẩn của mặt trăng (GLBN I, 172, cước chú) hoặc của “người điên thiêng liêng” (“divine lunatic”) có liên quan phần nào với sự khai mở (qua lòng trắc ẩn đến sớm của Hành Tinh Thượng Đế chúng ta) của sự sống đối với bản chất này, đang làm linh hoạt bầu trọng trược của dãy nguyệt cầu. Trên cõi cao của Ngài, lòng thương xót thức dậy trong tâm của Hành Tinh Thượng Đế đối với một vài sự sống tiến hóa giáng hạ bên trong dãy nguyệt cầu, và (giống như Đức Phật trên nấc thang thấp hơn và ở một thời kỳ muộn hơn nhiều) nhiệt tâm thương xót đưa tới các kết quả về karma mà chúng ta vẫn còn liên quan với nó. “Thú tính” (“the beast”) phải được đẩy lùi vì bản chất tốt của chính nó trải qua chu kỳ của nó, ẩn nấp trong sào huyệt của con người và ràng buộc bên trong các ranh giới an toàn cho đến lúc bình minh của một thái dương hệ mới đưa y đến cơ hội có ý thức.
Còn nhiều điều nữa chúng tôi không thể nói. Cần phải nhớ rằng các bí ẩn về sự sống, cho đến nay chỉ được con người biết rất ít. Trong trường hợp các bí ẩn sâu xa nằm bên dưới, thì con người thường hoàn toàn không biết về nó; và thường thường con người vẫn mù mờ, không hay biết đến một bí ẩn nào cả, mà chỉ những ai có mắt biết nhìn, có tai biết nghe mới khai mở được cái huyền vi. Khi con người đã thấu nhập vào các bí ẩn này vốn nằm đàng sau các giới thấp trong thiên nhiên, khi y đã giải đáp được vấn đề về cấu tạo bên trong của Địa Cầu, và từ đó đã thực hiện cách của mình trở lại với việc hiểu biết về con đường tiến hóa hướng hạ và các
847 sinh linh đang bước trên con đường đó, lúc đó và chỉ lúc đó, y mới bắt đầu hiểu được cái mới lạ của những gì nằm ngoài phạm vi hiểu biết của y.
Một ẩn ngôn cao xa hơn có thể được đưa ra, nó sẽ được dùng để chiếu một tia sáng vào vấn đề cho những ai sẵn sàng và sẽ làm tăng thêm sự bối rối của người không có trực giác : - Theo quan điểm của Đấng Bất Khả Tư Nghị, đối với Đấng này, thái dương hệ chúng ta chỉ là một trung tâm lực (mà trung tâm lực nào vốn là một trong ba chân lý được tiết lộ ở Cuộc Điểm Đạo thứ bảy).
a/ Thái dương hệ I ............ được đặc trưng bởi việc tổ chức của một trung tâm lực, và sự sống huyền bí mà chúng ta đã nói đến, được tạo ra bởi “rung động thấp nhất của trung tâm lực đó”.
b/ Thái dương hệ II .......... được đặc trưng bởi hoạt động trong ba chiều đo của trung tâm lực này và sự tiến hóa của ba loại tâm thức, đó là tâm thức thiên thần, nhân loại và dưới nhân loại, trong tất cả nhiều đẳng cấp và huyền giai của chúng. Đó là giai đoạn quân bình của các lực trong trung tâm lực.
c/ Thái dương hệ III ......... sẽ được đặc trưng bằng hoạt động của bề đo thứ tư của trung tâm lực, và 12 kiểu mẫu tiến hóa sẽ trở thành bốn loại thần lực.
848 Điều này hầu như không thể hiểu được đối với con người và dường như sẽ không thể giải thích được, nhưng ẩn ngữ này được truyền đạt để cho con người có thể hiểu được sự tương thuộc của các thái dương hệ khác nhau và vị trí mà chúng nắm giữ trong một hành tinh hệ vĩ đại hơn; chủ ý là không trao cho nhà nghiên cứu các sự kiện không có tương quan với nhau vì hiển nhiên không hữu ích cho y. Nếu không có các điều đã nói ở trên về vị trí của chúng ta trong một hành tinh hệ rộng lớn, các suy diễn của con người sẽ vẫn thiếu chính xác.
Bây giờ, chúng ta sẽ tiếp tục cách liệt kê của chúng ta về các nhóm Egos tùy theo các đặc tính của chúng, nhưng có thể là khôn ngoan khi trước tiên bàn đến một vấn đề vốn có thể hiện ra trong một số trí óc và xem xem nó có thể giải đáp được hay không. Hai vấn đề hiện ra trước trí óc của người nghiên cứu biết suy tư; một có liên quan đến vị thế (liên quan đến bất cứ hành tinh hệ đặc biệt nào) của các nhóm lớn các Egos, vốn được biểu hiện bởi các Đấng (Lives), xuất phát từ bất cứ Cung nào trong số bảy Cung, và kết hợp với bất cứ cái nào trong số các hành tinh hệ khác nhau. Vấn đề còn lại có liên quan đến hậu quả được tạo ra bởi việc “tiến nhập” (“coming-in”) của các Egos trên cõi trí vốn không phải là các Egos “mầm”, mà có thể phát triển rất đầy đủ, như là các đệ tử và điểm đạo đồ.
Các ý tưởng này có thể được làm sáng tỏ nếu vài trần thuật được đưa ra liên quan đến cõi trí, và sẽ được dùng như là các chỉ dẫn về phương hướng trong đó cách giải quyết của các vấn đề này có thể được tìm đến.
Như H.P.B. có nêu ra, cõi trí là cõi rộng lớn nhất trong tất cả các cõi mà chúng ta có liên hệ đến. Đó là cõi nòng cốt (key plane) của thái dương hệ. Đó là cõi then chốt (pivotal) mà Bánh Xe vĩ đại đang quay quanh. Đó là nơi gặp gỡ của ba đường lối tiến hóa và vì lý do này mà huyền bí học đã đặt tên là “hội đồng huyền linh của Ba Thánh Linh” (“the council chamber of the Three Divinities”). Trên cõi này, Ba Ngôi của Tam Vị Nhất Thể Thượng Đế gặp nhau trong công việc hợp nhất. Bên dưới hai Ngôi (Persons) có thể được thấy kết hợp; bên trên một nhị nguyên khác hoạt động, nhưng chỉ trên cõi này mà cả Ba tạo ra sự nhất quán.
849 Tất cả các Thượng Đế của các hành tinh hệ khác nhau đều biểu hiện Chính Các Ngài trên cõi này. Có một vài hành tinh
hệ trong thái dương hệ tìm được biểu lộ thấp nhất của chúng trên cõi này, và không có thể vật chất nào như là Địa Cầu và các hành tinh thô đặc khác. Chúng tồn tại qua môi trường chất khí, và lĩnh vực biểu lộ của chúng chỉ được làm bằng bốn chất dĩ thái vũ trụ các chất khí vũ trụ. Nhưng tất cả các Đấng Cao Cả của thái dương hệ chắc chắn có các thể bằng chất trí thuộc thái dương hệ chúng ta, và do đó trên cõi đó, sự tương giao giữa tất cả các Thực Thể (Entities, Đấng Cao Cả) này mới có thể xảy ra. Sự kiện này là nền tảng của nhận thức huyền linh học, và là căn bản đích thực cho sự nhất quán. Vật chất của các cõi phụ trừu tượng của cõi trí đi vào thành phần của các hiện thể đối với tất cả các Đấng Vĩ Đại này, và qua môi trường của vật chất mang năng lượng này mà mỗi Đấng có thể giao tiếp với nhau, bất luận mục tiêu thành tựu cá biệt của Các Ngài có thể là gì đi nữa. Do đó, các đơn vị trong các thể của các Ngài có thể cũng tiếp xúc với tất cả các Egos khác và các nhóm này một khi họ đã đạt được tâm thức của cõi trí (tâm thức thượng trí) và biết được các “yếu tố quyết định” khác nhau của nhóm, các âm điệu (tones) và các sắc thái của nhóm.
Tất nhiên điều sẽ lộ ra đối với người nghiên cứu thận trọng là trong sự kiện này có ẩn giấu mối liên hệ đích thực giữa các nhóm Egos khác nhau, bất luận mức tiến hóa có ra sao, hoặc thuộc cung nào và trong đó họ có thể thuộc hành tinh hệ nào. Nơi đây, chân lý căn bản có dính líu đến có thể được hiểu rõ hơn nếu các cách diễn đạt theo huyền linh học sau đây được nghiên cứu :
“Bên trong Phòng Vô Minh kama-manas chi phối. Bị đè nặng bởi nhiều dục vọng đặt sai chỗ, con người mưu tìm mục tiêu chú ý của tâm mình bên trong các phòng tối tăm với ảo giác dày đặc. Y tìm mục tiêu nơi đó, nhưng tàn lụi trước khi tích trữ mọi kết quả mong mỏi từ lâu. Rắn độc cắn vào y, còn niềm vui đã mong ước lùi ra xa khỏi nắm tay y. Thế nên tất cả đang tìm các kết quả ích kỷ của karma, đều phải coi thường lẫn nhau; vì vậy tranh chấp và hám lợi, hận thù và căm ghét, tan vỡ và trừng phạt, khẩn cầu karma và sấm sét để báo thù là đặc trưng cho Phòng này.
Bên trong Phòng Học Tập trí tuệ chi phối và tìm cách hướng dẫn. Ham muốn thuộc loại cao siêu, kết quả của manas và công dụng của nó thay thế cho cái thôi thúc thấp của dục vọng (lower kamic urge). Con người cân nhắc và làm cho quân bình, và trong Phòng Trí Tuệ tranh tối tranh sáng, tìm kiếm kết quả của tri thức. Con người tìm thấy nó, nhưng để hiểu được tri thức đó thì hầu như không; y tàn tạ trên cánh đồng tri thức mở rộng, nghe thấy một tiếng kêu đập vào các lỗ tai đang hấp hối của y: “Hãy biết rằng kẻ có tri thức quan trọng hơn là tri thức; kẻ đang tìm kiếm quan trọng hơn là cái được tìm kiếm”.
Bên trong Phòng Minh Triết Tinh Thần ngự trị; Đấng Cao Cả bên trong các đấng thấp kém đảm đương việc kiềm chế. Sự tử vong không được biết đến bên trong các phòng này, vì hai cánh cổng lớn của nó được chuyển qua. Cả hai sự thiếu hài hòa và tranh chấp đều biến mất, chỉ có sự hài hòa được nhìn thấy. Những kẻ có hiểu biết thấy chính họ như là Cái Duy Nhất; họ nhận biết lĩnh vực mà trong đó tri thức tăng trưởng dưới hình thức không hài hòa và biến phân của Brahma. Tri thức mà họ biết như là phương pháp, một khí cụ với mục đích được dùng bởi mọi người và chỉ một mầm mống của nhận thức rốt ráo. Bên trong phòng này, sự hợp nhất của mỗi cái với cái khác, trộn lẫn giữa một và tất cả, và sự thuần nhất của hành động, mục tiêu và sự khéo léo đánh dấu mọi nỗ lực cao”.
Nếu các lời này được suy nghiệm kỹ, người ta sẽ nhận ra rằng sự hợp nhất đích thực hiện có trong cái nhận thức rằng sự sống vĩ đại bao giờ cũng bao gồm sự sống nhỏ hơn, và rằng mỗi sự mở rộng tâm thức đưa con người lại gần hơn với Cái Duy Nhất đã được nhận thức này.
Do đó, nếu người ta có thể mạo muội nói rằng một sự trừu xuất và một trạng thái tâm thức về thời gian và không gian, và qua giới hạn của ngôn ngữ, có thể nói rằng trên các phân cảnh Chân Ngã, hay là trên ba cõi phụ cao của cõi trí, có hiện hữu một vận hà giao tiếp, dựa trên sự tương tự về mức rung động và sự duy nhất của nỗ lực, giữa mỗi một trong số các hành tinh hệ, bên trong vòng giới hạn thái dương. Ở đây và chỉ ở đây (đối với ba cõi thấp và giới nhân loại), có thể thiết lập các liên hệ Chân Ngã, và sự truyền chuyển chất liệu tư tưởng giữa a/ Các đơn vị và các nhóm Chân Ngã.
b/ Các nhóm và các tập thể khác.
851 c/ Các nhóm lớn hơn với các nhóm còn lớn hơn hoặc nhỏ hơn nữa.
d/ Các Chân Ngã trong một hành tinh hệ với các Chân Ngã trong hành tinh hệ khác.
Ah-hi, tức các Thần Tạo Tác cấp cao (Do ngôn ngữ Sensa có nghĩa là “rắn”. Đây là các Minh Triết Long. Xem GLBN I, 55, 69). Các Ngài là các Thần Quân (Lords) đang thể hiện thiên ý của Thái Dương Thượng Đế, chủ yếu là vận dụng hai cõi để giao tiếp với nhau và với đội ngũ của Các Ngài.
Thứ nhất, cõi thứ nhì, nơi mà Các Ngài giao tiếp bằng phương tiện tâm linh mà hiện nay con người không thể hiểu được.
Thứ hai, cõi trí, nơi mà các Ngài giao tiếp với tất cả các sự sống thấp kém bằng loại viễn cảm trí tuệ.
Việc “tiến nhập” (“coming-in”) của các Egos tiến hóa từ cuộc nội tuần hoàn, hay là từ các hành tinh hệ khác, hay là từ các lĩnh vực tinh anh hơn nơi mà họ đã ở trong cơ hội chờ đợi của pralaya, được tạo ra theo một cách tam phân và là kết quả của một hoạt động tam phân. Điều đó được tạo ra bởi một hiểu biết giữa vị Hành Tinh Thượng Đế của một hành tinh hệ, và một Hành Tinh Thượng Đế huynh đệ, nhờ đó một sự trao đổi được thực hiện. Ở đây, người nghiên cứu phải suy tư bằng các thuật ngữ về lực và năng lượng, về sự tương tác từ lực và sự truyền chuyển hữu thức năng lượng ra khỏi cơ thể của Hành Tinh Thượng Đế, xuyên qua nhiều hoặc một trung tâm lực, vào trong cơ thể của một Hành Tinh Thượng Đế khác. Nguyên nhân ở đây là ý chí hoặc mục tiêu, đối tượng là cảm giác, còn phương pháp là sự chuyển di thần lực. Chính xác là cùng sự hiểu biết nằm đàng sau việc tiến nhập của các egos từ cuộc nội tuần hoàn, chỉ lần này năng lượng được đưa ra bởi một vài đấng cao cả (existences) (đang hoạt động kết hợp với bất luận vị Hành Tinh Thượng Đế nào) các ngài là “các vị giám sát của vòng trong” (the “custodians of the inner circle”). Cách nói này đề cập đến một bí ẩn và bàn đến việc tiến-nhập của các Chân Ngã cao siêu, của các Đấng Hóa Thân
852 (Avatars), của các Đức Phật, của các Đức Thầy, của các điểm đạo đồ, và của các đệ tử, và, hoặc là tất cả những ai đang chờ sự thôi thúc của nhóm chớ không phải của cá nhân, để làm tròn karma theo chu kỳ trên một giai tầng rộng lớn, và các “bánh xe” (“wheel” luân xa) của họ được kiểm soát bởi các vũ trụ lực chớ không phải chỉ thuần là các lực của thái dương hệ.
Một yếu tố khác có thể được gọi là các quả về Karma của các hạt giống được gieo trong thời xa xưa và ẩn giấu trong các bí mật của thái dương hệ, hành tinh hệ hoặc dãy hành tinh trước kia tùy theo trường hợp. Cả ba nhóm biểu lộ này đều theo sức thôi thúc của karma, và chính xung lực này đang chi phối chu kỳ thời gian và phương pháp xuất hiện trong bất cứ nhóm Chân Ngã hành tinh nào, với các mầm hoa sen mới sinh, hoặc với các hoa sen vốn được gọi là “chuyển đổi huyền bí”. Các nhóm sau này có lẽ thuộc một trình độ khai mở cao. Điều này có thể xảy ra trong các trường hợp cá nhân và trong trường hợp của toàn bộ các nhóm.
Một yếu tố thứ ba có liên quan với sự chuyển di các Egos hoặc các hoa sen từ một lĩnh vực hoạt động này sang lĩnh vực khác, và điều này tất phải tạo ra các tình trạng kêu gọi sự xuất hiện của các bí huyệt tương tự thay thế vị trí của chúng. Năng lượng được truyền đạt phải được cung cấp từ nơi khác, và đây là một yếu tố dẫn dắt khác cho sự xuất hiện của các hoa sen Chân Ngã trong bất luận hành tinh hệ nào. Định luật bảo toàn thần lực vẫn đúng trên bất cứ cõi nào.
Toàn bộ vấn đề chuyển di các hoa sen Chân Ngã từ bất cứ hành tinh hệ này đến hành tinh hệ khác, hoặc từ dãy hành tinh này đến dãy khác, trên cõi trí là một rắc rối rất thực, và không thể được làm sáng tỏ đối với đệ tử chưa thệ nguyện. Chỉ có các chỉ dẫn chung này có thể được đưa ra bất cứ lúc nào.
Cũng nên nhớ rằng liên quan với hành tinh chúng ta có các Egos xuất hiện trong các nhóm này mà các hoa sen của chúng không được tạo ra theo kết quả của Định Luật Hút đang tác động giữa giới động vật của bầu hành tinh với các Tam Thượng Thể, mà vốn là các Egos đã biệt ngã hóa ở nơi khác, và do đó các Egos này tiến nhập với các cánh hoa của chúng đã được sắp xếp, và có lẽ với nhiều cánh hoa chưa khai
853 mở. Tất nhiên điều này có một ảnh hưởng sâu xa cả trên các nhóm mà chúng xuất hiện trong đó, lẫn trên mẫu người sẽ xuất hiện sau đó trong việc luân hồi ở cõi trần. Điều này được nói đến trong bộ GLBN khi vấn đề về các huấn sư buổi đầu và các thánh vương (divine kings) đến sở hữu các thể xác có mặt mũi xấu xí của nhân loại thuở ban đầu, đã được bàn đến ( ) (Xem phần đầu của GLBN, quyển II).
Chúng ta tiếp tục xem xét về các nhóm Chân Ngã : có thể nói vắn tắt rằng các nhóm Chân Ngã liên quan với hành tinh chúng ta có thể được tập hợp thành nhóm một cách sơ sài tùy theo giai đoạn của cấu tạo hoa sen, như sau :
a/ Các Egos vốn được tạo ra qua tiến trình thoát kiếp thú trong thời Lemuria. Chúng là nhân loại thực sự của Địa Cầu, cùng với nhóm thứ hai.
b/ Các Egos đã thoát kiếp thú trong căn chủng Atlantis
cho đến khi cánh cửa được đóng lại.
c/ Các Egos đã “tiến-nhập” (“come-in”) từ dãy nguyệt
cầu và họ tiến hóa nhiều hơn là nhân loại ở địa cầu.
d/ Các Egos đã lao vào từ thời Atlantis để chiếm chỗ của các Egos đã đạt mức giải thoát và các thể nguyên nhân của họ đã biến mất, hay là các hoa sen của họ đã “tan biến” để lại một khoảng trống trong chất lực (force substance) vốn phải được cung cấp và lấp đầy. Thường thường chúng tiến nhập vào từ một trong số hai hành tinh hệ:
1. Từ hành tinh hệ được biểu hiện bởi đối cực của Hành Tinh Thượng Đế chúng ta.
2. Từ hành tinh hệ nào có liên kết với hai hành tinh hệ này trong việc tạo thành một tam giác của thái dương hệ.
854 Tất nhiên, các trường hợp này hiện nay hiếm có, nhưng sẽ trở nên thường hơn khi ngày càng nhiều nhân loại nhận được Điểm Đạo thứ tư.
e/ Một vài Egos hay các hoa sen hiếm hoi từ các hành tinh hệ không được liệt kê trong tam bộ nói trên. Chúng thường chỉ được đưa vào sao cho chúng có thể hoàn thành một vài phát triển trong chính bản chất của chúng, để xúc tiến công việc thực nghiệm liên quan với giới thiên thần, hoặc là để tạo ra một vài kết quả tập thể theo ý muốn của Hành Tinh Thượng Đế. Thường thường chúng không giáng xuống vào trong nhục thân mà trước tiên hoạt động trên các cõi phụ trí tuệ và cảm dục, sau rốt quay lại với các phạm vi riêng của chúng trong các giai đoạn giải thoát cuối cùng.
Tất cả các hoa sen này với vô số biến phân của chúng, đều có các ảnh hưởng đặc biệt lên nhau trên các phân cảnh trí tuệ, và cho đến nay, các ảnh hưởng này hoàn toàn không được con người hiểu rõ. Tuy nhiên, chúng là nền tảng của tâm lý học chân chính và là nền tảng của mọi hoạt động đích thực. Nhà nghiên cứu cần suy nghiệm kỹ về ảnh hưởng mà bất cứ Ego tiến bộ nào cũng có thể muốn có được trên :
a. Các Egos khác trên nhóm của y.
b. Solar Pitris vốn là vật chất của nhóm.
c. Lunar Pitris, các vị này được liên kết với Solar Pitris
qua các vi tử thường tồn.
Trên đây, chúng ta đã liệt kê một vài hạng mục của các nhóm Egos được tìm thấy trên các cõi phụ nguyên nhân của cõi trí, để mang lại cho các đạo sinh một số ý tưởng về sự bao la của đề tài và sự phức tạp của vấn đề. Cần phải nhớ rằng trên cõi phụ thứ ba của cõi trí, không có sự tách rời cá nhân như là chúng ta thấy khi ở trong biểu lộ vật chất, tuy thế việc phân chia nhóm lại được nhận thấy. Các nhóm này lại quá nhiều không thể liệt kê chi tiết. Chúng ta đã phác thảo và đặt tên cho năm trong số các nhóm lớn như được ghi vào mục lục dưới một sắp xếp thành bảng liệt kê trong Phòng Ký Ảnh (Hall of Records). Có các phương pháp liệt kê khác, và ngay cả theo một phương pháp được dùng ở đây, năm nhóm này, mỗi nhóm được chia nhỏ thành mười nhóm và các nhóm này lại được tách ra thành các đơn vị nhỏ hơn, tất cả các đơn vị đó đang được hiểu rõ và mô tả bằng một số ký hiệu.
Khi chúng ta tiến nhập vào cõi phụ thứ hai của cõi trí (cõi mà nơi đó có các thể Chân Ngã của nhân loại tiến hóa, của các đệ tử và của các điểm đạo đồ) phương pháp phối hợp sẽ tùy theo :
a. Cung chính (Ray).
b. Cung phụ (subray).
c. Bộ môn (dù là ở dưới quyền Đức Bàn Cổ, Đức Văn Minh Bồ Tát hoặc Đức Bồ Tát trên hệ Địa Cầu của chúng ta hoặc các vị tương tự của các Ngài trên các hành tinh hệ khác).
d. Nhóm của Đức Thầy.
Tất cả các hoa sen Chân Ngã này đều được tổ chức, và có một số cánh hoa đã khai mở, trong khi một số khác ở trong giai đoạn phát triển cuối cùng.
Chúng cũng được tập hợp theo ba đề mục :
Các hoa sen khai mở. Các hoa sen mà trong đó “bảo ngọc” vừa lúc sắp sửa được khai mở.
Các hoa sen có hương thơm. Các hoa sen này có “mùi” hay hương vị huyền linh đang lan tỏa ra chung quanh chúng. Chúng là các Egos mà cho đến nay hoàn toàn khai mở tầng cánh hoa cuối cùng, nhưng các sự sống của chúng có sức thu hút (magnetic force, từ lực) trong ba cõi thấp, còn các quá trình phát triển của chúng được phân biệt bằng việc phụng sự không ích kỷ.
Các hoa sen tỏa sáng, hay các hoa sen có ánh sáng bắt đầu tỏa chiếu giống như ánh sáng trong chỗ tối.
Chúng cũng được chia nhóm theo các màu nguyên thủy, theo sắc thái phụ, theo âm điệu (key or tone), và một phân
856 loại toàn bằng số. Có thể đáng quan tâm đối với người nghiên cứu nếu ở đây chúng ta nêu ra rằng trong Phòng Ký Ảnh, liên quan với các Egos nhân loại, một số ký ảnh dưới thuật ngữ biểu tượng, giữ một liệt kê tỉ mỉ về các sự kiện sau đây liên quan đến mỗi đơn vị.
Ký ảnh về nguyệt cầu (lunar record). Ký ảnh này liên quan đến tất cả các hiện thể và hình tướng thấp kém, được Chân Thần con người vận dụng và chính nó liên quan với:
a. Tốc độ rung động của chúng,
b. Loại của chúng (type),
c. Số then chốt (key number) của chúng
d. Nhóm đặc biệt của các Lunar Lords có liên quan đến
các thể này,
e. Quá trình lịch sử tỉ mỉ của các sự sống tinh hoa chất,
chúng tạo ra các thể này.
Thông tin này được sử dụng bởi các thần phụ trách về nghiệp quả (karmic official), chịu trách nhiệm cho việc tạo ra một tập hợp mới các hiện thể ở mỗi lần luân hồi, để tiếp tay vào việc thanh toán karma. Lịch sử của các nguyệt thể (lunar bodies) được tích chứa trong các vi tử thường tồn.
Ký ảnh thái dương. Ký ảnh liên quan nhiều đến hiện thể Chân Ngã thường tồn, và chính nó liên quan với :
a/ Tốc độ rung động. b/ Lịch sử khai mở của cánh hoa. c/ Lịch sử của bất luận nhóm Solar Angels đặc biệt nào
có liên quan đến việc tạo thành các hoa sen.
d/ Hoạt động của thần chất (deva substance) nhờ đó hoa
sen được kiến tạo.
e/ Các mối liên hệ tập thể.
Kiến thức này được Chân Sư vận dụng, Ngài đã làm cho Chính Ngài có trách nhiệm đối với việc kích thích và sự tăng trưởng của bất cứ các loạt Egos đặc biệt nào, và cũng do các Egos tiến hóa, họ đang hoạt động hữu thức với nhóm của họ.
Ký ảnh về tâm thức (consciousness record). Ký ảnh này có liên quan đến sự đáp ứng của Thực Thể nội tâm với môi
857 trường bao quanh của nó. Nó liên quan đến việc sử dụng tri thức của chủ thể tri thức, và trong nhiều trường hợp, lại là ký ảnh phức tạp nhất và dông dài nhất trong số các ký ảnh.
Các ký ảnh này được vận dụng nhiều nhất bởi Đức Chưởng Quản Thế Gian và các môn đệ của Ngài để xác định thông tin liên quan đến các trung tâm lực hành tinh. Các Ngài sắp xếp sao cho toàn bộ ký ảnh thuộc bất cứ nhóm nào, dù rộng lớn và trải dài đến đâu đi nữa, cũng được biểu hiện trong bảy lớp biểu tượng, mỗi lớp chứa 49 biểu tượng. Các lớp này được thay đổi và được điều chỉnh mỗi bảy năm một lần, và được cuốn hút vào chất cảm dục bằng một cố gắng của ý chí bởi Đức Chohan chịu trách nhiệm cho nhóm đặc biệt có liên hệ.
(d) Các cánh hoa và các trung tâm lực dĩ thái. Giờ đây, xin nêu ra sự liên quan chặt chẽ giữa sự khai mở của các cánh trong hoa sen Chân Ngã với các bí huyệt dĩ thái trong con người.
Chính năng lượng tâm linh đang tuôn chảy qua các trung tâm lực. Đạo sinh nên thận trọng ghi nhớ hai sự kiện sau đây:
Thứ nhất, như chúng ta biết, thể dĩ thái được cấp sinh lực bằng prana. Năng lượng prana là tác nhân kích hoạt của hoạt động sinh động và của sự phát triển ở cõi trần. Trước tiên, nó có hiệu quả trên các nguyên tử của xác thân, đồng thời nó cũng có hiệu quả tam phân trên vật chất của thể xác :
a/ Nó bảo toàn sức khỏe sinh động (animal health) của
cơ thể.
b/ Nó cấu tạo và xây dựng trong cơ thể, nhờ năng lượng và các luồng thần lực của nó, những gì cần để thay thế sự hao mòn hằng ngày.
c/ Đó là phương tiện mà nhờ đó con người tiến vào việc giao tiếp hồng trần với huynh đệ của y. Từ-lực hồng-trần (physical magnetism) phần lớn, mặc dầu nếu không phải là toàn bộ, tùy thuộc vào prana.
Các trung tâm lực dĩ thái là các xoáy lực (force vortices) được tạo thành trong chất dĩ thái bằng xung lực cảm dục,
858 được truyền qua các trung tâm lực cảm dục. Đến phiên chúng, các trung tâm lực cảm dục này là các chủ thể truyền chuyển của năng lượng còn cao hơn nữa, và như vậy, về mặt chuyên môn cũng đúng khi cho rằng các trung tâm lực dĩ thái là cội nguồn của năng lượng tâm linh của con người, và do đó bị tác động bởi việc khai mở của các cánh hoa. Đến phiên nó, mỗi cánh hoa là một loại trung tâm lực và năng lượng phát xuất từ nó, tác động vào các trung tâm lực dĩ thái, và tạo ra mọi loại năng lượng tâm linh thuộc loại đích thực.
Năng lượng tuôn chảy từ Ego chỉ ít được cảm nhận trong các giai đoạn phát triển ban đầu. Con người noi theo con đường được dành riêng cho mình qua bản năng động vật và nhân loại, và có thể an toàn từ bỏ sự kích thích phát ra từ các trung tâm lực thuộc nhóm của mình, và đối với mãnh lực lớn lao thông thường có sẵn trong hình hài, đồng thời đối với các làn sóng sinh hoạt trước kia. Chỉ khi con người đã đạt đến một giai đoạn tiến hóa tương đối (so với giai đoạn người thú) thì sức mạnh Chân Ngã hay sức mạnh thông linh mới tuôn đổ qua các trung tâm lực của y theo cách nào đó để tạo ra các kết quả trong tâm thức – sau rốt y sẽ trở nên hiểu biết sâu xa về các kết quả này bên trong bộ óc hồng trần của mình. Nơi đây tôi không bàn đến thuật tâm thông (psychism) thông thường của động vật mà các con vật cấp cao để lộ ra, và được tìm thấy trong một vài chủng tộc Lemuria trụ cột. Đây là một loại tâm thức có sẵn trong các nguyên tử, và là một thành phần cấu tạo của “linh hồn thế giới”. Nó vốn không được biết tới và không được kiểm soát, và không có phần trong giáo lý này. Tôi đề cập tới thuật tâm thông hữu thức, thuật này biểu lộ ra nơi người tiến hóa, nơi các đệ tử và các điểm đạo đồ thuộc mọi cấp. Loại tâm thông này là kết quả của việc tuôn đổ của năng lượng Chân Ngã qua các trung tâm lực dĩ thái (chính yếu là qua năm trong số các trung tâm lực đó) theo cách nào để cho tâm thức của não bộ hồng trần trở nên biết được nó và cũng biết về: a/ Mục tiêu của nó, b/ Phương pháp của nó,
c/ Các hiệu quả được tạo ra bên trong phàm ngã của
chính con người và cũng trên những kẻ khác,
859 d/ Năng lực của con người để vận dụng nó hay không tùy sự mong muốn của người này. Điều đó nằm dưới sự kiểm soát của y.
Như chúng ta biết, các trung tâm lực mà đạo sinh có liên quan gồm có bốn cái :
a/ Trung tâm lực ở đầu, b/ Trung tâm lực ở tim, c/ Trung tâm lực cổ họng, d/ Trung tâm lực ở đáy xương sống.
Đây là các trung tâm lực duy nhất cần được xem xét. Công việc của con người là để chuyển thần lực hoặc năng lượng ra khỏi hai trung tâm lực thấp – huyệt trên xương sống và huyệt đan điền – vào ba trung tâm lực cao. Coi như là y đã chuyển đổi, hoặc là đang ở trong tiến trình chuyển đổi, năng lượng của các cơ quan sinh sản vào trong trung tâm lực mong muốn, tức đan điền, với mục đích được nhắm vào là dẫn năng lượng đó vào trung tâm lực còn cao hơn là trung tâm lực cổ họng. Trung tâm lực lá lách, vốn là hiện thể của prana, được đặc biệt phát triển theo định luật tiến hóa, và năng lượng của nó không được chuyển đổi sang trung tâm lực khác, mà được tỏa rộng ra một cách hữu thức. Khi tương ứng của nó trong trung tâm lực ở đầu được khơi hoạt, trung tâm này trở thành cơ quan chữa trị huyền linh; nhờ nó mà nhà chữa trị (bằng một tác động của ý chí), thu hút prana và sinh lực (vitality) từ các chất dĩ thái, và kế đó phà nó trở lại vào mục tiêu cần chữa trị bằng một tác động chữa trị do lòng trắc ẩn.
Liên quan với các trung tâm lực dĩ thái, chúng ta nên chú ý đến sự kiện rằng bí huyệt chính ở đầu vốn có cấu tạo lưỡng phân và gồm một hoa sen có 96 cánh hoa giữa hai mày, và một hoa sen có 12 cánh ở đỉnh đầu, với 96 cánh trong một vòng xoắn phụ. Ý nghĩa của các con số này thật là sâu xa. Trong mọi trường hợp, con số 12 đáp ứng với biểu lộ một mối liên hệ rõ rệt với các hoa sen tâm linh căn bản trên các phân cảnh Chân Ngã. 12 nhân với 8 thay cho 12 cánh hoa trong mỗi trường hợp, trong khi đó trong con số 8 có ẩn giấu ý tưởng về nhị nguyên :
860 a/ Bốn của tứ bộ (the quaternary),
b/ Bốn của hào quang noãn của Chân Ngã (ba trạng thái
và vòng-giới-hạn).
Chúng ta cũng phải ghi nhận rằng ý tưởng về số 12 liên quan với các trung tâm lực được tìm thấy trong số 3 của chúng :
a/ Trung tâm lực cao ở đầu, b/ Trung tâm lực thứ nhì ở đầu, c/ Trung tâm lực tim.
Nếu đạo sinh nghiên cứu tình trạng này và liên kết ý tưởng về 3 tầng cánh hoa trong hoa sen 12 cánh, y có thể thấy sáng tỏ. Ở giai đoạn này, còn nhiều điều chưa thể đưa ra.
Chỉ khi nào các trung tâm lực dĩ thái – hai trung tâm lực đầu và trung tâm lực tim – trở nên hoạt động đầy đủ với 12 cánh hoa hoàn toàn khai mở, thì vòng cánh hoa ở giữa trong hoa sen Chân Ngã (vòng thứ tư hay là vòng trong) khai mở. Ý nghĩa của 4 vòng trong hoa sen Chân Ngã và 8 vòng với 12 cánh hoa mỗi vòng trong các hoa sen dĩ thái trên cõi trí rất là quan trọng.
Các trung tâm lực mà con người phải bàn đến tất nhiên là 5 ở giai đoạn này do các sự kiện sau, nó phải được nghiên cứu nếu một người muốn khơi hoạt các trung tâm lực của mình theo kế hoạch, và nếu người đó muốn an toàn đi theo hướng khai mở tâm linh chân chính :
Sự kiện năng lượng xuất phát từ cõi thứ năm, cõi trí, nơi mà con người có liên hệ,
Sự kiện chính do sự tác động của nguyên khí thứ năm mà con người có thể hoạt động hữu thức với sự khai mở riêng của mình,
Sự kiện con đường tiến hóa dành cho con người là con đường có năm phần, bao gồm năm cõi khai mở của con người; và được chia thành năm giai đoạn đối với Chân Ngã, Sự kiện là mặc dù đây là thái dương hệ thứ hai theo quan
861 điểm của các chu kỳ Chân Ngã của Thượng Đế, hay là chu kỳ Chân Ngã chính yếu thứ hai của Ngài, tuy nhiên đó là chu kỳ thứ năm khi xét theo quan điểm khác, quan điểm của các chu kỳ nhỏ. Nó tương ứng với giai đoạn thứ năm trong cơ tiến hóa nhân loại, giai đoạn mà con người bước lên Thánh Đạo. Hiện giờ, Thượng Đế đang bước trên Vũ Trụ Đạo.
Sự kiện nữa là loa tuyến thứ năm đang trong tiến trình khơi hoạt. Sự việc này đã được thực hiện trước khi sự tương tác của năng lượng giữa hoa sen Chân Ngã với các trung tâm lực dĩ thái trở thành mạnh mẽ đến mức đánh thức bộ óc hồng trần của con người và giúp cho y trở nên biết được các dòng sinh lực bên trong. Điều này thường xảy ra khi cánh hoa thứ năm được cơ cấu hóa (organized).
Toàn bộ vấn đề này cũng có thể được xét một cách đại thể theo quan điểm của năm vị Kumaras. Cần phải nhớ rằng toàn thể các trung tâm lực dĩ thái của bất cứ nhóm người đặc biệt nào cũng tạo thành các trung tâm lực hay là “các đơn vị năng lượng” trong các cánh hoa lớn hơn của trung tâm lực thuộc nhóm của chúng. Các cánh hoa này lại hợp thành các cánh hoa trong trung tâm hành tinh đặc biệt nào đó, và toàn thể các cánh hoa này hợp thành các trung tâm năng lượng lớn hơn này mà chúng ta gọi là “các trung tâm hành tinh”. Đến lượt chúng, các trung tâm hành tinh này hợp thành các trung tâm lực của Thượng Đế.
Tuy nhiên cái bí ẩn liên quan đến điều này lại sâu xa đến nỗi trừ phi nhà nghiên cứu thận trọng bảo vệ chính mình khỏi ý niệm quá tuyệt đối và quá thiên về vật chất, nếu không y sẽ đi lạc đường. Các trung tâm lực dĩ thái của con người vốn không ở trên cùng một cõi như là các trung tâm lực dĩ thái của một Hành Tinh Thượng Đế. Các trung tâm lực của Ngài đều ở trên cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư, tức cõi bồ đề của thái dương hệ, và chỉ khi nào con người đã nhận được cuộc điểm đạo cuối, thì năng lượng của y mới trở nên sát nhập với năng lượng của trung tâm hành tinh trên cõi riêng của nó. Các trung tâm lực dĩ thái của Hành Tinh Thượng Đế là các tác nhân truyền đạt và là các tác nhân chuyển hóa (transmuters) của lực, và mang cùng mối liên hệ với Ngài, giống như các trung tâm lực hồng trần mang mối liên hệ đối với con người. Mọi trung tâm lực của nhục thân, chẳng hạn như là miệng, là tác nhân truyền đạt một vài loại năng lượng phát ra từ bộ óc hoặc ý chí con người.
Việc hiểu biết về lực, về sự truyền lực và về các tác dụng của lực giải thoát trên các cõi cao là bí mật của kiến thức huyền linh. Lực hoặc năng lượng tuôn đổ vào từ Ego. Nó tác động qua các trung tâm lực dĩ thái và tạo ra các kết quả trên ba cõi, thay đổi tùy theo tuổi của linh hồn. Cho đến nay, do thiếu chỉnh hợp (alignment), lực Chân Ngã này không đạt tới não bộ hồng trần một cách đầy đủ như nó sẽ đạt tới sau này, nhưng nó sẽ không đạt đến các trung tâm lực cảm dục, và thường là nguyên nhân của việc thiếu kiểm soát tình cảm bất cứ nơi nào được nhìn thấy. Cho đến nay, chất cảm dục (astral substance) được cấu tạo một cách thiếu sót, nên khi được đánh thức bởi năng lượng Chân Ngã, nó hoạt động một cách dữ dội. Chất cảm dục bị tác động bởi hai dòng thần lực trái ngược: thứ nhất, rung động của Chân Ngã, và thứ nhì, loại rung động được tạo ra qua vô số thời đại trên cõi trần, vốn tiềm tàng trong chính vật chất và là kết quả của một thái dương hệ trước. Chính điều này tạo ra tác động dữ dội và phản ứng được nhìn thấy trong mọi kiếp sống.
Không thể đưa ra nhiều dữ kiện (data, dữ = cho, được cho) liên quan đến sự khai mở của các cánh hoa và mối liên hệ của chúng với các trung tâm lực dĩ thái. Ba ẩn ngữ có tầm quan trọng thực tiễn liên quan với vấn đề tuyệt diệu này có thể được đưa ra, tuy nhiên, nếu được suy nghiệm, có thể mang lại tỏ ngộ cho những ai sẵn sàng.
Ẩn ngữ thứ nhất đó là các trung tâm lực dĩ thái trở nên linh hoạt theo ý nghĩa về chiều đo thứ tư (hoặc là trở nên các luân xa quay trên chính chúng) khi người tìm đạo đã tuân theo một vài chi tiết.
Y phải hoạt động dựa vào việc khai mở các cánh hoa thứ năm và thứ sáu, hay là hai cánh hoa cuối cùng trong vòng tròn thứ nhì và phải nỗ lực để tạo ra hai sự việc có liên quan với bản chất tam phân thấp (phàm ngã) của y :
863 a/ Y phải chỉnh hợp (align, sắp cho thẳng hàng) ba thể của mình để có được một vận hà tiếp xúc trực tiếp được tạo ra giữa Chân Ngã với bộ óc hồng trần.
b/ Y phải nỗ lực để mang lại sự ổn định của cả thể cảm dục lẫn thể trí, và phải nhắm đạt được trạng thái cân bằng tình cảm, trạng thái này được tạo ra bằng “sự quân bình có ý thức các lực”.
Con người phải nghiên cứu các định luật chuyển hóa và trở thành một kẻ nghiên cứu về loại siêu chuyển thiêng liêng (divine alchemy) việc đó sẽ dẫn đến kết quả trong việc hiểu được làm cách nào để chuyển hóa mãnh lực thấp thành cao, làm cách nào để di chuyển tâm thức của mình vào các hiện thể cao, và làm cách nào để vận dụng các dòng năng lượng sao cho bản chất riêng của mình được biến đổi. Lúc bấy giờ, y sẽ trở thành một vận hà cho ánh sáng của Chân Ngã, và để cho sự giác ngộ của thể bồ đề tuôn đổ qua, hầu cứu giúp nhân loại, và soi sáng cho những ai còn vấp ngã trong chốn tối tăm mờ mịt. Y phải hiển lộ các định luật phát xạ trong sự sống riêng của mình trên cõi trần. Sự sống của y phải bắt đầu tỏa chiếu và bắt đầu có ảnh hưởng thu hút đối với các sự sống khác. Bằng cách diễn tả này, tôi muốn nói rằng y sẽ bắt đầu tác động đến những gì bị giam nhốt trong các sự sống khác, vì y sẽ đạt đến – do các rung động mạnh mẽ của chính y – trung tâm ẩn giấu trong mỗi con người. Bằng cách này, tôi không có ý muốn nói đến ảnh hưởng thể chất hoặc ảnh hưởng từ lực mà nhiều linh hồn hoàn toàn kém tiến hóa đang có đối với những linh hồn khác. Tôi đề cập tới phát xạ tinh thần vốn chỉ được đáp ứng và nhận thức bởi những người mà chính họ đang trở nên biết đến các trung tâm tinh thần bên trong tâm. Ở giai đoạn này con người được nhận biết như là kẻ có thể diễn đạt theo huyền bí học, đó là “tâm qua tâm” (“heart to heart”). Y trở nên một tác nhân kích hoạt của bí huyệt tim trong huynh đệ của y, và là một kẻ đưa con người vào hoạt động vì kẻ khác.
Ẩn ngôn thứ hai ám chỉ rằng khi người tìm đạo trở nên dần dần phát xạ, và khi năng lượng của Thượng Đế nội tâm biểu lộ ngày càng nhiều qua phàm ngã, “các phát xạ nhiệt”
(“heat radiations”) trở nên mạnh đến nỗi các kết quả rất rõ
864 ràng được sản sinh ra có một bản chất cá nhân và cũng là bản chất chung quanh. Một vài kết quả này có thể được liệt kê như sau:
Mạng lưới dĩ thái, ngăn cách tâm thức hồng trần thấp kém của bộ óc với cõi cảm dục bắt đầu trải qua một tiến trình hủy diệt dài, và các “chỗ rách” đầu tiên trong mạng lưới xuất hiện. Chính là qua các chỗ rách này mà đạo sinh trở nên biết được các cõi bên trong, trở nên có ý thức trong bộ óc xác thân về các biến cố bên trong, và có thể (nếu là một đệ tử) tạo sự tiếp xúc với Ego của y và (xuyên qua Ego đó) tiếp xúc với Guru của y (Guru là một vị thầy tinh thần). Điều này đánh dấu một phát triển rất quan trọng.
Bí huyệt cao ở đầu tăng thêm sức hoạt động của nó và trở nên có khả năng nhận các ánh chớp giác ngộ từ các cõi cao. Trước tiên, chỉ thỉnh thoảng điều này mới xảy ra, nhưng tần suất ngày càng tăng lên theo sự tiến bộ của nhiều năm, và các “chỗ rách” (“rents”) trở nên nhiều hơn.
Các tam giác khác nhau trở nên sinh động và tiếp tục tăng thêm hoạt động theo cấp số hình học (geometrical progression), trong khi bí huyệt giữa hai bả vai, tức điểm hội tụ đối với một vài loại lửa, trở nên linh hoạt. Điều này đánh dấu một giai đoạn rõ rệt trong tiến trình chuyển di các lửa vào các bí huyệt cao. Nói đại khái, giai đoạn chuyển di nhiệt hoặc năng lượng của các bí huyệt thấp vào bí huyệt cao có thể được chia làm hai phần: thứ nhất, giai đoạn mà trong đó các bí huyệt ở phần thấp của cơ thể (các bí huyệt dưới cách mô) được chuyển vào các bí huyệt ở phần cao của thân trên (torso). Ở thân trên có ba bí huyệt, đó là bí huyệt tim, cổ họng và bí huyệt giữa hai xương bả vai (shoulder blades). Nơi đây, chúng ta phải ghi nhận rằng bí huyệt cổ họng nằm ở phần thấp của cổ họng, và hoàn toàn thuộc vào thân trên chớ không thuộc vào đầu. Ở đây cũng nên nói rằng bí huyệt giữa các xương bả vai không phải là một bí huyệt “thiêng” (“sacred” centre), mà có bản chất tạm thời và được tạo ra bởi chính người tìm đạo trong tiến trình truyền chuyển
(transference).
865 Giai đoạn hai là giai đoạn mà trong đó năng lượng của sáu bí huyệt thấp :
a. Bí huyệt cổ họng, b. Bí huyệt tim,
c. Bí huyệt đan điền, d. Bí huyệt lá lách,
e. Bí huyệt ở cơ quan sinh sản, f. Bí huyệt ở đáy xương sống,
đều được chuyển di – theo đúng thứ tự tùy theo cung chính và cung phụ của một người – vào các bí huyệt tương ứng bên trong bí huyệt đầu. Bảy bí huyệt đầu này là hình ảnh trong tiểu thiên địa của các “cung điện được chuẩn bị trên các Cõi Trời” (“mansions prepared in the Heavens”) để nhận luồng năng lượng thất phân của Chân Thần. Đây là các phòng được chuẩn bị bởi năng lượng thấp vốn phải trở thành các tác nhân nhận lĩnh (recipients) của “linh hồn hay là năng lượng thông linh cao siêu”.
Ẩn ngữ cuối cùng này có thể được đưa ra, được tóm tắt bằng các từ ngữ mà khi người tìm đạo tiến tới, (1) y không chỉ làm quân bình các cặp đối ứng, mà cái bí ẩn của con tim của huynh đệ y cũng được lộ ra với y. Y trở nên một mãnh lực được thừa nhận trên thế gian, và được nhận biết như là một người có thể được trông cậy vào để phụng sự. Con người quay sang nhờ cậy y để được trợ giúp theo đường lối nhận

1 Người tìm đạo (aspirant).
“Các thực hành góp phần vào sự hợp nhất với Linh Hồn là đạo tâm nồng nhiệt, tham khảo tinh thần (spiritual reading) và hoàn toàn tuân theo Đức Thầy.
Từ ngữ mà tôi đã diễn giải thành “đạo tâm nồng nhiệt” (“fervent aspiration”), trước tiên có nghĩa là “lửa” (“fire”), và theo giáo lý Đông Phương, nó hàm ý là lửa mang lại sự sống và ánh sáng, đồng thời lửa giúp thanh luyện. Do đó, chúng ta có, dưới hình thức thực hành thứ nhất của chúng ta, như là phương tiện phát triển tinh thần thứ nhất, tính chất nồng nhiệt đó của ý chí vốn khơi dậy và làm giác ngộ, đồng thời, việc kiên trì thực hành việc thanh luyện, đốt tan mọi cái không tinh khiết đã biết”.
“Mục tiêu của các thực hành đó là mang lại linh thị - linh hồn (soulvision) và xua tan các chướng ngại”.
“ Các Qui Luật này như sau : thanh khiết, thanh thản, đạo tâm nồng nhiệt, tham khảo tinh thần và hoàn toàn tuân phục Đức Thầy”.
“Sự hoàn hảo của các quyền năng của lớp vỏ xác thân sẽ đến nhờ xua tan các ô tạp và nhờ đạo tâm nồng nhiệt”.
Yoga Sutra của Patanjali, quyển II, 1, 2, 32, 43 (Ấn bản của Johnston).
thức của y, và y bắt đầu phát ra âm điệu (note) để được nghe thấy không những chỉ trong hàng con người, mà còn trong
866 các hạng thiên thần nữa. Ở giai đoạn này, y làm điều này qua cây bút trong văn chương, qua ngôn từ khi diễn thuyết và giảng dạy, qua âm nhạc, hội họa và mỹ thuật. Y đạt đến tâm con người bằng cách này hoặc cách khác, và trở thành kẻ trợ giúp và kẻ phụng sự nhân loại.
Thêm hai tính chất của giai đoạn này có thể được liệt kê ở đây.
Người tìm đạo có một đánh giá về giá trị huyền linh của tiền tài trong việc phụng sự. Y không mưu tìm điều gì cho riêng mình, trừ những gì có thể cung cấp cho y đối với công việc cần làm, y xem thường tiền tài, và cái gì mà tiền tài có thể đổi chác như một cái gì đó phải được hữu dụng cho những kẻ khác và là một phương tiện để mang lại thành quả cho các kế hoạch của Chân Sư vì y lờ mờ cảm nhận được các kế hoạch này. Ý nghĩa huyền linh của tiền tài ít được hiểu rõ, tuy nhiên, một trong các trắc nghiệm lớn nhất về vị thế của một người trên con đường dự bị là những gì liên quan đến thái độ của y và cách vận dụng của y đối với những gì mà tất cả mọi người đều tìm kiếm để thỏa mãn ham muốn. Chỉ có y, tức là kẻ không khát khao điều gì cho riêng mình, mới có thể trở thành một người lĩnh nhận tặng phẩm tài chính (a recipient of financial bounty) và kẻ phân phát tài nguyên của vũ trụ. Trong các trường hợp khác, khi mà tài nguyên tăng thêm, chúng không mang lại với chúng được gì cả ngoại trừ phiền não và buồn chán, bất mãn và lạm dụng.
Cũng vào giai đoạn này, cuộc sống của người tìm đạo trở thành một “dụng cụ hủy diệt” theo ý nghĩa huyền linh của danh từ đó. Bất cứ nơi nào y đi qua, thần lực cũng tuôn tràn qua y từ các cõi cao, và từ Thượng Đế nội tâm của chính y, đôi khi tạo ra các kết quả đặc biệt ở chung quanh y. Lực đó tác động giống như một tác nhân kích hoạt (stimulator) cả điều lành lẫn điều dữ. Các Lunar Pitris vốn kiến tạo các cơ thể của các huynh đệ y và cơ thể của chính y, cũng bị kích hoạt, hoạt động của các thần đó cũng tăng lên và sức mạnh của họ trở nên nặng thêm rất nhiều. Sự kiện này được vận dụng bởi Các Đấng đang hoạt động trên phương diện nội môn để mang lại một vài mục tiêu mong muốn. Chính điều này cũng thường khi tạm thời gây nên sự suy sụp (downfall) của các linh hồn tiến hóa. Họ không thể chịu đựng được thần lực đang tuôn đổ vào họ, hoặc là lên họ và do sự quá kích thích tạm thời của các trung tâm lực và các hiện thể của họ, họ đi lạc lối. Điều này có thể được nhìn thấy thể hiện trong các nhóm cũng như trong các cá nhân. Nhưng, ngược lại, nếu các Lunar Lords của phàm ngã trước đây đã bị chế ngự và đã bị kiềm chế, thì lúc đó ảnh hưởng của lực và năng lượng được tiếp xúc là kích hoạt sự đáp ứng của tâm thức não bộ xác thân và các bí huyệt ở đầu đưa đến sự tiếp xúc với Chân Ngã. Lúc bấy giờ, khác với dự đoán, mãnh lực hủy diệt trở thành một yếu tố cho sự kích hoạt tốt lành và hữu ích, đồng thời có thể được sử dụng bởi Các Đấng Cao Cả, Các Ngài biết cách làm thế nào để dẫn dắt con người đến sự giác ngộ xa hơn.
Tất cả các giai đoạn này đều phải thể hiện trên cả ba cõi thấp và trong ba thể; họ làm điều này tùy theo Cung chính và cung phụ đặc biệt. Công việc của đệ tử được xúc tiến theo hình thức này, việc nghiên cứu và luyện tập của y được tiến hành cho đến khi hai vòng cánh hoa được khai mở, còn vòng thứ ba được chuẩn bị. Thế là nhờ định hướng đúng năng lượng và vận dụng khôn khéo các dòng thần lực, mà y được đưa tới Cánh Cửa Điểm Đạo, và dần dần ra khỏi Phòng Học Tập, ( ) tiến vào Đại Sảnh Đường Minh Triết – tức là Phòng mà trong đó y từ từ trở nên “biết” được các thần lực và các quyền năng, ẩn tàng trong Ego của chính mình và trong nhóm Chân Ngã. Đó là Phòng mà trong đó y có được quyền sử dụng lực của nhóm Chân Ngã, vì bấy giờ y có thể được tin cậy để vận dụng thần lực đó chỉ dành cho việc trợ giúp nhân loại. Sau kỳ Điểm Đạo thứ tư, y trở thành một người phân phát (sharer in), và có thể được giao phó một phần năng lượng của Hành Tinh Thượng Đế và như thế giúp vào việc xúc tiến các kế hoạch của Thượng Đế cho cơ tiến hóa .
868 (e) Điểm Đạo và các Cánh Hoa. Khi xem xét sự liên quan của các cánh hoa với sự khai mở của chúng qua cuộc điểm đạo, có một ít điều được phép đưa ra lần này dành cho sự hiểu biết của quảng đại quần chúng. Những điều có thể được đưa ra đều có chứa :
a. Các ẩn ngữ về hướng đúng của năng lượng,
b. Các ý kiến về các bí ẩn căn bản mà con người phải giải
đáp,
c. Các chỉ dẫn về một vài tương ứng,
d. Các điểm thực hành đối với sự tư duy có tính cách
xây dựng.
Đạo sinh phải nhớ rằng mục đích của mọi huấn sư huyền linh học thực sự không phải là đưa ra thông tin mà cốt dạy môn đồ của các ngài trong việc vận dụng năng lượng tư tưởng. Do đó điều hiển nhiên sẽ là tại sao phương pháp giáo huấn này là phương pháp bao giờ cũng được dùng đến. Đó là phương pháp vốn bao hàm việc Đức Thầy đưa ra một ẩn ngữ, và có thể có liên quan đến một vài tương ứng, kết hợp với một liên tưởng/gợi ý (suggestion) về cội nguồn của ánh sáng. Về phần đệ tử, việc đó bao hàm các thừa nhận sau đây :
a. Loại ẩn ngôn có thể đáng noi theo.
b. Loại trầm tư vốn là con đường dẫn đến cội nguồn ánh
sáng và rằng ẩn ngữ được đưa ra là “hạt giống” để suy tưởng.
c. Các sự kiện đó, khi không xứng hợp và không được liên kết với nhau, lại trở thành các đe dọa cho tri thức và không giúp ích gì cả.
d. Mọi khía cạnh của chân lý, được thấu triệt dần dần, phải được đồng hóa, và kết gắn vào kinh nghiệm của đạo sinh.
e. Trừ phi các tương ứng phù hợp dưới hình thức nguyên tử, cá nhân, hành tinh và vũ trụ, các tương ứng đó không đáng tin.
f. Có nhiều chi tiết được giữ lại cho đến khi đạo sinh trở thành một đệ tử, và còn nhiều nữa cho đến khi đạo sinh trở thành một điểm đạo đồ hữu thệ. Lý do của việc này nằm ở sự
869 kiện là mọi tri thức đều liên quan đến năng lượng, áp dụng của nó và công dụng hoặc lạm dụng năng lượng đó.
Giờ đây chúng ta hãy tiếp tục việc nghiên cứu của chúng ta về các cánh hoa và Điểm Đạo.
Mỗi một trong số ba vòng cánh hoa sen có liên hệ chặt chẽ với một trong ba Phòng. Điều này đã được nói đến ở trước. Nhiều công việc có liên quan đến tầng cánh hoa thứ nhất là một phần của kinh nghiệm trong Phòng Vô Minh. Tác động tổ chức và chuẩn bị cho việc khai mở là giai đoạn quan trọng nhất và là giai đoạn mà con người có liên quan nhiều nhất. Tác động mở của cánh hoa có kỳ gian ngắn hơn và được tạo ra bằng sự tuôn đổ trong nhiệt hoặc lửa thái dương, và nhờ thế mang lại một lối vào/khả năng tiếp xúc (access) mới mẻ của năng lượng. Điều này được tạo ra trong hệ địa cầu của chúng ta nhờ sự hợp tác của Đức Văn Minh Bồ Tát (Mahachohan, vì Ngài được 7 lần Điểm Đạo – ND), của Đức Đế Quân (Chohan) thuộc nhóm Chân Ngã của con người, và Ego đặc biệt có liên hệ.
Biểu đồ sau đây có thể là hữu ích :
I. Các Cánh Hoa Tri Thức. Vòng thứ nhất.
a. Được sắp xếp trong Phòng Vô Minh.
b. Được hướng dẫn bởi thần lực và năng lượng của Đức Mahachohan.
c. Nhóm thứ ba của các Solar Pitris có ảnh hưởng. II. Các Cánh Hoa Bác Ái. Vòng thứ hai.
a. Được sắp xếp trong Phòng Học Tập.
b. Được hướng dẫn bởi thần lực của Đức Bồ Tát
(Bodhisattva).
c. Nhóm thứ hai của các Solar Lords có ảnh hưởng. III. Các Cánh Hoa Ý chí hay Hy Sinh. Vòng thứ ba.
a. Được sắp xếp trong Phòng Minh Triết.
b. Được hướng dẫn bởi thần lực và năng lượng của Đức Bàn Cổ (Manu).
c. Nhóm thứ nhất của các Solar Angels có ảnh hưởng.
Ở giai đoạn mà chúng ta đang xét (giai đoạn của tổ chức và khai mở tầng thứ nhất của các cánh hoa), ảnh hưởng của Chân Ngã được cảm nhận vào lúc bắt đầu chỉ nhỏ nhoi, nhưng khi ba cánh hoa trở nên linh hoạt và hoạt động đầy đủ
870
nhờ năng lượng được tích chứa và giữ lại trong Ego lúc có hoạt động của sự sống cá nhân, lúc bấy giờ một hình thức khai mở xảy ra, nó là một hình ảnh (trên một cõi thấp) của các cuộc khai mở lớn lao của trí tuệ. Năng lượng trong vòng cánh hoa ngoài khiến cho nó lao ra khỏi vòng kế tiếp, và đưa tới khai mở. Năng lượng tam phân này trở nên ảnh hưởng lẫn nhau và thế là một giai đoạn rất rõ rệt được đạt tới. Loạt khai mở này ít khi được nhận biết bên trong tâm thức não bộ hồng trần nhờ bởi giai đoạn tương đối còn phôi thai của các thể và việc không đáp ứng của vật chất não bộ. Tuy thế, chúng là các khai mở có tính chất ít quan trọng dù là rõ rệt, và chúng bao hàm trước tiên việc bộc lộ (bên trong sự sống cá nhân của một người) một nhận thức sáng suốt về các mối liên hệ tập thể trên cõi trần. Nhận thức này thường mang tính chất ích kỷ; thí dụ như những gì mà kẻ phụng sự hợp nhất lộ ra, nhưng nó biểu thị cho sự tương tác tập thể.
Một tiến trình tương tự xảy ra khi vòng cánh hoa thứ hai được sắp xếp và sẵn sàng khai mở. Lần này, Đức Chưởng Giáo Thế Gian, Chân Sư và Ego có liên hệ đang hợp tác, vì các khai mở nhỏ này liên quan đến bản chất bác ái, với cách sắp xếp ở thể cảm dục hay thể tình cảm, và với nhận thức (của con người trong cuộc sống riêng tư của y) có một hình thức tình thương ích kỷ nào đó và với một tình thương vì một mục đích, con người hoặc lý tưởng nào đó, nó dẫn đến nỗ lực vị tha, và đưa đến việc phủ nhận phàm ngã.
Hoạt động này đưa chúng ta đến nhóm cánh hoa thứ ba hay là đưa đến việc khai mở ý chí hay các cánh hoa hy sinh, dựa trên mục tiêu sáng suốt và tình thương thuần khiết. Thần lực trong nhóm này triệu dụng đến một yếu tố khác, yếu tố của Đức Manu, cũng như thần lực của Đức Bồ Tát, và hiệu quả mong muốn được tạo ra qua sự hợp tác đầy đủ của Ego đã được khơi hoạt hoàn toàn, được chính Đức Thầy của y và Đức Manu trợ giúp (nếu y đang tiến hóa trong một chu kỳ mà trong đó nỗ lực của Thánh Đoàn dành cho nhân loại chiếm hình thức mà nó đang thực hiện trong chu kỳ hiện tại). Sau rốt (sau Cuộc Điểm Đạo thứ hai) Đức Chưởng Quản Địa Cầu bước vào như là một yếu tố, - Đấng Chưởng Quản quyền lực thế giới, biểu lộ đầy đủ chính quyền lực đó bằng tình thương.
Do đó, nói chung, có thể cho rằng các nhóm Chân Ngã mà trong đó các cánh hoa kiến thức được sắp xếp và khai mở đều đến dưới ảnh hưởng đầu tiên của Đức Mahachohan; các nhóm Chân Ngã mà trạng thái bác ái nơi họ, tức là vòng cánh hoa thứ hai, đang mở ra dưới ảnh hưởng sơ khởi của Đức Bồ Tát, với việc khai mở tri thức đi song song với công việc; trong khi những người mà nơi họ, tầng thứ ba đang được mở ra theo hướng năng lượng của Đức Manu, có hai loại thần lực kia kết hợp lại. Điều sẽ rõ rệt đối với độc giả cẩn trọng là trong sự kiện này có ẩn giấu cái bí mật tại sao Đức Mahachohan giữ chức vụ lâu hơn cả hai Huynh Hữu của Ngài, giữ nhiệm vụ đó giống như Ngài đang giữ trong toàn bộ một chu kỳ thế gian. Chìa khóa cho các chu kỳ này nằm trong các ý tưởng sau : Đức Bồ Tát và Đức Manu thay đổi thường hơn và chuyển qua công việc khác do sự kiện là mỗi Ngài tiêu biểu cho một loại thần lực tam phân, trong khi đó Đức Mahachohan là điểm tập trung đối với năm loại năng lượng, mỗi loại đến phiên nó lại có bản chất tam phân.
Trong mỗi trường hợp khai mở cánh hoa, một vài loại thần lực được sinh ra, có liên quan đến, được đồng hóa và được sử dụng, trước tiên một cách hữu thức, và sau cùng với toàn bộ sự sáng suốt.
Trong Phòng Vô Minh, thần lực thuộc năng lượng của Brahma (sự hoạt động và sáng suốt của vật chất) là cái hầu như được bàn đến, và con người phải học ý nghĩa của hoạt động dựa trên :
a/ Năng lượng bẩm sinh (inherent energy), b/ Năng lượng được thu hút (absorbed energy), c/ Năng lượng của nhóm (group energy),
d/ Năng lượng của vật chất (material energy) hay năng
lượng vốn ẩn tàng trong vật chất cõi trần.
Trong Phòng Học Tập, đệ tử trở nên biết được và sử dụng năng lượng của trạng thái thứ hai trong việc kiến tạo hình hài, trong các liên hệ xã hội, trong gia đình và các nhóm chi
872 nhánh khác. Y đi đến chỗ nhận biết thực sự về tính dục (sex) và các liên hệ của nó, nhưng cho đến nay nhìn mãnh lực này như một điều gì đó cần được kiềm chế chứ không phải là một cái gì đó phải được vận dụng một cách hữu thức và một cách xây dựng.
Trong Phòng Minh Triết, điểm đạo đồ đi đến hiểu biết về trạng thái năng lượng vĩ đại thứ nhất, sử dụng ý chí năng động trong việc hy sinh, và lúc bấy giờ theo y là phạm vào bí quyết về cái bí ẩn tam phân của năng lượng. Về năng lượng này trong trạng thái tam phân của nó, y trở nên biết được trong hai phòng kia. Vào các Cuộc Điểm Đạo thứ ba, thứ tư và thứ năm, ba chìa khóa dành cho ba bí ẩn được trao cho y.
Chìa khóa dành cho cái bí ẩn được cảm nhận trong Phòng thứ nhất, tức là bí ẩn về Brahma, được trao cho y và lúc bấy giờ, y có thể mở khóa các năng lượng ẩn giấu của chất liệu nguyên tử. Chìa khóa đối với cái bí mật về tính dục hay là về các cặp đối ứng, được trao vào tay của y, và lúc đó y có thể mở các mãnh lực ẩn giấu bên trong mọi hình hài. Chìa khóa đối với bí ẩn về sự hy sinh và đối với cái bí mật của các Đấng Quán Sát Thinh Lặng (Silent Watchers) trong vũ trụ được tiết lộ cho y, và y học cách mở các năng lượng ẩn giấu của trạng thái ý chí. Tác nhân năng động (dynamo) của thái dương hệ được chỉ ra cho y, nếu điều đó có thể được diễn tả như thế, và các phức tạp của cơ cấu của nó được tiết lộ.
Sau đây là ba bí nhiệm căn bản của thái dương hệ:
1. Bí nhiệm về điện khí. Cái bí nhiệm của Brahma. Bí ẩn của trạng thái thứ ba (Ngôi Ba). Bí ẩn này tiềm tàng trong vầng thái dương vật chất.
2. Bí nhiệm về tính phân cực (polarity) hay là về xung lực giới tính vũ trụ (universal sex impulse). Bí ẩn của trạng thái thứ hai (Ngôi Hai). Nó tiềm tàng trong Tâm của Thái Dương, nghĩa là trong Mặt Trời nội tại (chưa biểu lộ).
3. Bí nhiệm về chính Lửa, hay là sức mạnh trung ương năng động của thái dương hệ. Bí ẩn của trạng thái thứ nhất (Ngôi Một). Nó tiềm tàng trong mặt trời tinh thần trung ương.
Chúng ta đã nói đến ba bí nhiệm này ở trên, chúng xuất hiện theo một ý nghĩa đặc biệt dưới thẩm quyền (jurisdiction)
873 của một số Đấng Cao Cả (great Lords or Existences) và các Ngài có liên quan nhiều với việc tiết lộ cái bí nhiệm cho các điểm đạo đồ được chuẩn bị, các vị này đến dưới ảnh hưởng của các Đấng Cao Cả trên trong các giai đoạn cuối của Thánh Đạo.
Bí nhiệm về điện khí có ba chìa khóa, mỗi chìa khóa được giữ trong tay của một trong các Hoạt Động Phật. Đặc quyền của các Ngài là đặc quyền kiểm soát các sức mạnh của điện của cõi trần, và quyền hạn của các Ngài là quyền điều khiển ba luồng chính của loại thần lực liên quan tới bầu hành tinh hiện tại của chúng ta. Ba dòng thần lực này có liên quan đến vật chất nguyên tử, nhờ nó mà mọi hình hài được kiến tạo. Liên quan đến dãy hành tinh chúng ta, có ba Thực Thể huyền bí (mà ba Độc Giác Phật của chúng ta chỉ là các hình ảnh ở Địa Cầu của các Ngài), các Ngài thi hành một chức năng tương tự liên quan đến các mãnh lực điện của dãy. Trong hành tinh hệ, Hành Tinh Thượng Đế cũng có ba Đấng Cao Cả đang hợp tác, Các Ngài là tổng cộng (summation) của Trạng Thái thứ ba của Hành Tinh Thượng Đế, do đó các Đấng này thi hành công việc tương tự với công việc được thi hành bởi ba trạng thái của Brahma trong thái dương hệ. Cái huyền bí của loại điện khí tam phân này phần lớn có liên quan với các Thần Tạo Tác cấp thấp, với các linh khí tinh hoa chất trong một trạng thái đặc biệt, - cái thấp nhất và sâu xa nhất cho con người để hiểu khi nó liên quan tới cái bí ẩn của những gì vốn “đứng bên dưới” (“substand”) hay “đứng đàng sau” (“stands back”) của tất cả những gì đang biểu lộ. Theo một ý nghĩa phụ, nó liên quan đến các lực ở trong chất dĩ thái vốn là các lực mang lại năng lượng và tạo ra các hoạt động của mọi nguyên tử. Một loại khác liên quan đến hiện tượng điện được thể hiện trong ánh sáng mà con người khiển dụng được ít nhiều, trong các hiện tượng như là bão tố và biểu lộ của tia chớp, với bắc cực quang (aurora borealis), và trong việc tạo ra động đất và mọi hoạt động hỏa sơn. Tất cả các biểu lộ này đều dựa trên hoạt động điện thuộc loại nào đó và có liên quan với “linh hồn các vật” hay là liên quan với tinh hoa của vật chất. Cổ Luận (old Commentary) ghi:
874 “Áo khoác của Thượng Đế được vén sang một bên bằng năng lượng của các hoạt động của Ngài, và Con Người thực sự lộ ra, tuy vậy vẫn ẩn giấu, cho kẻ nào biết được cái bí ẩn của một người khi nó hiện hữu trong sự tự nhận thức của chính mình”.
Bí ẩn của điện khí liên quan đến “lớp áo” (“garment”) của Thượng Đế, y như bí mật của tính phân cực liên quan đến “sắc tướng” (“form”) của Ngài.
Trong bí ẩn về tính phân cực (polarity, đối cực), chúng ta có ba loại lực khác nhau đang biểu lộ và như vậy điều hiển nhiên là hai bí ẩn liên quan đến sáu loại lực. Ba loại lực này được các Buddhas of Love vận dụng. Nhờ sự hy sinh của các Ngài, Chính Các Ngài có liên quan với vấn đề phái tính, hay là “tiếp cận từ lực” (“magnetic approach”) trên mọi cõi. Đức Phật mà chúng ta nói đến và Đấng tiếp xúc với tín đồ của Ngài vào kỳ trăng tròn của Lễ Wesak, là một trong ba Đấng có liên quan với bầu hành tinh chúng ta, đã thay thế cho Đấng Cao Cả đã chuyển qua công việc cao hơn liên quan với dãy hành tinh, vì cùng đẳng cấp thuộc Thánh Đoàn được nhìn thấy như trong mối liên hệ với các Buddhas of Action. Một nhóm có thể được xem như là các Thợ Mộc thiêng liêng (divine Carpenters) của hành tinh hệ, nhóm khác là các Thợ Lắp Ráp thiêng liêng (divine Assemblers) của các phần của hành tinh hệ và Các Đấng mà qua ảnh hưởng từ lực mà các Ngài vận dụng, các Ngài kết hợp lại các thiên sai vạn biệt (diversities) và xây đắp chúng thành hình hài.
Ý tưởng hiện nay về Sex phải được chuyển hóa và nâng từ hàm ý thấp kém hiện nay lên ý nghĩa thực sự của nó. Sex – trong ba cõi thấp – có liên quan đến công việc của các Lunar Pitris và Solar Lords. Theo thực chất, nó mang ý nghĩa công việc kiến tạo hình hài bằng vật chất, và việc đem sức mạnh của nó bằng trạng thái tâm linh. Nó hàm ý nâng cao khía cạnh vật chất qua ảnh hưởng của Tinh Thần khi cả hai cùng thực hiện nhiệm vụ chính thức của chúng trong sự hợp tác và như vậy – bằng sự hợp nhất hỗ tương và hòa hợp của chúng – tạo ra Con trong mọi vinh quang của Ngài. Phương pháp diễn dịch này cũng đúng đối với mọi Đấng Cao Cả đang biểu lộ trên bất cứ cõi nào thuộc thái dương hệ hoặc vũ trụ. Một
875 vài yếu tố đi vào trong ý tưởng về sex (phái tính, tính dục) có thể được liệt kê như sau:
a/ Thu hút lẫn nhau (mutual attraction), b/ Sự thích hợp bổ sung (complementary suitability), c/ Kêu gọi của bản năng (instinctual appeal), d/ Tiếp cận và hợp tác được nhận thức, e/ Hợp nhất (union),
f/ Giai đoạn kế tiếp là sự quan trọng tạm thời của trạng
thái vật chất, trạng thái Mẹ, trạng thái âm, g/ Sự triệt thoái vào nơi ẩn dật tạm thời của Cha, h/ Công việc sáng tạo ra Con,
i/ Tiến hóa và tăng trưởng của Con, cả về vật chất lẫn
trong tâm thức,
j. Sự giải thoát của con ra khỏi Mẹ, hay là sự giải
phóng của linh hồn lúc trưởng thành ra khỏi vật chất, k/ Con nhận ra Cha và trở về với Cha đó.
Kết quả cuối cùng của tất cả các giai đoạn kế tiếp này là cả ba trạng thái đều hoàn thành các chức năng của chúng (thiên chức của chúng) trên cõi trần và cả ba đều biểu lộ vài loại năng lượng.
Trạng thái Cha biểu lộ trong việc đưa ra xung lực ban đầu hay là biểu lộ điện dương vốn là mầm của Con được tạo ra, và Sự Sống của Cha được biểu hiện trong Con. Ý nghĩa huyền linh của các lời của Đức Christ khi đáp lại tiếng kêu: “Lạy Chúa, xin chỉ Cha cho chúng con” (“Lords, show us the Father”) ít được hiểu rõ. “Ai đã thấy Ta tức là đã thấy Cha, vì Ta và Cha Ta là Một”, Ngài nói. (Thánh kinh Tân Ước, John, XIV, 8).
Mẹ, hay là trạng thái âm, xây dựng và nuôi dưỡng, che chở và chăm sóc Con, từ đầu đến cuối trước khi sinh và các giai đoạn ấu thơ, và đứng chung quanh Con trong các giai đoạn sau, ban phát năng lượng của chính cơ thể bà và hoạt động trong việc phục vụ cho nhu cầu Ngài.
876 Con, năng lượng phối hợp của Cha và của Mẹ, biểu hiện cho cả hai loại và tất cả mọi lưỡng nguyên, tạo ra các phẩm đức, nhưng có một tính chất tất cả đều riêng của chính Ngài, một tinh hoa vốn là bản chất đặc biệt của Ngài, và một năng lượng giúp cho Ngài làm tròn các mục tiêu và dự tính của Chính Ngài, mà sau rốt sẽ khiến cho Ngài lặp lại tiến trình tạo ra, -
1. Ý niệm; 2. Sáng tạo; 3. Phát triển có ý thức, như Đấng Cha của Ngài đã làm.
Khi chúng ta đạt đến cái bí ẩn về Lửa, chúng ta liên hệ với loại năng lượng huyền bí ngoài thái dương hệ, vốn là nền tảng của cả hai hoạt động của Mẹ và Sự Sống của Con. Con trong chính hành vi “trở nên chồng của Mẹ của Ngài”, theo cách nói của các Thánh Thư cổ. Đây chỉ là một cách diễn đạt khó hiểu, trừ phi được diễn giải bằng các thuật ngữ chỉ sự kết hợp của năng lượng. Chỉ khi Con đã đến tuổi trưởng thành và biết chính Ngài về bản thể cũng giống như là Cha, thì lúc đó Ngài mới có thể hoàn thành một cách hữu thức nhiệm vụ của Cha Ngài, rồi tạo ra và duy trì những gì cần thiết cho việc giữ vững (sustaining) thế hệ vũ trụ.
Điện của vật chất, điện của hình hài và điện của chính Sự Sống phải pha trộn và đáp ứng trước khi Chân Nhân (dù là Thượng Đế, hoặc con người) hiểu được chính mình như là tác nhân sáng tạo. Ở giai đoạn này, con người biết phần nào về điện của vật chất, và đang tiến tới tin tưởng về điện của hình hài (mặc dù cho đến nay con người gọi điện đó là từ lực – magnetism) nhưng mãi đến giờ y không biết gì về thực tại của điện trong chính sự sống. Chỉ khi “bảo ngọc trong hoa sen” sắp sửa được tiết lộ, tức là vòng cánh hoa thứ ba sắp khai mở, thì điểm đạo đồ mới bắt đầu có được nhận thức về ý nghĩa thực sự của từ ngữ “sự sống” hay là tinh thần. Tâm thức phải được khơi hoạt đầy đủ trước khi con người có thể mãi mãi hiểu được một cái gì đó mang năng lượng vĩ đại mà các loại năng lượng khác chỉ là các biểu hiện của nó.
Chỉ có hai điểm nữa cần được xem xét liên quan đến các cánh hoa và điểm đạo.
Thứ nhất, nên ghi nhận rằng các từ “tri thức, bác ái và hy sinh” mang nhiều ý nghĩa huyền linh hơn là ý nghĩa bề ngoài của các thuật ngữ đó. Mỗi vòng cánh hoa thay thế cho một trong ba ý tưởng này, và mỗi vòng lại biểu hiện cho ba trạng thái hiện tồn này ở một mức độ lớn hoặc nhỏ hơn. Ba ý niệm này là các cách diễn đạt của ba tính chất lớn mà (theo quan điểm của Quá Khứ, Hiện Tại và Tương Lai) biểu thị cho các bản chất của mọi thực thể biểu lộ - Gods, con người và devas. Theo quan điểm của yếu tố chính yếu trong biểu lộ, con người, cần nên nhận thức rằng tri thức (knowledge) có sẵn trong thái dương hệ trước, và là năng lực mà con người phải có cho chính mình. Chính nơi đó có sẵn cho việc sử dụng của y. Đó là năng lượng ẩn giấu của Hành Tinh Thượng Đế mà con người phải học cách tập trung qua bộ óc phàm trần của mình, và nhờ thế mới áp dụng được.
Bác ái là năng lực có sẵn trong hiện tại. Đó là năng lượng ẩn giấu của Hành Tinh Thượng Đế mà y phải vận dụng và tập trung trong bí huyệt tim của y và nhờ thế ứng dụng được.
Hy sinh là năng lực sẽ thuộc về con người trong tương lai, mà y sẽ sáng suốt tập trung qua bí huyệt cao nhất ở đầu và nhờ thế mới ứng dụng được. Nó tùy thuộc vào sự phát triển tâm thức của y và do đó tùy thuộc vào nhận thức của con người về mục đích huyền bí của nhóm y và của các sự sống hành tinh. Vì nó dính líu đến cái được gọi là “một tác động thái dương và thái âm của sự từ bỏ”, do đó, nó bao hàm một nhận thức đúng về năng lượng thái dương và thái âm, và việc đưa cả hai nhóm này vào một giai đoạn hoạt động hợp tác. Do đó, nó liên quan đến bản chất của Bảo Ngọc trong liên hoa, và chỉ khi nào ba cánh hoa hy sinh trong ba tầng được khai mở, thì loại năng lượng đặc biệt này mới được phóng thích. Các Lunar Lords thuộc ba thể đã được kiểm soát và rung động của chúng được tổng hợp, sao cho tác động hy sinh vĩ đại thấy chúng sẵn sàng cho diễn tiến từ bỏ cuối cùng. Trong ba nhóm chính của các Ngài, các Solar Lords cũng sẵn sàng cho sự hy sinh cuối cùng, hy sinh này có liên quan đến “sự rạn nứt giữa mặt trời và mặt trăng” như nó được gọi. Việc này tạo ra kết quả trong việc bẻ gãy liên kết từ điện giữa con người đích thực với chất liệu bén nhạy về rung động mà ba thể trên thế gian của con người được tạo thành từ đó. Nhu cầu cho sự luân hồi không còn được cảm nhận nữa, các chuỗi karma bị đứt đoạn, và con người được giải thoát. “Các Lunar Lords quay trở lại vị trí của chính các Ngài”, hay là như Đức Christ diễn tả điều đó – “Satan bị xiềng cho đến ngàn năm” (Thánh Kinh Tân Ước, Khải Huyền XX, 2), điều này chỉ có nghĩa là thời kỳ thái bình pralaya là định mệnh của các thực thể này cho đến kỳ khai nguyên trở lại.
Sự hy sinh cuối cùng cũng bao gồm sự biến mất của tam giác thấp, hay là sự chia tách mối liên hệ giữa ba nguyên tử thường tồn trong phần thấp của thể nguyên nhân hay là hoa sen Chân Ngã và đơn vị trung ương của năng lượng. Năng lượng của các nguyên tử này được phóng thích qua sức nóng mãnh liệt được tạo ra bởi sự hợp nhất của ba lửa và được tái thu hút vào kho chứa chung trong không gian liên hành tinh. Tam giác lửa bị mất tăm trong ngọn lửa chung, và các bản thể thiên thần vốn tạm thời tạo ra nó, ngưng lại hoạt động của họ.
Lại nữa, các Solar Angels hoàn thành sự hy sinh lúc đầu của các Ngài bằng một hy sinh cuối cùng, và hiến dâng chính họ trên bàn thờ lửa. Thể nguyên nhân hoàn toàn bị hủy diệt. Bốn nhóm Solar Pitris cấp thấp quay về tâm của mặt trời bên trong, tức là vào trung tâm trong cùng của thái dương hệ, từ nơi mà họ xuất phát, trong khi ba nhóm cao cấp được thúc đẩy (bởi lực và năng lượng phát sinh trong lò lửa và ngọn lửa, và qua sự kích thích được tạo ra bằng sự cháy bừng của bảo ngọc nằm giữa) thẳng đến mặt trời tinh thần trung tâm, chịu đựng nơi đó cho đến một thiên kiếp (kalpa) khác kêu gọi các Ngài hy sinh chính Các Ngài, lần này với cương vị các
879 Hành Tinh Thượng Đế. Đạo sinh nên nhớ rằng khi nghĩ đến các Pitris, bao giờ y cũng phải nghĩ đến các thuật ngữ về nhóm. Các Pitris vốn tạo thành thể Chân Ngã của con người lại không – một mình và biệt lập – tạo thành các Hành Tinh Thượng Đế. Bốn mươi chín nhóm lửa thái dương có liên hệ trong công việc vĩ đại này là các nhóm lửa đã nói đến và chúng trở thành 49 Hành Tinh Thượng Đế có liên hệ với bảy thái dương hệ. Nơi chúng có ẩn giấu cái huyền bí của 3 vốn trở thành 16 – được nối liền hoặc được tổng hợp bởi 17 – một tương ứng trên các mức độ vũ trụ của 7 với cõi thứ 8 (eighth sphere). Thực ra, điều này vẫn là một bí ẩn không thể giải được đối với con người hiện nay.
Bốn nhóm vốn tạo ra con đường của chúng đi tới Tâm (Heart) của thái dương hệ sẽ tái xuất hiện dưới hình thức 4
Hành Tinh Thượng Đế các Ngài là 28 và thế là các Ngài tạo ra
sự khả hữu của mười với sự hoàn hảo trong một loạt thái dương hệ biểu lộ khác.
Bảy loại năng lượng của thái dương tìm được “con đường trở về” cội nguồn xuất phát từ trung tâm của chúng; bằng sự phá vỡ mối liên kết với các Lunar Lords (về mặt nội môn, các vị này được nói đến như “đã chết hay đang hấp hối trên bãi chiến trường”), sự đại hy sinh được hoàn tất, và họ được tự do trở về trong chiến thắng.
Ý nghĩa huyền linh của các lời này có liên quan với năng lượng đứng đàng sau và đang tác động qua mọi sắc tướng (appearance) có thể được diễn tả như sau:
Tri thức (Knowledge) (1) là việc nhận thức đúng về các định luật năng lượng, định luật bảo toàn thần lực, về các cội nguồn

1 1. Có 7 nhánh tri thức được nhắc đến trong kinh Puranas. GLBN I, 192.
2. Gnosis, tức Tri Thức còn ẩn giấu (hidden knowledge), là Principle thứ bảy, sáu trường phái Triết Lý Ấn Độ là sáu principles. GLBN I, 299.
Sáu trường phái này là :
a/ Trường phái Lý Luận (Logic) … Bằng chứng của nhận thức đúng.
b/ Trường phái nguyên tử (atomic school) … Hệ thống của các đặc thù. Các yếu tố. Thuật luyện đan và hóa học. c/ Trường phái Số Luận (Sankhya) … Hệ thống các số. Trường phái vật
chất. Lý thuyết về bảy trạng thái vật chất hay prakriti.
d/ Trường phái Yoga … Hợp nhất. Qui luật sống hằng ngày. Thuyết thần bí. e/ Trường phái Tôn giáo nghi lễ … Nghi thức Thờ Devas hay Gods.
f/ Trường phái Vedanta … Có liên quan tới phi-nhị-nguyên. Bàn đến
liên hệ của Atman trong con người với Logos.
3. Có 4 nhánh tri thức mà H.P.B. đặc biệt nhắc đến. GLBN I, 192.
4 nhánh này có lẽ là các nhánh mà có lẽ con người đã bàn đến nhiều nhất trong cuộc tuần hoàn thứ tư và dãy thứ tư này. So GLBN I, 70, 95.
Tứ Diệu Đế. 4 kinh Vedas. 4 Phúc Âm. 4 chuẩn nhận căn bản. 4 yếu tố sẵn sàng. 4 cấp bậc Điểm Đạo.
a/ Yajna Vidya. Cách cử hành nghi thức tôn giáo để tạo ra một số kết (Minh Triết nghi lễ) quả. Nghi lễ phép thuật. Nó có liên quan với Âm
Thanh, do đó liên quan với Akasha hay là dĩ thái của không gian. “Yajna” là Thượng Đế vô hình (invisible Deity), Đấng tràn ngập khắp không gian.
Có lẽ minh triết này liên quan đến cõi trần chăng ?
b/ Mahavidya … Tri thức vĩ đại về pháp thuật. Nó thoái hóa thành việc (Đại minh triết thờ cúng của Tantrika. Liên quan với trạng thái nữ, pháp thuật) hay trạng thái vật chất (mẹ). Nền tảng của hắc thuật. Mahayoga chân chính có liên quan với sắc tướng (Ngôi Hai), cũng như thích ứng với Tinh Thần và nhu cầu của nó.
Có lẽ minh triết này liên quan đến cõi cảm dục chăng ?
c/ Guyha vidya …Khoa học về các thần chú. Tri thức bí mật về các thần (Minh triết chú huyền bí. Sức mạnh huyền linh của âm thanh, thần chú) của Linh Từ.
Có lẽ minh triết này liên quan với cõi trí chăng ? d/ Atma vidya… Minh triết tinh thần đích thực.
4. Tri thức về chân lý là một sự thừa kế chung. GLBN II, 47, 3.
5. Tri thức là một vấn đề tương đối và thay đổi tùy theo trình độ đạt được.
a/ Các phạm vi tri thức thêm nữa mở ra trước một Hành Tinh Thượng
Đế. GLBN II, 740.
b/ Bốn chân lý có thể được đạt tới bởi con người không được sự trợ giúp nào. GLBN III, 420.
6. Sau cùng, Tri Thức là một vũ khí nguy hiểm :
Điều này do bởi : sự ích kỷ cá nhân.
Nó chỉ an toàn khi :
a/ Con người không còn lẩn trốn nó, xác thân, linh hồn và tinh thần.
GLBN III, 62. b/ Con người có một niềm tin kiên định vào thiên tính riêng của mình.
GLBN III, 62. c/ Con người nhận biết Nguyên Khí Bất Tử của chính mình. d/ Con người biết chính mình. GLBN III, 435, 436. e/ Mọi đức hạnh đều được thực hành. GLBN III, 262. f/ Con người có được kinh nghiệm. GLBN III, 481

880 của năng lượng, về các tính chất của nó, các kiểu mẫu và các rung động của nó. Nó bao hàm một hiểu biết về: a/ Các rung động nòng cốt khác nhau.
b/ Các bí huyệt nhờ đó thần lực nhập vào.
c/ Các vận hà mà nó lưu thông theo đó.
881 d/ Các tam giác và các dạng hình học khác mà nó tạo ra trong khi tiến hóa.
e/ Các chu kỳ và sự lên xuống của năng lượng liên quan với kiểu mẫu biểu lộ của hành tinh, bao gồm tất cả các giới trong thiên nhiên.
f/ Ý nghĩa thực sự của các trạng thái thần lực này mà chúng ta gọi là “các chu kỳ pralaya” và các trạng thái mà chúng ta gọi là “các chu kỳ biểu lộ”. Nó cũng bao hàm một nhận thức đúng đối với các định luật về che khuất (laws of obscuration, định luật về thiên thực).
Mọi điều này, con người học được trong các Phòng khác nhau qua kinh nghiệm thực tiễn, liên quan với vui thích và khổ đau; trong các cuộc điểm đạo cuối cùng, các điều này mang lại cho y một nhận thức không những về sự tồn tại của các lực này, mà còn về cách làm sao để vận dụng và sử dụng được chúng. Đây là tri thức: điều khiển đúng các luồng thần lực, trước tiên trong ba cõi thấp của nỗ lực con người, kế đó, trong thái dương hệ.
Bác ái là nắm bắt đúng về các công dụng và mục tiêu của hình hài và về các năng lượng có liên quan đến việc kiến tạohình hài, sử dụng hình hài và sự tan rã cuối cùng của hình hài được thay thế. Nó bao hàm một nhận thức về các Định

g/ Con người nhận ra tri thức là kết quả của chỉ một mình Tinh Thần.
GLBN III, 453. h/ Tri thức có được qua vùng của thượng trí. GLBN III, 453.
Luật Hút và Đẩy, về sự tương tác từ lực giữa mọi hình hài, lớn và nhỏ, về các liên hệ tập thể, về năng lực khích động sự sống hợp nhất, và năng lực thu hút của đơn vị này lên đơn vị khác, dù đó là nguyên tử, con người hoặc thái dương hệ. Nó bao hàm một sự hiểu biết về mọi hình tướng, các mục tiêu của hình tướng và các mối liên hệ của hình tướng; nó liên quan với các tiến trình kiến tạo trong chính con người và trong thái dương hệ; và nó tất yếu đưa đến sự phát triển của các quyền năng này bên trong con người vốn sẽ làm cho con người trở thành một Nhà Kiến Tạo hữu thức, một Solar Pitri của một chu kỳ sắp tới. Đây là một trong các thiên khải lớn vào lúc điểm đạo: sự phát hiện đối với điểm đạo đồ của trung tâm vũ trụ đặc biệt, từ đó phát ra loại thần lực hoặc năng lượng mà y, tức điểm đạo đồ, sẽ có liên hệ đến, khi vào đúng lúc y trở thành một Solar Pitri, hay manasaputra thiêng liêng đối với nhân loại vị lai. Vì vậy, y phải có, không những tri thức, mà còn năng lượng bác ái cũng giúp y hoàn thành chức năng liên kết ba thể cao với bốn thể thấp của một nhân loại tương lai ở một chu kỳ xa xăm nào đó, nhờ thế giúp cho sự biệt ngã hóa của họ nhờ sự hy sinh của nguyên khí giữa của chính y một cách hoàn toàn hữu thức.
Lòng hy sinh thậm chí bao hàm nhiều hơn là những gì đã được nêu ra. Nó liên quan chặt chẽ tới các yếu tố sau:
a/ Tri thức về các thiên-ý và các thiên-định (intentions)
của Hành Tinh Thượng Đế, b/ Nhận thức về kiểu năng lượng riêng biệt và đặc thù và về tính chất của Đấng Chủ Quản Cung (Ray Lord) của chính y.
c/ Hiểu được các nhóm sự sống khác nhau, các nhóm này tham dự vào cuộc tiến hóa hành tinh và vào biểu lộ của thái dương hệ.
d/ Một khai mở về một vài kế hoạch hoạt động vũ trụ,
trong đó Hành Tinh Thượng Đế chúng ta đang hoạt động với tư cách một cộng tác viên sáng suốt. Như thế được đưa vào trong yếu tố của thần lực ngoài thái dương hệ.
Khi mọi yếu tố này và yếu tố nọ được xem xét, hiển nhiên là năng lượng được phóng thích trong sự hy sinh cho các thiên cơ và thiên định nói trên cần một lĩnh vực hiểu biết minh triết rộng đến nỗi một người bình thường không khi nào có thể nhận thức được. Nó liên quan đến các thiên ý và thiên cơ của các Đấng Silent Watchers trên ba cảnh giới – năm và bảy; nó liên quan đến mãnh lực năng động của Đại Thiên Thần Hủy Diệt (great Destroying Angels) trên tất cả các cảnh giới (planes), các thần mà sau rốt – nhờ vận dụng ba hình thức năng lượng – sẽ đưa tới một kết thúc tất cả những gì hiện hữu. Các thiên thần này là một nhóm huyền bí gồm các
Đấng Cao Cả thuộc vũ trụ lực (fohatic Lives), Các Ngài gióng
883 lên tiếng kèn hủy diệt, và bằng những nốt được ngân lên, sẽ tạo ra sự phá vỡ/sụp đổ (shattering) vốn dĩ sẽ phóng thích ra năng lượng kết nối các hình hài.
Điểm thứ hai được đưa ra rất vắn tắt. Nó liên quan với vòng cánh hoa trong cùng, hay cái tạo nên ba cánh hoa, hay là ba dòng năng lượng đang xoay tít này, chúng lập tức bao quanh “bảo ngọc trong hoa sen”. Mỗi một trong ba cánh hoa này có liên quan với một trong ba vòng và được cấu tạo như mỗi một trong ba vòng được khai mở. Do đó, chúng hợp thành một tổng hợp của tri thức, bác ái và hy sinh, và được liên kết chặt chẽ nhờ loại thần lực đang tuôn đổ qua chúng với một trong ba trung tâm lực cao của Hành Tinh Thượng Đế thuộc một cung đặc biệt của con người. Đơn vị trung ương với thần lực tam phân này được nói đến theo một cách đặc biệt vào lúc điểm đạo.
Ở các cuộc điểm đạo một, hai và ba, một trong ba cánh hoa mở ra, để hiển lộ ra dễ dàng hơn bao giờ điểm chứa điện trung ương. Vào Cuộc Điểm Đạo bốn, bảo ngọc (hoàn toàn hiển lộ) qua ánh sáng chói của nó, nhiệt tỏa ra mãnh liệt của nó, và dòng thần lực lưu xuất mãnh liệt của nó, tạo ra sự tan rã của hình hài chung quanh, sự tan vỡ của thể nguyên nhân, sự hủy diệt Thánh Điện Solomon và sự tan rã của hoa sen. Công việc của Đấng Điểm Đạo về việc này rất là lý thú. Nhờ Điểm Đạo Trượng và một vài Quyền Lực Từ, mang lại các kết quả có một bản chất phối kết, chuyển hóa và giải thoát.
Do tác động của Thần Trượng (Rod) khi được vận dụng ở hai Cuộc Điểm Đạo đầu, hai vòng cánh hoa ngoài khai mở, năng lượng của hai vòng này được giải phóng và hai tập hợp thần lực như được biểu hiện trong sáu cánh hoa được phối kết và trở nên ảnh hưởng lẫn nhau. Giai đoạn hiệu chỉnh cánh hoa này nối tiếp vào giai đoạn mà trước kia được gọi là “khai mở”, và có liên quan với tác động đồng thời của hai tầng cánh hoa. Sự tương tác giữa hai vòng được hoàn tất và
884 sự luân lưu của các luồng thần lực được thành toàn. Tùy theo cung chính hoặc cung phụ của con người, mà Thần Trượng được áp sát vào những gì có thể được gọi là cánh hoa “chủ chốt”. Dĩ nhiên điều này khác nhau tùy theo thành phần thần lực có liên quan đến. Thật là lý thú mà ghi nhận ở đây rằng, khi chất liệu của cánh hoa là thần chất (deva substance) và khi năng lượng của các cánh hoa là năng lượng của một số manasadevas (một trong ba cấp đẳng cao của các Agnishvattas) thì điểm đạo đồ được che chở (overshadowed, từ ngữ này không hoàn toàn thỏa đáng khi giải thích về mẫu thiên thần mà việc phụng sự ở đây là bắt buộc, nhưng nó hẳn là đủ) bởi một đại thiên thần, thần này tiêu biểu cho sự cân bằng của rung động cụ thể vốn được mang lại bằng các nỗ
lực của điểm đạo đồ, được trợ giúp bằng các vị adepts giới thiệu y, và mỗi adept tiêu biểu cho một trong hai đối cực về lực. Việc này được làm ổn định tạm thời bởi Đấng Điểm Đạo.
Ba yếu tố này
1. Deva tiêu biểu,
2. Hai vị adepts,
3. Đấng Điểm Đạo, trong giây phút ngắn ngủi, tạo thành tam giác lực với điểm đạo đồ ở trung tâm. Thần lực khủng khiếp luân lưu qua họ, “lửa từ Thiên Đường”, vốn được đưa xuống từ Ba Thể Cao, qua trung gian của Thần Trượng tích điện.
Việc áp sát lực ngoài Chân Ngã này trong chính nó có bản chất tam phân được tượng trưng bằng ba trung gian che chở và bản chất tam phân của chính Thần Trượng. Theo một ý nghĩa ban đầu, nó phát ra từ Hành Tinh Thượng Đế thuộc cung của một người, và tiếp tục từ một trong các trung tâm hành tinh vốn tương ứng với hoặc là bí huyệt đầu, tim hoặc bí huyệt cổ họng trong một con người. Năng lượng này được áp sát vào tầng cánh hoa tương ứng và vào cánh hoa tương ứng trong một tầng tùy theo cuộc điểm đạo được chọn, và tùy theo cung nguyên thủy và cung phụ. Một liên hệ chặt chẽ có thể được vạch ra ở đây giữa các hoa với các trung tâm lực hay là phân cảnh dĩ thái của cõi trần và như vậy nó có thể
885 được nhìn thấy làm sao (khi công việc cần được làm) có thể có một sự truyền chuyển trực tiếp của lực từ các cõi cao đến cõi thấp theo trật tự sau :
a/ Từ trung tâm lực của Thượng Đế, tức là Hành Tinh Thượng Đế, đến Monad trên cõi riêng của nó.
b/ Từ Chân Thần đó đến một trong ba tầng cánh hoa tùy theo trạng thái hoặc cung liên hệ.
c/ Từ tầng cánh hoa, xét dưới hình thức một đơn vị, đến một trong các cánh hoa trong vòng tròn, tùy theo tính chất và loại thần lực, sử dụng cánh hoa như một môi giới truyền chuyển.
d/ Từ cánh hoa đặc biệt mà thần lực được tạm thời tập trung trong đó đến một trong các vi tử thường tồn, lại cũng tùy theo cung và loại thần lực.
e/ Từ vi tử thường tồn xuyên qua tam giác vi tử, và trung tâm lực hạ trí, trung tâm lực cảm dục, đến một trong ba trung tâm lực cao trong thể dĩ thái có liên hệ đặc biệt.
f/ Từ trung tâm lực dĩ thái đến bộ óc xác thân.
Nơi đây, chúng ta đã đưa ra rất vắn tắt tiến trình truyền lực từ Monad đến con người trên cõi trần, và vì vậy điều sẽ rõ rệt là tại sao tầm quan trọng lại được trước sau như một đặt vào sự thiết yếu là tinh khiết về xác thân (trong tất cả ba thể) và dựa vào sự chỉnh hợp của các hạ thể này sao cho luồng thần lực có thể không bị cản trở. Các hiệu quả của dòng thần lực đi xuống này có thể được nhìn theo hai mặt, nghĩa là, theo ý nghĩa vật chất và theo ý nghĩa tâm linh.
Hiệu quả vật chất, hay là kết quả của việc kích thích này trên hình hài và dựa vào các nguyên tử trong hình hài, là để làm cho chúng trở nên phóng xạ, tức là để phóng thích năng lượng của vật chất. Đây là việc giải thoát của năng lượng bị giam nhốt bên trong hình hài, và liên quan đến trạng thái
886 Brahma, và sự tiến hóa của chính vật chất. Nó có ảnh hưởng đến các nguyệt thể (lunar bodies) và do đó có liên quan đến các Lunar Lords hay Pitris, gây nên sự suy yếu về ảnh hưởng của các thần này đối với các thần kiến tạo cấp thấp, đưa các tiểu thần này ngày càng ở dưới các luồng thần lực từ các Solar Angels, và dẫn đến một tình thế mà sau rốt sẽ tạo kết quả trong việc quay lại của các Lunar Pitris thuộc mọi đẳng
cấp vào trung tâm điểm dành cho chất lực (force substance). Theo ý nghĩa tâm linh (psychic sense), kết quả của dòng chảy xuống (downflow, dòng giáng lưu) là một kích thích của tâm thức, và phần thu được (nhờ sự kích thích đó) của các năng lực tâm thông nằm tiềm tàng trong con người. Ba trung tâm lực cao trong xác thân con người, tức tuyến tùng quả, tuyến yên và trung tâm lực hành tủy đều bị ảnh hưởng, con người trở nên hiểu biết bằng tâm linh trong bộ óc xác thân về các ảnh hưởng, các biến cố và các quyền năng cao siêu. Tùy theo cung liên hệ, trung tâm lực cũng chịu ảnh hưởng. Thần lực của các Lunar Lords, vốn đã nối tiếp trong việc giữ cho cả ba cơ quan này được yên tĩnh, được thay thế và các Solar Angels tuôn đổ vào năng lượng của các Ngài.
Tất cả mọi việc này lại có liên quan chặt chẽ với năng lượng tam phân của thể xác và tạo ra các hiệu quả bên trong cột sống mà luồng hỏa xà ở đáy xương sống đi lên, khiến cho nó leo lên theo ba vận hà ở cột sống, lần nữa tùy theo cung và trạng thái có liên quan. Nhiều điều nữa liên quan đến việc này không thể nói ra ở đây vì các nguy hiểm của việc hiểu biết sớm theo đường lối này vốn lớn hơn là cái nguy hiểm vì không biết. Chỉ cần chỉ ra rằng các luồng hỏa ở các bí huyệt thấp – các bí huyệt dưới cách mô – vào lúc điểm đạo 2, thường đi lên bí huyệt giữa hai xương bã vai; ở cuộc điểm đạo 2, chúng đi lên tận đầu, và tất cả các luồng hỏa của thân trên lúc đó đều linh hoạt. Tất cả những gì cần làm lúc đó là tập trung chúng lại, để tạo ra sự tương tác hình học cần có giữa bảy bí huyệt đầu, và kế đó tập trung tất cả chúng lại trước khi có sự giải thoát cuối cùng trong trung tâm lực cao nhất so với tất cả.
887 4. Các hỏa tinh linh, tức tiểu thần kiến tạo. a/ Mở đầu
Giờ đây, trong việc nghiên cứu của chúng ta về các Thần Kiến Tạo, lớn lẫn nhỏ, của thái dương hệ, điều hiển nhiên là từ trước đến giờ chúng ta đã gần như hạn chế chính chúng ta vào những người vốn là các nhân sự hoạt động trong ba cõi nỗ lực của nhân loại. Chúng ta đã bàn vắn tắt về các Thần Tạo Tác trên cung tiến hóa giáng hạ, các thực thể vĩ đại, các vị đã vượt qua giới nhân loại, và do đó đã để lại giai đoạn đàng sau họ trong các chu kỳ trước, hoặc vào lúc này đang là các “trợ thủ thái dương” (“solar agents”) của biểu lộ nhân loại. Tất cả các hình thức sự sống thiêng liêng này - ở vị trí riêng của chúng – tiêu biểu cho các trạng thái của thần lực tích cực. Giờ đây, chúng ta tiến đến xem xét các thần tạo tác hạ đẳng trong ba cõi thấp, tức các thần tiêu biểu cho trạng thái âm (tiêu cực) của thần lực, vốn đang ở trên cung tiến hóa giáng hạ, do đó các thần này là các tác nhân thu nhận năng lượng và các ảnh hưởng. Các thần này được hoạch định bởi năng lượng, và qua hoạt động của các Thần Tạo Tác cấp cao, được thúc đẩy vào các hướng khác nhau trong không gian, được kiến tạo thành các hình hài khác nhau. Như được biết rõ, năng lượng tác động vào các thần này phát ra từ Ngôi Hai, và trong toàn thể của chúng, chúng hợp thành Mẹ vĩ đại (great Mother).
Tôi muốn nhắc nhở mọi đạo sinh chú ý đến sự kiện là các thần tạo tác cấp thấp này, theo nghĩa đen là một “bể lửa” mà dựa vào đó luồng đại khí vận (great breath), hay là AUM, phát huy tác dụng. Mỗi tia lửa, hay là nguyên tử (qua tác động của Linh Ngôn), trở nên linh hoạt với sự sống mới, và được thấm nhuần bằng một loại năng lượng khác hẳn. Trong sự hợp nhất của sự sống của chính chất liệu nguyên tử với những gì khiến cho các nguyên tử kết hợp lại và tạo thành các hiện thể thuộc loại này hoặc loại khác, có thể được thấy biểu hiện ra “Con của Thượng Đế”. Nơi đây có ẩn tàng lưỡng nguyên chủ yếu của mọi biểu lộ; lưỡng nguyên này sau đó được bổ sung bằng sự sống của Đấng Duy Nhất (One) chính
Ngài phát ra Linh Ngôn. Thế là cuộc lâm phàm vũ trụ đã xảy
888 ra với ba yếu tố tiến nhập vào. Điều này được bàn đến đầy đủ trong các trang sau.
Nhiều điều cần được nói đến sẽ có bản chất biểu liệt kê, và cách duy nhất mà các đạo sinh có thể kiểm soát sự chính xác gần đúng của những gì được truyền đạt sẽ là một sự suy tưởng thận trọng về :
a/ Định Luật về các Tương Ứng. b/ Các xác suất có thể hiểu được.
c/ Các chỉ dẫn trong văn liệu huyền linh học về một bản
chất dùng để xác minh (corroborative nature).
Đạo sinh nên nhớ rằng chúng ta đang bàn về vật chất tiến hóa giáng hạ, hay là vật chất nguyên tử. Vật chất nguyên tử này là vật chất đang sống (living substance), mỗi nguyên tử vốn là một sự sống tí hon đang đập nhịp theo sức sống của Thượng Đế Ngôi Ba. Vốn là năng lượng âm, các sự sống này đáp ứng với đối cực (polar opposite) của chúng, và có thể (theo Định Luật Hút và Đẩy) được kiến tạo thành hình hài vốn là biểu lộ của Ngôi Hai. Sau rốt, đến phiên chính các hình hài trở thành và đáp ứng với một loại thần lực tĩnh lặng khác, trở thành các tác nhân lĩnh nhận sự sống của Thượng Đế Ngôi Một khi giới thứ tư hay là giới nhân loại được đạt đến.
Bộ Luận này tìm cách chứng minh rằng trong giới thứ tư, ba lửa đáp ứng:
a/ Lửa do ma sát, hay Trạng Thái âm của Brahma, tức Ngôi Ba. b/ Lửa thái dương, hay Trạng Thái âm dương của Vishnu, Ngôi Hai.
c/ Lửa điện, hay Trạng Thái dương của Shiva, Ngôi Một.
Dù là hữu thức hay vô thức, trong ba cõi thấp, con người tóm tắt lại tiến trình của Thượng Đế và trở thành một kẻ sáng tạo tác động trong vật chất qua yếu tố năng lượng dương của con người. Y mong muốn, y suy tưởng, y nói năng, và kết quả là tạo ra các hình tư tưởng. Vật chất nguyên tử bị thu hút
889 vào kẻ phát ngôn từ /ý tưởng (enunciator). Các sự sống rất nhỏ cấu tạo bằng vật chất đó được thúc ép (do năng lượng của chủ thể suy tưởng) thành hình tướng, để rồi tự chúng linh hoạt, sống động và mạnh mẽ. Những gì mà con người tạo ra thì hoặc là một tạo vật có ích/tốt lành, hoặc là một tạo vật độc hại tùy theo ham muốn, động cơ hoặc mục tiêu nằm bên dưới.
Điều cốt yếu là chúng ta cố gắng thực hành những gì được đưa ra ở đây, vì vô ích cho người nào muốn nghiên cứu các nhóm thần tạo tác cấp thấp, chức năng và danh xưng các thần đó, nếu như con người không biết rằng nhiều thần trong số đó có một liên quan mật thiết với con người, vì chính con người là một trong các nhà tạo tác vĩ đại và là một kẻ sáng tạo bên trong hệ hành tinh này. Con người nên nhớ rằng qua sức mạnh của các tư tưởng và các ngôn từ được phát ra của họ, họ dứt khoát tạo ra các hiệu quả trên những người khác đang hoạt động trên ba cõi tiến hóa của nhân loại và trên toàn bộ giới động vật. Các tư tưởng chia rẽ và ác độc của con người chịu trách nhiệm phần lớn cho bản chất hung dữ của dã thú và tính chất tàn phá của một số tiến trình của thiên nhiên, kể cả một số hiện tượng như là dịch bệnh và đói kém.
Không chút giá trị gì cho con người khi biết được tên gọi của một “đạo quân âm thanh” nào đó nếu con người không hiểu được mối liên hệ của y với đạo quân đó, nếu con người không hiểu được trách nhiệm của y là phải trở thành một tác nhân sáng tạo tốt lành, hoạt động theo định luật bác ái, và không bị thúc đẩy đến hành vi sáng tạo do ham muốn ích kỷ, hoặc hoạt động thiếu kiềm chế.
b/ Các tinh hoa chất cõi trần (physical plane elementals).
Cần nên nhớ rằng các devas mà chúng ta đang nghiên cứu là các tác nhân phát khởi xung lực và là các tác nhân vận dụng năng lượng ở trình độ riêng của các thần đó và trên cõi riêng của họ. Do đó, người ta nhận thấy liên quan với các thần này là các tác nhân thụ nhận thần lực, hay là vô số các sự sống có bản chất tinh hoa chất, chúng hợp thành toàn thể vật chất của một cõi. Các sự sống này lan ra trên các làn sóng
890 năng lượng, do sự thôi thúc của Linh Khí (Breath) và theo kết quả của tác động rung động, đi vào mọi hình hài theo như chúng ta biết trên cõi trần. Do đó, liên quan với biểu lộ trên cõi trần, các devas có thể được chia thành ba nhóm :
1. Các thiên thần truyền chuyển Thiên Ý, tức là các thần khởi xướng (originators) hoạt động trong thần chất. Đây là các Thần Tạo Tác cao cấp thuộc các nhóm khác nhau.
2. Các thiên thần vận dụng năng lượng khởi đầu. Đây là vô số các thần hoạt động với thần lực, đến phiên họ, các thần này truyền chuyển xung lực đến linh khí tinh hoa chất (elemental essence). Họ là các thần tạo tác cấp thấp, chỉ ở trên cung tiến hóa giáng hạ dưới hình thức nhóm thứ nhất.
3. Các tác nhân thụ nhận thần lực (recipients of force), tức là toàn bộ chất liệu linh hoạt của một cõi. Các sự sống này vốn thụ động trong các bàn tay của các Thần Tạo Tác cấp cao hơn.
Ba nhóm cần xem xét là :
1. Các tinh hoa chất của vật chất thô đặc nhất.
2. Các tinh hoa chất của chất lỏng.
3. Các tinh hoa chất của chất khí.
Khi nghiên cứu ba nhóm này, chúng ta phải nhớ rằng chúng ta không bàn đến các tác nhân truyền đạt (transmitter), mà là bàn đến các tác nhân vận dụng (manipulators) và bàn đến các tác nhân thụ nhận năng lượng.
1. Các tinh hoa chất của vật chất thô đặc nhất. Đây là các thần hoạt động và tạo tác có liên quan với các phần cụ thể và thuộc ngoại cảnh của mọi biểu lộ. Trong toàn bộ các thần này, theo nghĩa đen, họ tạo ra những gì mà con người có thể sờ được, thấy được và tiếp xúc được bằng vật chất. Trong khi cứu xét các vấn đề này, chúng ta đừng bao giờ phân tích các nhóm khác nhau trong trí theo sát nghĩa quá, vì tất cả các nhóm đó đều hòa nhập nhau và phối trộn lại, giống như cách mà thể xác con người được trộn lẫn bằng chất đặc, chất lỏng, chất khí và chất dĩ thái vậy. Từ một cái đơn nhất, thiên hình vạn trạng được nhìn thấy khắp nơi; đạo sinh huyền linh học
891 cần phải luôn luôn ghi nhớ sự kiện này khi nghiên cứu các hình thức sự sống dưới nhân loại. Có một nguy hại rõ ràng trong mọi bảng phân loại, vì chúng có khuynh hướng tạo ra các phân chia cứng nhắc và thiếu linh hoạt, trong khi mà cái đơn nhất (unity) có mặt trong mọi vật.
Trong số các devas đang hoạt động thuộc phân cảnh thấp nhất của cõi vật chất trọng trược, người ta thấy có một số hình thức sự sống ngầm dưới đất (subterranean form of existence), mà các cổ thư và sách về huyền bí học có nói bóng gió đến. Người ta tìm thấy trong tận lòng đất một hệ thống tiến hóa có bản chất đặc biệt, có sự tương đồng chặt chẽ với con người. Chúng có các thân thể (bodies) thuộc loại thô kệch/thô sơ (gross) đặc biệt, có thể được xem như thuộc vật chất rõ rệt theo như cách chúng ta hiểu từ ngữ đó. Chúng trú trong các chỗ ở (settlements) hoặc các nhóm, dưới hình thức cai trị thích hợp với nhu cầu của chúng trong các hang động chính yếu sâu nhiều dặm dưới vỏ trái đất. Công việc của chúng có liên quan chặt chẽ với giới khoáng thạch và các “agnichaitans” của các đám lửa chính yếu đều ở dưới sự kiểm soát của chúng. Cơ thể của chúng được cấu tạo với mục đích chịu đựng được áp suất lớn và chúng không tùy thuộc vào sự lưu thông không khí một cách thông thoáng như con người, chúng cũng không phiền hà gì về sức nóng dữ dội có bên trong địa cầu. Ở đây chỉ có thể truyền đạt chút ít về các sinh linh này, vì chúng có liên quan với các phần tử/đoạn (portions) ít quan yếu hơn của thể xác của Hành Tinh Thượng Đế, giống như sự tương đương về mặt tiểu thiên địa của các sinh linh đó nơi bàn chân và ống chân của một con người. Chúng là một trong các yếu tố giúp cho hoạt động quay theo lũy tiến của một hành tinh có thể xảy ra.
Kết hợp với chúng có nhiều nhóm thực thể ở tầng lớp thấp khác, mà vị trí của chúng cứ theo kiểu này thì chỉ có thể được mô tả như có liên hệ với các chức năng hành tinh thô thiển hơn. Một vài sự việc có thể có được nhờ bàn rộng về các sinh linh này và công việc của họ. Bằng bất cứ cách nào con người cũng không thể tiếp xúc được với họ, cũng như không nên trông đợi việc đó. Khi họ theo đuổi chu kỳ tiến hóa của họ, họ sẽ chiếm vị trí của họ ở chu kỳ sau trong hàng ngũ của một số cơ thể thiên thần vốn có liên quan với giới động vật.
892 Thông thường, người ta tưởng là mọi tiên nữ (fairies), thổ tinh linh (gnomes), thảo tinh linh (elves) và đại loại các tinh linh thiên nhiên chỉ có trong chất dĩ thái, nhưng không phải như thế. Chúng có trong các thể bằng chất hơi (bodies of gaseous) và cũng có trong vật chất lỏng (liquid substance) nữa, nhưng nhầm lẫn phát xuất từ lý do là nền tảng của tất cả những gì có thể thấy lộ ra bên ngoài đều là cấu trúc dĩ thái, còn các sinh linh bé tí và luôn bận rộn này thường che đậy
các hoạt động vật chất trọng trược của chúng do sự tác động của huyễn cảm (glamour) và đưa ra một màn che qua biểu lộ bên ngoài của chúng. Khi có được nhãn thông dĩ thái, bấy giờ có thể nhìn thấy được các sinh linh này, vì như chúng ta biết, huyễn cảm chỉ là một bức màn vắt qua những gì hữu hình.
Trong giai đoạn này, các đạo sinh phải nhớ rằng mọi hình hài vật chất trọng trược, dù là của một thân cây, một con thú, một chất khoáng, một giọt nước, hoặc một đá quý, chính chúng đều là các sự sống tinh hoa chất (elemental lives) được cấu tạo bằng vật chất sinh động (living substance) bởi sự giúp sức của các tác nhân điều khiển sinh động (living manipulators), hoạt động dưới sự hướng dẫn của các nhà thiết kế sáng suốt. Lập tức, điều sẽ trở nên hiển nhiên là tại sao bằng bất cứ cách nào cũng không thể lập ra bảng biểu liên quan đến nhóm thấp nhất một cách đặc biệt này. Một viên kim cương xinh xắn, một thân cây oai vệ, hoặc một con cá trong nước, sau rốt chỉ là các thiên thần. Đó là nhận thức về nguồn sống chủ yếu vốn tạo ra sự kiện căn bản trong mọi sưu khảo huyền linh học, và là cái bí nhiệm của mọi pháp thuật tốt lành. Do đó, mục đích của tôi không phải là bàn một cách cụ thể hơn đến các hình thức thấp kém nhất này của sự sống thiêng liêng, trừ phi để truyền đạt hai sự kiện, và như thế đưa ra chỉ dẫn về cách giải quyết hai vấn đề vốn thường gây bối rối đạo sinh bậc trung. Thứ nhất, đây là vấn đề về mục tiêu của mọi sự sống loài bò sát, và, thứ hai, mối liên hệ đặc biệt của sự tiến hóa của chim với giới thiên thần.
Bí mật của giới bò sát là một trong các bí mật của cuộc tuần hoàn thứ hai và có một ý nghĩa sâu xa liên quan với biểu hiện “minh triết xà” vốn được áp dụng cho tất cả các cao đồ
893 (adepts) của thiên luật. Giới bò sát có một vị trí lý thú trong mọi thần thoại học và mọi hình thức truyền đạt chân lý cổ
xưa và điều này không có lý do vũ đoán nào cả. Không thể bàn rộng về chân lý ẩn bên dưới, vốn được che giấu trong lịch sử nghiệp quả của Hành Tinh Thượng Đế chúng ta và được tiết lộ như một phần của giáo lý được dạy ra cho các điểm đạo đồ cấp hai.
Xung lực sự sống vĩ đại thứ hai, hay làn sóng sinh hoạt (life wave), do Hành Tinh Thượng Đế chúng ta khai mở, khi được đưa vào kết hợp với xung lực sự sống vĩ đại thứ nhất, là nền tảng của loại hoạt động mà chúng ta gọi là năng lượng tiến hóa thăng thượng; nó dẫn đến kết quả trong việc trải ra từ từ, hay là khai mở, hình thức thiêng liêng. Con thiên xà đã hiển lộ, được tạo ra từ quả trứng và đã bắt đầu các khúc cuộn của nó, đạt được uy lực và vẻ oai vệ, đồng thời tạo ra qua sự phong phú vô biên của nó, hàng triệu “con rắn” nhỏ hơn. Giới bò sát là thành phần quan trọng nhất của giới động vật ở một số khía cạnh, nếu một câu nói mâu thuẫn ở bề ngoài như thế có thể được đưa ra. Vì mọi sự sống động vật có thể được thấy đang trải qua giới bò sát trong giai đoạn tiền sinh, hoặc quay trở lại giới đó khi hình hài ở trong trạng thái phân hủy vì tuổi già. Sự liên quan không thuần là một liên quan vật chất, mà cũng có liên quan về tâm linh nữa. Khi bản chất thực sự và phương pháp của Kundalini hay hỏa xà, được nhận ra, mối liên hệ này sẽ được hiểu rõ hơn, và lịch sử về cuộc tuần hoàn thứ hai sẽ có một tầm quan trọng mới.
Bí ẩn của sự sống ẩn giấu trong giai đoạn rắn – không phải sự sống của Tinh Thần, mà là sự sống của linh hồn, và điều này sẽ được tiết lộ khi “con rắn của ánh sáng cảm dục” được tiếp cận thực sự và được nghiên cứu thích đáng. Một trong bốn Thần Quân Lipika, Đấng có vị thế gần nhất với Hành Tinh Thượng Đế chúng ta, được gọi là “Linh Xà Sinh Động” (“The Living Serpent”) , và biểu tượng của Ngài là một con rắn có một mắt xanh, có dạng một viên hồng ngọc (ruby) ở trên đầu rắn. Các đạo sinh nào thận trọng sẽ đưa biểu tượng học đi xa thêm một ít, có thể liên kết ý tưởng này với “con mắt của Shiva” vốn thấy và biết tất cả, và ghi chép mọi sự, giống như con mắt nhân loại đang làm ở cấp độ nhỏ hơn; tất cả đều được thu hình trên cảm dục quang (astral light), giống như mắt con người nhận được các ấn tượng trên võng mô. Cũng ý tưởng đó thường được diễn đạt trong Thánh Kinh Cơ Đốc giáo, với nhận thức của người Hebrew và người Cơ Đốc về toàn-nhãn-thông của Đức Chúa Trời. Sự áp dụng và giá trị của các ngụ từ được đưa ra ở đây có thể rõ rệt nếu đề tài về con mắt thứ ba được nghiên cứu, và liên hệ của nó với xương sống và các luồng hỏa ở xương sống được điều nghiên. Con mắt thứ ba này là một trong các mục tiêu của việc làm linh hoạt kundalini, và trong khu vực hoạt động của cột sống, trước tiên có bí huyệt ở đáy xương sống, trú sở của luồng hỏa đang nằm im. Kế đến chúng ta có vận hà tam phân mà luồng hỏa sẽ chạy dọc đó theo đúng đường tiến hóa, và sau cùng, chúng ta tìm thấy ở đỉnh của cột sống, và vượt trên tất cả là cơ quan nhỏ được gọi là tuyến tùng quả (ỳung quả : quả thông), mà khi được làm linh hoạt, sẽ giúp con mắt thứ ba khai mở, và các vẻ thanh tú mỹ miều của các cõi cao và tinh anh sẽ bộc lộ ra. Mọi sự kiện tâm-sinh-lý này đều có thể xảy ra với con người nhờ bởi một số biến cố vốn đã xảy ra đối với Thiên Xà (Heavenly Serpent) trong cuộc tuần hoàn thứ hai, hay xà tuần hoàn. Các biến cố này đòi hỏi việc tạo thành và sự tiến hóa của gia đình đặc biệt và huyền bí đó mà chúng ta gọi là giới bò sát. Các hình thức của sự sống thiêng liêng này có liên quan rất mật thiết với hành tinh hệ thứ hai, vốn chịu trách nhiệm cho năng lượng phát ra từ hệ thống đó, và đi đến trái đất thông qua bầu thứ hai trong dãy thứ hai.
Một nhóm devas đặc biệt (liên quan với âm thanh khai mở đặc biệt trong Linh Từ hành tinh), hoạt động với sự tiến hóa của loài bò sát.
Ở đây cần ghi nhận rằng sự tiến hóa này trên các cõi dĩ thái, có một ảnh hưởng chặt chẽ trên con người hơn là trên vật chất. Nếu các đạo sinh tự áp dụng chính mình vào việc xem xét các sự kiện này, vào việc tìm tòi truyền thuyết về rắn trong mọi nước, các thần thoại và các sách kinh, và nếu họ cố công kiên kết hết thảy kiến thức này với những gì liên quan đến các chòm sao trên bầu trời mà có tên gọi liên quan đến rắn (chẳng hạn chòm sao Thiên Long-Dragon), nhiều tỏ ngộ
895 có thể xuất hiện. Nếu có đủ trực giác, lúc đó tri thức có thể được truyền đạt sẽ giúp làm sáng tỏ hơn sự liên hệ giữa các thể hồng trần và các bí huyệt của chúng với bản chất thông linh.
Giới điểu cầm có liên quan đặc biệt với cơ tiến hóa thiên thần. Đó là giới nối liền giữa cơ tiến hóa hoàn toàn thiên thần với hai biểu lộ khác của sự sống.
Thứ nhất. Một vài nhóm devas muốn chuyển qua giới nhân loại, nhờ đã phát triển một vài kỷ năng, họ có thể làm như thế, xuyên qua giới chim chóc, và một số devas muốn giao tiếp với con người cũng có thể làm như thế xuyên qua giới điểu cầm. Chân lý này được nói bóng gió đến trong Thánh Kinh Cơ Đốc giáo và các tranh tượng Thiên Chúa giáo bằng các angels hay devas thường được mô tả như là có cánh. Các trường hợp này không có nhiều vì phương pháp thông thường là để cho thiên thần dần dần tự hoạt động hướng tới biệt ngã hóa (individualisation) qua cảm xúc mở rộng, nhưng trong các trường hợp xảy ra như trên, các devas này chuyển qua nhiều chu kỳ trong giới điểu cầm, tạo nên một đáp ứng với một rung động mà rốt cuộc sẽ đặt họ vào gia đình nhân loại. Theo cách này, họ trở nên quen thuộc với việc sử dụng một hình hài thô thiển không có các giới hạn và các pha tạp /bất thuần khiết (impurities) mà giới động vật sản sinh ra.
Thứ hai. Nhiều devas chuyển ra khỏi nhóm các sự sống thụ động với cố gắng trở thành các sự sống chi phối/điều khiển xuyên qua điểu giới, và trước khi trở thành tiên nữ, thảo tinh linh, thổ tinh linh hoặc các tinh linh thiên nhiên khác, trải qua một số chu kỳ trong lĩnh vực chim (bird realm).
Lý do tại sao hai biến cố trên xảy ra sẽ không rõ rệt đối với độc giả không có chủ đích, cũng như sự nối tiếp thực sự giữa loài chim với thiên thần cũng không được đạo sinh huyền môn hiểu một cách chính xác, nếu y không tự đặt chính mình vào việc xem xét “chim hoặc thiên nga ra ngoài thời gian và không gian”, và vị trí mà loài chim nắm giữ trong các bí pháp. Đối với y, manh mối nằm nơi đây. Y cũng phải nhớ sự kiện rằng mọi sự sống thuộc mọi trình độ, từ một
896 vị thần (god) đến một deva tầm thường nhất trong các devas cấp thấp, hay các thần tạo tác (builders), vào lúc này hoặc lúc khác, đều phải vượt qua gia đình nhân loại.
Như H.P.B. có nêu ra (GLBN, Đoạn X, quyển I, 384, 435; II, 306), loài chim và rắn đều có liên quan chặt chẽ với minh triết, và do đó liên quan với bản chất thông linh của Thượng Đế, của con người và của devas. Việc nghiên cứu về thần thoại học sẽ tiết lộ một vài giai đoạn và các mối liên hệ vốn sẽ làm cho vấn đề này rõ ràng hơn.
2. Các tinh linh và các devas cấp thấp của chất lỏng. Một minh họa rất lý thú về sự hòa nhập của mọi chất sáng tạo sinh động có thể được nhìn thấy có liên quan với bầu khí quyển bao quanh hành tinh chúng ta. Trong khí quyển đó người ta sẽ thấy :
a/ Sự ẩm ướt, hay là các tinh túy sinh động vốn là các tinh
hoa chất của chất lỏng (liquid elementals).
b/ Chất hơi, hay là các sinh linh vốn liên kết với mọi tinh túy của lửa (fiery essences) vốn dễ bay hơi và là kết quả của sức nóng.
c/ Chất dĩ thái, hay là các đẳng cấp thấp nhất của các
devas của các dĩ thái (ethers).
Khi ở trạng thái liên kết, tam bộ chính yếu này tạo ra cái mà chúng ta hít thở, và cái mà trong đó chúng ta sống, hoạt động và hiện tồn. Đối với đạo sinh có suy tư, không khí thì đầy dẫy biểu tượng, vì đó là một sự tổng hợp và là những gì nối liền các tầng lớp cao và các tầng lớp thấp của biểu lộ.
Trước tiên, chúng ta phải tập trung sự chú tâm của chúng ta vào các sinh linh (lives) đang tạo ra toàn bộ của tất cả những gì thuộc về nước và chất lỏng qua khắp biểu lộ, và khi bàn đến việc này, chúng ta phải nhớ rằng chúng ta đang đề cập đến cái huyền bí nhất trong các tìm kiếm, và đến các vấn đề có liên quan rất chặt chẽ với cơ tiến hóa của con người.
Nhiều nhóm thủy thần (water devas) thuộc lớp hoạt động đã được phân nhóm một cách sơ lược bởi các văn sĩ viết
897 chuyện thần tiên, dưới tên nàng tiên cá (undines), nhân ngư (mermaids) và các diễn tả khác, nhưng chúng có thiên hình vạn trạng, và điều này hẳn lộ rõ khi người ta nhớ rằng toàn bộ nước trên địa cầu (biển to, biển nhỏ, sông, hồ, suối), đều vượt xa chỗ khô hay đất liền, đã vậy mỗi giọt nước đọng (drop of moisture) chính là một sự sống bé nhỏ, đang hoàn thành chức năng của nó và đang trải qua chu kỳ của nó. Các hình thức thần thoại được nói ở trên, chỉ là vô số các sự sống được tạo thành một hình hài nhờ đó một deva đang tiến hóa tìm cách biểu lộ.
Sự cực kỳ lý thú của đề tài này có thể được trình bày dưới một vài phát biểu mà sẽ đem lại cho nhà nghiên cứu một ý tưởng nào đó về sự chú ý kỹ càng mà sau rốt cần và sẽ đặt vào đề tài này về các sự sống thiên thần biểu lộ qua nước (deva lives of watery manifestation). Như đã nói ở trên, toàn thể các sự sống này thì vĩ đại hơn là toàn thể các sự sống đang hợp thành toàn bộ địa cầu rắn đặc theo như chúng ta hiểu thuật ngữ đó, cho dù chúng không vượt quá con số các sự sống đang tạo ra phần chất khí của biểu lộ; phần chất khí này nằm trong bầu khí quyển, xuyên thấu qua chất đặc, và lắp đầy ở một mức độ lớn các hang động bên trong của hành tinh. Sự giống nhau về mặt tiểu thiên địa với Sự Sống vĩ đại của hành tinh được thấy ở sự kiện là cả hai hình thức chỉ là các vỏ ngoài hay là các khung sườn, bảo vệ cho cái “mái vòm” bên trong; cả hai hình thức đều lõm, cả hai đều có các điểm tận cùng âm và dương, có thể nói các cực của chúng về mặt trong tiếp tục ảnh hưởng nhiều đến các tiến hóa bên ngoài.
Một trong các hành tinh huyền bí nhất, Neptune (Hải Vương tinh), cai quản các “thủy thần”; Thần Quân đứng đầu các thủy thần, tức Varuna, Vị Chúa của cõi cảm dục, vốn là một phân thân (emanation) từ hành tinh đó. Vì vậy các nhà nghiên cứu sẽ thấy vô cùng lý thú khi nghiên cứu sự tương tác chặt chẽ giữa :
1. Cõi thứ sáu, tức cõi cảm dục, và cõi phụ thứ sáu của cõi trần, tức cõi phụ chất lỏng.
898 2. Cõi phụ thứ sáu của mỗi cõi chính trong thái dương hệ và sự liên hệ của chúng với nhau.
Ở đây, người ta sẽ tìm thấy một lý do giải thích tại sao con người thuộc loại tương đối thấp về thể xác, và có một thể cảm dục với một ít vật chất thuộc cõi phụ thứ sáu trong đó đáp ứng với các sự việc cao siêu hơn, và có một hoài bão tâm linh. Ảnh hưởng phát ra từ cõi phụ thứ sáu của cõi bồ đề làm thức động một đáp ứng hỗ tương từ vật chất cõi phụ thứ sáu trong các thể khác, và nguyên khí thứ sáu, tức nguyên khí bồ đề, theo Định Luật Tương Ứng làm mạnh thêm rung động đó.
Danh xưng Neptune là danh xưng mà theo đó Hành Tinh Thượng Đế của một trong ba hành tinh hệ chính yếu được biết trên hành tinh chúng ta. Một số các ảnh hưởng và năng lượng của Ngài tác động rất lớn đến tinh chất thiên thần của vật chất cõi phụ thứ sáu này, đạt đến chúng thông qua Thần Quân Varuna. Tri thức này có giá trị thực tiễn về mặt chiêm tinh, vì nó sẽ giúp cho con người hiểu được bản chất của các thể vật chất của họ, nhất là thể cảm dục của họ. Đó là một sự kiện huyền bí mà loại chất cảm dục trong cơ thể con người định đoạt tính chất của chất nước (watery substance) của thể xác của y. Theo huyền linh học, không hề có sự tách ra nào của các bản chất tâm linh-sinh lý, vì cái sau ấn định cái trước. Do đó, hành tinh Neptune có một ảnh hưởng sâu xa và một liên hệ chặt chẽ theo Định Luật Tương Ứng với cõi thứ sáu, hay cõi cảm dục, vốn là cõi của phần chất lỏng của thể xác Thượng Đế, với cõi phụ thứ sáu của cõi trần, hay với phần chất lỏng của xác thân con người và của thể xác hành tinh, cũng với loại năng lượng thứ sáu hay lực, hay cung thứ sáu.
Hành tinh hệ chính yếu mà Neptune cai quản, hợp thành một tam giác của thái dương hệ rất đáng chú ý đối với các nhà chiêm tinh học nội môn với hành tinh hệ thứ sáu và một hành tinh hệ khác nữa. Điều này được hình tượng hóa trong
899 cây chĩa có ba gạc mà thần Neptune luôn luôn được vẽ là đang nắm giữ, các mũi chĩa theo nghĩa đen là các tam giác biểu tượng liên kết với nhau bằng ba đường thần lực.
Hành tinh này cũng có một liên hệ thiết yếu với nguyên khí thứ sáu của Thượng Đế, hay Buddhi và do đó cũng là nguyên khí thứ sáu của con người. Không một ai bắt đầu phối kết hiện thể Buddhi cho tới khi y tiến đến dưới ảnh hưởng của Neptune trong kiếp sống này hoặc kiếp sống khác. Khi xảy ra trường hợp này, lá số tử vi của phàm ngã y sẽ chỉ ra ảnh hưởng của Neptune đang chi phối ở nơi nào đó.
Hành tinh hệ Neptune đang chi phối một trong ba con đường trở về, và sau rốt gom vào chính nó mọi Egos đang đạt tới chủ yếu là qua việc vận dụng loại năng lượng thứ sáu thường được gọi là tận tụy/mộ đạo (devotion). Đó cũng là ảnh hưởng của Neptune, nó chủ trì và giúp cho Cuộc Điểm Đạo thứ hai có thể xảy ra, trong đó điểm đạo đồ tạo ra các kết quả trong thể cảm dục, và trong đó các bí huyệt cảm dục của y là mục tiêu chú ý của Đấng Điểm Đạo (Hierophant).
Loại năng lượng đặc biệt này tuôn chảy qua ba trung tâm lực: a/ Trung tâm lực đặc biệt ở đầu nối liền với bí huyệt tim. b/ Trung tâm lực tim. c/ Trung tâm lực đan điền.
Hành tinh Neptune, cùng với Hành Tinh Thượng Đế của Cung Sáu chi phối các bí huyệt của thể cảm dục trong con người. Diễn đạt này bao hàm nhiều ý nghĩa huyền bí thuộc đại thiên địa. Khi nhớ lại rằng mọi bí huyệt – con người và thiêng liêng – được tạo ra bằng tinh hoa thiên thần (deva essence), thì điểm nối tiếp giữa ảnh hưởng này với các devas, và tác dụng phản xạ của chúng trên con người, sẽ trở nên rõ ràng ngay tức khắc.
Trong cái bí ẩn của biển và cái bí mật của trạng thái “khô cạn” huyền bí hay thu hút huyền bí của nó, sau rốt ý nghĩa ẩn bên dưới sẽ được tiết lộ :
900 a/ Sự thúc đẩy phái tính, diễn dịch về mặt đại và tiểu thiên địa.
b/ Chấm dứt dục vọng.
c/ Chiều hướng của luồng hỏa đến bí huyệt cổ họng thay
vì đến các cơ quan sinh sản.
d/ Qui nguyên (pralaya) và lẩn khuất (obscuration).
e/ Ý nghĩa của các lời: “Sẽ không còn biển nữa” được tìm
thấy trong Thánh kinh Thiên Chúa giáo.
Khi suy tư về các ý tưởng này, các nhà nghiên cứu sẽ thấy cần ghi nhớ kỹ rằng Neptune là một trong các hành tinh chính yếu hay tổng hợp, rằng nó là một hành tinh “thu hút” (“absorbing”) hay là hành tinh “tách ra” (“abstracting”), và rằng nó tiếp nối với tiến trình mà theo đó sự hoàn thiện cuối cùng được minh chứng. Đấng Con được làm cho hoàn thiện, và cuộc lâm phàm vũ trụ được kết thúc.
Có một liên hệ huyền bí rất chặt chẽ giữa sự kiện nằm đàng sau các lời trong Thánh Kinh “Thần Đức của Chúa Trời vận hành trên mặt nước” (“the Spirit of God moved upon the face of the waters”-Thánh Kinh Cựu Ước, Sáng Thế Ký, 1:2- Bản dịch của NXB Tôn Giáo, 2003) với hoạt động hợp pháp được ban ra của Đại Mẫu (Great Mother) khi bà hoàn thành công việc kiến tạo-xác thân dưới sự thôi thúc của dục vọng. Mối liên hệ đích thực giữa cõi cảm dục với cõi trần sẽ chỉ trở nên lộ rõ khi các đạo sinh ghi nhớ cẩn thận rằng cõi cảm dục của thái dương hệ là cõi phụ thứ sáu của cõi hồng trần vũ trụ, và tạo thành toàn bộ chất lỏng của thể xác Thượng Đế. Khi điều này được hiểu rõ thì công việc của tinh hoa chất thiên thần sẽ chiếm đúng chỗ; yếu tố của dục vọng, hay của hoạt động cảm dục, và tác động phản xạ của nó trên thể xác xuyên qua cõi phụ thứ sáu sẽ trở nên rõ ràng và Đại Mẫu sẽ được thấy bị lôi cuốn một cách tích cực, dưới ảnh hưởng của dục vọng, trong việc kiến tạo, nuôi dưỡng và tạo ra hơi ấm và ẩm ướt giúp cho sự biểu lộ xảy ra. Ngôi Mẹ là vị thần lớn nhất
901 trong số các devas và có liên kết chặt chẽ với các thủy thần, vì sự ẩm ướt (moiture) đủ loại rất cần thiết cho mọi sự sống.
Do đó, nguyên khí thứ sáu hay trạng thái bác ái (nguyên khí Christ) và cõi thứ sáu có liên quan nhau; có một tương tác năng lượng giữa chất dĩ thái thứ tư của vũ trụ, hay năng lượng bồ đề với cõi thứ sáu, hay năng lượng cảm dục. Các devas trên cả hai cõi này tùy thuộc chủ yếu vào các nhóm mà ảnh hưởng của Neptune chi phối, do đó, cõi cảm dục có thể và sau rốt sẽ trực tiếp phản ảnh cõi bồ đề.
Các devas tạo tác cấp cao trên cõi thứ nhì của thái dương hệ, tức cõi Chân Thần hay là cõi dĩ thái thứ nhì của vũ trụ, điều khiển các năng lượng của các thiên thần hoạt động của cõi dĩ thái thứ tư của vũ trụ, tức cõi bồ đề.
Các thiên thần hoạt động của cõi dĩ thái thứ tư vũ trụ, vào đúng lúc, sẽ thể hiện thiên cơ trong sự hoàn thiện không lệch lạc nhờ môi trường vật chất linh hoạt của các devas cấp thấp của cõi chất lỏng hay cõi cảm dục. Khi họ đã thực hiện xong điều này, thì hai kết quả sẽ được nhận thấy: thứ nhất, cõi cảm dục sẽ hoàn toàn phản chiếu cõi bồ đề, và thứ hai, kết quả của điều đó sẽ là cõi trần sẽ tạo ra hiện thể chính xác cần thiết cho sự biểu lộ tiểu thiên địa hoặc đại thiên địa qua mãnh lực của nước, hay dục vọng.
Mọi điều này đều được mở ra cho các nhà huyền bí học trong biểu tượng học về hệ tuần hoàn trong con người. Giống như hệ thống máu, với hai loại vận hà của nó (động và tĩnh mạch) và hai loại nhà kiến tạo (hồng và bạch huyết cầu), được khảo cứu theo quan điểm huyền môn, nhiều điều sẽ được xác định có bản chất cách mạng. Các định luật về con đường thoát ra, và về con đường trở lại, với hai nhóm có các sự sống deva liên quan trong đó sẽ được con người hiểu rõ. Thêm một gợi ý nữa có thể được đưa ra ở đây. Trong thể xác của con người có liên quan với hệ tuần hoàn, trong ba yếu tố – tim, động mạch và tĩnh mạch –, chúng ta tìm thấy manh mối cho ba loại thiên thần, và cũng cho tam giác thái dương hệ mà chúng tượng trưng, và sau đó, cho ba cách biểu lộ thiêng liêng. Có một hệ tuần hoàn hành tinh, cũng như một hệ tuần hoàn thái dương, và nó được xúc tiến qua môi trường của thần chất ở khắp nơi, về mặt đại thiên địa cũng như tiểu thiên địa.
Các devas thuộc cõi phụ thứ sáu của cõi trần có thể được chia thành ba nhóm, rồi các nhóm này lại chia thành 7 và thành 49, thế là tương ứng với tất cả các nhóm trong thái dương hệ. Trong bản chất chủ yếu của chúng, các nhóm này đáp ứng với những gì “vốn nằm ở trên nhiều hơn những gì vốn nằm bên dưới”, đó chỉ là một cách diễn tả theo huyền môn mối liên hệ có bản chất mật thiết giữa các hỏa thần với các thủy thần, và một phủ nhận về sự liên hệ chặt chẽ giữa các thủy thần với địa cầu. Diễn tả về mặt huyền linh, qua tác động của các hỏa thần, các thủy thần tìm được sự giải thoát.
Các thủy thần tìm cho chính họ con đường phụng sự trong công việc to tát của họ là nuôi dưỡng mọi sự sống thực vật và động vật trên hành tinh; mục tiêu đối với họ là để nhập vào nhóm thiên thần cao cấp hơn mà chúng ta gọi là các khí thiên thần (gaseous devas) hay hỏa thần (fire devas). Qua tác động của lửa của họ lên nước, các thần này tạo ra trình tự bay hơi, ngưng tụ và cuối cùng kết tủa (precipitation, đột hiện) – qua hoạt động không ngừng của nó – sẽ bảo dưỡng mọi sự sống trên địa cầu. Như thế, một lần nữa, có thể thấy các định luật bác ái tâm linh đang tác động trong giới thiên thần, cũng như trong giới nhân loại; trước tiên, sự triệt thoái hay rời khỏi của đơn vị ra khỏi nhóm (được gọi là biệt ngã hóa nơi con người, và bay hơi trong lĩnh vực nước). Kế đến sự ngưng tụ (condensation) hay là sự hỗn hợp của đơn vị với một nhóm mới hơn hay là cao hơn, chúng ta gọi điều này là ngưng tụ đối với các thủy thần và sự khai mở (initiation, điểm hóa) trong con người; sau cùng, sự hy sinh của nhóm các nguyên tử nhân loại hay thiên thần cho cái tốt lành của tổng thể. Như thế, định luật phụng sự và hy sinh chi phối mọi khía cạnh thiêng liêng thứ yếu trong tất cả các phần hành của nó lớn hoặc nhỏ. Đó là thiên luật. Nhưng trong giới nhân loại, mặc dù bác ái là cái hoàn mãn (fulfilling) của định luật, nó được đạt đến theo con đường đau khổ và phiền não, và mỗi kẻ yêu thương và kẻ phụng sự chân chính của nhân loại đều bị căng ra trên thập giá, cho đến khi, đối với họ, nguyên khí thứ sáu chế ngự và loại vật chất thứ sáu trong cơ thể họ hoàn toàn tuân phục vào năng lượng cao siêu. (1) Trong
903 trường hợp của các devas, tình thương là làm tròn thiên luật mà không đau khổ hoặc phiền não. Đó là con đường dễ nhất đối với họ, vì họ là trạng thái mẹ, phương diện âm của biểu lộ, và con đường dễ dàng cho họ là cống hiến, bảo dưỡng và chăm sóc. Vì lẽ đó, các thủy thần tự hiến mình cho việc phụng sự giới thực vật và động vật, đồng thời trong các lửa chuyển hóa, tất cả những gì nắm giữ chúng trên cõi phụ thứ sáu, sau rốt sẽ bị vượt qua, và nhờ “sự chưng cất và bay hơi” huyền bí, các devas này sau rốt sẽ hợp thành một phần của

1 “Đo lường sự sống của người bằng sự mất mát thay vì thu lượm,
Chẳng phải bởi rượu được uống vào mà bởi rượu bị đổ tràn ra;
Vì sức mạnh của Tình Thương thế chỗ cho sự hy sinh của Tình Thương; Và y, kẻ chịu đau khổ nhiều nhất phải cống hiến nhiều nhất”.
The Disciples, của Ô. Hamilton King.
nhóm hơi lửa và trở thành các luồng hỏa vốn là nền tảng của siêu chuyển thiêng liêng (divine alchemy).
Nói một cách tổng quát, nên nhớ rằng thần đất (earth devas) của vật chất trọng trược nhất, vào đúng diễn trình tiến hóa, trở thành các thủy thần (devas of the waters), và sau rốt tìm con đường của họ tiến lên cõi cảm dục, tức chất lỏng vũ trụ; thủy thần của cõi trần tìm con đường của họ, qua việc phụng sự, tiến lên cõi phụ chất hơi và kế đó đến chất hơi vũ trụ, trở thành devas của cõi trí. Theo nghĩa đen và về mặt huyền linh, điều này tạo thành sự chuyển hóa của dục vọng thành tư tưởng.
Sau rốt, các thiên thần chất hơi (gaseous devas) trở thành devas của dĩ thái thứ tư, và từ đó, trong các vô lượng thời dài, tìm con đường của họ tiến đến chất dĩ thái thứ tư của vũ trụ, tức cõi bồ đề. Do đó, về mặt vũ trụ, cả ba nhóm này đều có liên hệ với :
904 1. Cõi cảm dục vũ trụ và chòm sao mà từ đó các năng lượng tình cảm và dục vọng phát xuất.
2. Cõi trí vũ trụ, và do đó với chòm sao Sirius (Thiên Lang).
3. Cõi bồ đề vũ trụ và chòm sao Pleiades (Tua Rua).
Như vậy toàn bộ diễn trình có thể được thể hiện, nếu con người cẩn thận nghiên cứu bản thể của chính mình và luật tương đồng.
3. Các devas của cõi phụ chất hơi. Khi bàn đến các tinh linh (elementals) hay là các devas cấp thấp, dưới quyền các devas điều khiển của nhóm rộng lớn này, chúng ta đang bàn đến các hỏa thần (devas of fire) và bàn đến các hỏa tinh linh (fiery essences) có bản chất thiết yếu mà có thể được thấy biểu lộ trong vô số hình hài. Một vài tế phân của nhóm này mà các nhà nghiên cứu biết đến như là :
Các Salamanders hay là các sinh vật chịu lửa (fiery lives) mà những nhà có nhãn thông nhìn thấy chúng đang nhảy nhót trong các ngọn lửa của lò sưởi hoặc của hỏa sơn; nhóm này có thể được chia thành bốn nhóm nhỏ tùy theo màu sắc – đỏ, cam, vàng, tím – nhóm cuối cùng rất gần với các devas của dĩ thái thứ tư.
Các Agnichaitans; đây là một thuật ngữ áp dụng cho các sinh vật chịu lửa (sinh vật nại hỏa), vốn là toàn thể vật chất của cõi, như đã thấy ở phần thứ nhất của bộ luận này và cũng áp dụng cho các tinh hoa bé tí vốn tạo thành lửa của biểu lộ. Khi bản chất của điện ở cõi trần được tìm hiểu và nghiên cứu, và tình trạng đích thực của nó được hiểu rõ, bấy giờ, thực tại về sự sống của các agnichaitans này sẽ lộ ra.
Khi nhân loại trở nên có nhãn thông, khi chắc chắn việc đó sẽ diễn ra ở mức độ lớn trước cuối căn chủng này, các devas của chất hơi này sẽ hiển lộ, và con người sẽ hiểu rằng họ đang hoạt động với các sinh linh chịu lửa và rằng chính họ có liên kết chặt chẽ với các sinh linh này qua các luồng hỏa của các thể của chính họ. Nhãn thông vốn ở trong tiến trình
905 phát triển trong căn chủng này thì hoàn toàn thuộc cõi trần, và, theo thiên luật, sự phát triển của nó phải được báo trước, vì căn chủng Aryan là loại căn chủng mà trong đó con người – trong cuộc tuần hoàn thứ tư này – tiến đến chỗ có ngã thức đầy đủ. Điều này bao hàm nhãn thông hồng trần đầy đủ, và việc sử dụng một cách hoàn hảo ba giác quan hồng trần là thính giác, xúc giác và thị giác. Trong căn chủng sắp tới, nhãn thông cảm dục (astral clairvoyance) sẽ phổ biến (prevalent) mặc dù không có khắp nơi (universal), và như thế việc giao tiếp với cõi bồ đề sẽ đạt được dễ dàng hơn. Trong các căn chủng có trước của cuộc tuần hoàn kế tiếp, cuộc tuần hoàn thứ năm, sẽ có một sự tóm tắt lại các hoạt động của cuộc tuần hoàn này, cho đến khi trong căn chủng thứ năm, toàn bộ những gì đạt được trong cuộc tuần hoàn này sẽ được nhận thấy. Lúc bấy giờ con người sẽ bắt đầu biểu lộ nhãn thông cõi trí. Như thế các chu kỳ trộn lẫn và trùng lắp, để cho không hề có một đơn vị sự sống nào, dù nhỏ và kém quan trọng, có thể gặp thất bại.
Các agnichaitans của cõi phụ thứ ba này đặc biệt chịu ảnh hưởng của năng lượng Saturne (Thổ Tinh). Các thần này là các tác nhân dung hợp (fusers) lớn của vật chất và chính do liên hệ với họ mà sự chuyển hóa của các kim loại mới có thể xảy ra. Các thần này có liên hệ với giới khoáng chất tương tự với những gì mà các thủy thần đang có với giới thực vật và động vật. Như người ta thấy rõ, họ có liên quan với trung tâm lực cổ họng của một Hành Tinh Thượng Đế và của một Thái Dương Thượng Đế, và chính nhờ hoạt động của họ mà sự truyền chuyển âm thanh qua không khí mới có thể xảy ra. Điều đó có thể làm kinh ngạc các nhà nghiên cứu và nhà phát minh chỉ khi nào họ hiểu rằng sự phát triển nhanh chóng hiện nay của phương tiện liên lạc vô tuyến ở mọi nơi là do hiện tượng lao vào tiếp xúc với rung động con người của một nhóm các sinh linh hỏa thiên thần (fiery deva lives) mà từ trước đến giờ chưa được tiếp xúc.
Giống như mỗi cõi chính có bảy cõi phụ, cũng thế mỗi cõi phụ có thể được chia nhỏ, như vậy tạo thành 49 luồng hỏa trên mỗi cõi chính, hay là 343 luồng hỏa của thái dương hệ. Nơi đây có thể thấy manh mối cho cái bí ẩn của “cõi thứ tư giữa ba cõi” (“fourth between the three”) mà đôi khi đã làm
906 cho các nhà nghiên cứu về các kinh sách huyền linh học phải bối rối. Có nhiều cách hiểu các con số này, số 343, nhưng chỉ có phương pháp huyền linh học mới có thể được ám chỉ ở đây, cách này nằm trong nhận thức về ba cõi cao, ba cõi thấp,
cõi tiếp giáp thứ tư giữa chúng. Cõi thứ tư này, về mặt huyền linh được gọi là “chỗ gặp gỡ” (“the meeting place”). Khi người ta nhớ rằng mục tiêu đối với các thiên thần chất khí là chất dĩ thái thứ tư của vũ trụ hay là cõi bồ đề và rằng các thần này (trong các nhóm chính và phụ của họ) là các lửa bên trong của đại thiên địa và tiểu thiên địa, một số ý tưởng có thể nhận được về ý nghĩa thực sự của sự nhất quán cuối cùng giữa hai đường tiến hóa vì mục tiêu cho con người cũng là cõi bồ đề.
Do đó, trên cõi phụ thứ ba, trong tiểu phân thứ năm của nó về các tinh chất thiên thần, một vài nhóm hiện nay đang được giao tiếp theo cách này, căn chủng thứ năm. Kết quả của sự tiếp xúc này có thể được nhận thấy trong sự kích hoạt rung động đáp ứng, vốn đã được chứng tỏ trong việc khám phá sự giao tiếp bằng vô tuyến điện và việc khám phá ra chất radium.
Kết quả là một rung động song song tăng lên của các loa tuyến trong con người cũng được nhận thấy, trước khi kết thúc cuộc tuần hoàn, trong việc khơi hoạt hoạt động đầy đủ loa tuyến thứ năm của vi tử thường tồn hồng trần của con người.
Như vậy, công việc của Đức Mahachohan vào lúc này có liên quan với cung thứ bảy (vốn dĩ tác động tạm thời như là tổng hợp của năm loại năng lượng mà Ngài đang cai quản), có thể được tóm tắt như sau:
Thứ nhất, Ngài đang dùng loại năng lượng thứ bảy để đẩy mạnh sự nhận thức của nhân loại về vật chất tinh anh của cõi trần. Cung bảy này trước tiên là một yếu tố trong việc tạo ra biểu lộ ngoại cảnh. Năng lượng của Hành Tinh Thượng Đế của hành tinh hệ thứ bảy chi phối cõi thứ bảy; đó là cung mà nơi đó thần chất và Tinh Thần có thể đáp ứng và thích 907 nghi với nhau rất dễ dàng hơn là ở trên bất cứ cung nào khác trừ cung ba.
Hiện nay, con người có ý thức đầy đủ, qua giác quan này hoặc giác quan khác của mình, trên ba cõi phụ thấp; có dự kiến rằng con người sẽ hoàn toàn có ý thức trên bốn cõi phụ cao. Điều này phải được thể hiện bằng sự kích hoạt của thần chất đang tạo nên các thể của con người. Điều này sẽ được hoàn thành nhờ ý chí năng động của các thiên thần truyền dẫn (transmitting devas) vì các thần này cung cấp năng lượng (energise, kích hoạt) các thiên thần điều khiển (manipulatory devas), và như thế tác động đến vô số các sự sống thứ yếu đang tạo thành cơ thể của con người, và cũng bằng một sự đáp ứng ngày càng tăng của con người nội tâm hay là chủ thể suy tưởng đối với sự tiếp xúc được tạo ra trên cơ thể y. Việc hiểu biết gia tăng này sẽ xảy ra bằng sự năng động của vòng xoắn ốc thứ năm, bằng việc khai mở của cánh thứ năm trong hoa sen Chân Ngã và bằng việc mở ra từ từ của con mắt thứ ba qua hoạt động khơi hoạt và đồng nhất của năm yếu tố: bí huyệt ở đáy xương sống, ba vận hà trong cột sống và tùng quả tuyến.
Tất cả các yếu tố này đều liên quan đến hoạt động của tinh hoa chất thiên thần cộng thêm sự hiểu biết theo sau đó của chủ thể suy tưởng. Điều này sẽ được noi theo bằng việc sử dụng hữu thức các năng lực mới được khơi hoạt. Bằng cách này mối tương quan chặt chẽ và sự tương thuộc của hai đường tiến hóa sẽ trở nên lộ rõ một cách tuyệt diệu.
Thứ hai, vào lúc này Đức Mahachohan đang hoạt động một cách đặc biệt (đồng hợp tác với Đức Manu), với các devas của cõi phụ chất hơi; điều này có liên hệ với công việc hủy diệt mà các Ngài phải thực hiện vào cuối căn chủng này, để giải thoát Tinh Thần ra khỏi các hình hài đang siết chặt.
Do đó tác động hỏa sơn có thể được hy vọng, đang được chứng minh trong các địa điểm bất ngờ, cũng như bên trong phạm vi của các vùng có động đất và hỏa sơn hiện nay. Sự xáo động trầm trọng có thể chờ đợi ở California trước cuối thế kỷ, và ở Alaska cũng thế.
Công việc của Đức Văn Minh Bồ Tát cũng có thể được
908 nhìn thấy với hiệu quả là các devas của hỏa xà đang được tạo ra trên con người. Các thần này là một nhóm các
Agnichaitans đặc biệt, họ đạt tới một giai đoạn tiến hóa cho phép bản thể (being) của họ tách ra khỏi nhóm của họ đi vào một nhóm có liên hệ với một luồng hỏa nào đó trong các thể của con người. Nhờ bởi hoạt động hiện tại của nó và hướng của hoạt động đó, luồng hỏa này chịu trách nhiệm cho phản ứng chống lại sự phối hợp thể chất (physical marriage) và cho ước muốn hiện rõ của những người tiến hóa cao ở mọi nơi để né tránh liên hệ hôn nhân, và giới hạn chính họ vào việc sáng tạo trên cõi trí hoặc cõi cảm dục. Điều này là do khuynh hướng hiện tại của các thiên thần điều khiển của các cơ quan sinh sản hạ đẳng muốn tìm bí huyệt cổ họng và hoạt động ở đó, vận dụng sức mạnh của luồng hỏa xà để tạo ra việc đó. Mọi điều này đều ở dưới luật tiến hóa, nhưng trong thời gian chuyển tiếp giữa nhân với quả được biện minh, nhiều tổn hại, né tránh thiên luật, tất nhiên là gây đau khổ có thể được nhìn thấy. Do đó, nhờ phản ứng dữ dội vào lúc này chống lại với các định luật bảo vệ của nền văn minh, có quyết định rằng bản chất và chức năng của các devas phải được phần nào tiết lộ cho con người, và vị trí của các thần đó trong cơ tiến hóa, sự liên hệ chặt chẽ của con người và sự lệ thuộc vào họ, phải được kết thúc ( ). Đồng thời, phương tiện mà nhờ đó họ có thể được tiếp xúc và các ngôn từ mà nhờ đó họ có thể được kiềm chế, sẽ được giữ lại.
Sự lơ là (laxness) trong liên hệ hôn nhân, do mối nguyên nhân đặc biệt này, chỉ được nhìn thấy trong số những người tiến hóa cao và trong số các tư tưởng gia độc lập của nhân loại. Sự lơ là tương tự ở trong quần chúng và các hạng người thấp kém của nhân loại, được dựa vào một lý do khác, và quan hệ bừa bãi (promiscuity) của họ là do một vài phát triển của bản chất con vật trong biểu lộ thấp nhất của nó. Hai
909 nguyên nhân này sẽ chịu sự duyệt xét của những người có nhu cầu hiện tại của nền văn minh đích thực. Lúc bấy giờ họ có thể hợp tác với Đức Mahachohan trong công việc để thực hiện sự chuyển tiếp thần lực rất cần thiết từ một trung tâm thấp đến một trung tâm cao, và ngăn chận (nhờ sự hiểu biết) sự phóng túng có thể xảy ra. Điều này sẽ mang lại việc khước từ làm hoen ố tình thương cao cả hay là sự thôi thúc về phái tính đối với thiên nhiên.
Cung nghi lễ thường được gọi là “nghi thức hôn phối của Con”, bởi vì Tinh thần và vật chất có thể đáp ứng và hợp nhất trên cung này. Sự kiện này cũng sẽ được ghi nhớ trong một trăm năm tới đây, vì chúng sẽ chứng kiến các thay đổi lớn trong các luật hôn nhân. Sự lỏng lẻo hiện nay tất nhiên sẽ mang lại một phản tác dụng, và các thiên luật sẽ trở nên ngày càng nghiêm nhặt để che chở cho nhân loại trong giai đoạn chuyển tiếp. Các thiên luật này sẽ không theo đường lối làm cho việc thoát ra khỏi liên hệ hôn nhân khó hơn, mà sẽ có tác dụng ở phương diện khác, tạm gọi thế. Thế hệ đang lên sẽ được giảng dạy và bảo vệ thích đáng, còn hôn nhân thiếu suy tính, vội vã, sẽ không được phép, những kẻ vị thành niên cũng sẽ không được phép đi vào bổn phận hôn nhân một cách thiếu suy nghĩ. Không cần bàn rộng thêm về đề tài này, vì trong khi giải quyết các vấn đề của chính họ, con người trở nên thông thạo, và tất cả những ai ở trên khía cạnh nội môn đều được phép làm để đưa ra một ngụ ý hoặc một chỉ dẫn.
Vào lúc này, một khía cạnh khác của công việc của Đức Mahachohan là liên kết với âm thanh, và do đó với các devas đặc biệt mà chúng ta đang xem xét. Do sự quản lý kém của con người, và sự phát triển thiếu cân bằng của họ, các âm thanh của địa cầu, như là các âm thanh của các thành phố lớn, của các nhà máy, và của các công cụ về chiến tranh, đã mang lại một tình trạng rất hệ trọng trong số các thiên thần chất khí. Điều này phải được hóa giải bằng cách nào đó và các nỗ lực tương lai của nền văn minh sẽ được hướng về phía mở rộng sự cải tổ chống lại các tệ trạng của cách sống chen chúc và đi đến việc gieo rắc một thúc đẩy về một thế giới mở 910 rộng để tìm kiếm miền quê và các không gian khoáng đạt. Một trong các quan tâm chính trong tương lai sẽ là một khuynh hướng hướng tới việc loại bỏ tiếng ồn, do sự nhạy cảm ngày càng tăng của nhân loại. Khi năng lượng của nước và của nguyên tử được khai thác cho con người sử dụng, thì các kiểu nhà máy hiện tại của chúng ta, các phương pháp hàng hải và vận chuyển của chúng ta như tàu chạy hơi nước và máy móc hỏa xa, sẽ hoàn toàn được cách mạng hóa. Điều
này sẽ có một tác động mạnh không những trên con người mà còn trên các devas.
c/ Các Elementals của các Dĩ thái chất.
Giờ đây, chúng ta hãy xem xét các cõi phụ dĩ thái của cõi trần tức là bốn cõi phụ cao nhất của cõi trần. Các phân cảnh dĩ thái này chỉ là các mức độ của vật chất cõi trần thuộc loại loãng hơn và được thanh luyện hơn, nhưng dù sao đi nữa vẫn thuộc cõi trần. Trong số các sách giáo khoa, chúng được gọi là:
1. Dĩ thái thứ nhất, hay vật chất-nguyên tử (atomic matter).
2. Dĩ thái thứ hai, hay vật chất-hạ-nguyên tử (sub-atomic matter).
3. Dĩ thái thứ ba, hay vật chất siêu-dĩ thái (super-etheric matter).
4. Dĩ thái thứ tư, hay vật chất dĩ thái đơn thuần.
Dĩ thái thứ tư, cho đến nay là chất dĩ thái duy nhất được các nhà khoa học nhận biết, và là chủ đề của việc tìm kiếm hiện tại của họ, mặc dù họ có thể hiểu chút ít về nó.
Các vi tử thường tồn hồng trần của tất cả nhân loại đều ở trên cõi phụ nguyên tử cũng như các nguyên tử chuyên dụng (appropriated atoms) của giới thiên thần. Các devas không phát triển như nhân loại đang làm. Họ hóa nhập (reincarnate) trong các nhóm, chớ không với tư cách các cá nhân, dù mỗi nhóm được tạo bằng nhiều đơn vị và không có chút gì thuộc bản chất của hồn khóm giáng hạ tiến hóa. Hồn khóm trên con đường tiến hóa giáng hạ và hồn khóm trên con đường tiến hóa thăng thượng đều không giống nhau; một thì đang đi đến chỗ phân hóa và được tạo thành bằng các thực thể được làm sinh động bằng một sự sống tổng quát; một thì đã phân hóa, và mỗi thực thể là một đơn vị riêng biệt gồm một sự sống duy nhất, hoàn toàn tự túc, tuy là một với tổng thể.
911 Có nhiều loại sự sống cần được tiếp xúc trên bốn cõi phụ dĩ thái, nhưng hiện nay, chúng ta chỉ có thể quan tâm đến sự sống thiên thần, nên nhớ rằng cơ tiến hóa thiên thần thì quan trọng ngang với cơ tiến hóa nhân loại. Các thiên thần thì nhiều vô số, đều có bản chất tiến hóa giáng hạ lẫn tiến hóa thăng thượng, và thuộc mọi đẳng cấp và chủng loại. Chưởng quản các thiên thần trên cõi trần là đại thiên thần Kshiti. Ngài là một deva có đẳng cấp và quyền năng ngang với một Chohan (Đế Quân) của một Cung. Ngài cai quản mọi sự việc ở ngoài giới nhân loại trên cõi trần, trong ban quản trị của Ngài, Ngài có bốn thần quân phụ tá (subordinate deva lords) của bốn cõi phụ dĩ thái. Với các devas phụ tá này, Ngài cai quản một hội đồng nhỏ hơn gồm bảy devas, họ vận dụng tất cả những gì liên quan đến cơ tiến hóa thiên thần và công việc của các thần tạo tác (builder) cấp cao lẫn thấp.
Thiên Thần Điều Hành (deva Ruler) của dĩ thái thứ tư hay dĩ thái thấp nhất đã ủy thác cho một thành viên thuộc ban điều hành của Ngài gặp một vài Chân Sư vào lúc này cho hai mục tiêu đặc biệt, thứ nhất là xét coi việc đem đến gần của hai đường lối tiến hóa, nhân loại và thiên thần, hiện nay có thể được phép thử nghiệm hay không, thứ hai là tiết lộ một vài phương pháp chữa trị và các nguyên nhân yếu kém về xác thân vốn có sẵn trong thể dĩ thái.
Các devas thuộc mọi thứ loại và sắc màu đều được tìm thấy trên các phân cảnh dĩ thái của cõi trần, nhưng màu thường gặp nhất là tím (violet), do đó mà có tên gọi rất thường dùng là “thiên thần bóng tối” (“devas of the shadows”). Cùng với sự tiến nhập của Cung nghi thức thuộc màu tím, do đó chúng ta có sự khuếch đại của rung động tím, luôn luôn có sẵn trên các phân cảnh này, và do đó có nhiều cơ hội để tiếp xúc giữa hai giới. Chính trong việc phát triển nhãn thông (vision) dĩ thái (vốn là một khả năng của con mắt xác thịt của con người) chớ không phải bằng nhãn thông khá cao (clairvoyance) mà việc thông hiểu lẫn nhau (mutual apprehension) này sẽ trở nên có thể xảy ra. Với sự tiến nhập cũng của Cung này mà những người thuộc về cung đó sẽ đạt được một năng khiếu tự nhiên, đó là thấy được chất dĩ thái.
Trẻ con được sinh ra sẽ thường thấy được chất dĩ thái một
912 cách dễ dàng như người bình thường thấy được chất hồng trần. Khi các tình trạng hài hòa dần dần phát triển thoát ra khỏi tình trạng hỗn mang hiện tại trên thế giới, các thần và người sẽ gặp gỡ như những người bạn.
Khi hai cõi, cảm dục và hồng trần, hòa nhập và phối hợp lại, sự liên tục về tâm thức được trải qua trên cả hai cõi, sẽ khó cho con người phân biệt trước tiên giữa các devas của cõi cảm dục với các devas của cõi trần. Khi bắt đầu, giai đoạn nhận thức này, con người sẽ phần lớn tiếp xúc với các thiênthần tím (violet devas), vì các cấp đẳng cao trong số các thiên thần màu tím đều rõ rệt cố gắng tiếp xúc với con người. Các thiên thần bóng tối này đều có màu tím sẫm trên phân cảnh dĩ thái thứ tư, có màu tím nhạt, nhiều màu tương tự như tím trên cõi phụ dĩ thái thứ ba, màu tím rất nhạt (light violet) trên cõi phụ dĩ thái thứ hai, trong khi trên cõi phụ nguyên tử (tức cõi phụ dĩ thái thứ nhất -ND) các thần lại có màu oải hương đục mờ lộng lẫy (glorious translucent lavender).
Một số nhóm devas tiếp xúc được trên cõi trần gồm:
Bốn nhóm devas tím, kết hợp với các thể dĩ thái của tất cả những cái hiện hữu trên cõi trần. Bốn nhóm này gồm hai phân chi, các phân chi này kết hợp với việc kiến tạo các thể dĩ thái, và các phân chi mà nhờ có chất liệu của họ, các thể dĩ thái mới được tạo ra.
Các devas xanh lục của giới thực vật. Các devas này cũng có hai phân chi. Họ ở trình độ phát triển cao và sẽ được tiếp xúc phần lớn theo các đường lối từ điển. Các devas cao cấp hơn thuộc đẳng cấp này cai quản các vị trí từ điển của địa cầu, bảo vệ sự cô tịch (solitude) của các khu rừng, dành riêng các không gian nguyên vẹn trên hành tinh vốn cần phải giữ bất khả xâm phạm; các thần này bảo vệ các địa điểm đó khỏi sự quấy rầy, và với các devas tím lúc này đang hoạt động một cách rõ ràng, dù là tạm thời, dưới quyền Đức Di Lặc (Lord
Maitreya). Vị Thần Quân (Raja Lord, Thần Chủ Quản) của cõi
913 cảm dục, tức Varuna, và huynh đệ của Ngài là Kshiti, đã kêu gọi Hội Đồng Huyền Linh của Thánh Đoàn để tham vấn đặc biệt, và giống như các Chân Sư đang nỗ lực để chuẩn bị nhân loại cho việc phụng sự khi Đức Chưởng Giáo tái lâm, cũng thế, các Thần Quân này theo các đường lối tương tự liên quan đến các devas. Các Ngài dũng cảm trong công việc của Các Ngài, có nhiệt tâm mạnh mẽ, nhưng gặp nhiều trở ngại do con người.
Các bạch-thần (white devas) của không khí và nước, đang cai quản khí quyển, các thần này hoạt động với vài trạng thái của hiện tượng điện, và đang kiểm soát các biển, các sông và các dòng suối. Ở một giai đoạn nào đó trong diễn trình tiến hóa của các Ngài, từ trong các Ngài, các thiên thần bảo vệ của nhân loại được tập hợp lại khi đang lâm phàm ở cõi trần. Mỗi thành phần của gia đình nhân loại đều có thiên thần bảo vệ (guardian deva) của mình.
Mỗi nhóm devas đều có phương pháp phát triển đặc thù nào đó và một số phương tiện mà theo đó các Ngài tiến hóa và đạt mục tiêu riêng biệt.
Đối với thiên thần màu tím, con đường thành đạt trải dài qua cách cảm nhận (feeling) và qua việc rèn luyện nhân loại trong việc làm hoàn thiện xác thân ở hai lĩnh vực.
Đối với thiên thần màu xanh lục, con đường phụng sự lộ ra trong việc từ hóa/lôi cuốn (magnetisation), mà cho đến nay, nhân loại chả biết tí gì về việc đó. Qua quyền năng này, các Ngài hành động như là các tác nhân bảo vệ của đời sống thực vật và bảo vệ các địa điểm linh thiêng của địa cầu. Trong công việc của các Ngài có ẩn tàng sự an toàn cho sự sống con người, vì đối với phần còn lại của cuộc tuần hoàn này, việc nuôi dưỡng con người xuất phát từ giới thực vật.
Đối với thiên thần màu trắng, con đường phụng sự nằm trong việc bảo vệ các cá nhân của gia đình nhân loại, chăm sóc và phân chia các kiểu mẫu, kiểm soát các tinh linh của nước và không khí, và nhiều điều có liên quan đến giới (loài) cá.
Như vậy việc phụng sự nhân loại ở một số hình thức này hoặc hình thức khác có ẩn tàng việc thành đạt đối với các thiên thần thuộc cõi trần này. Các thần này có nhiều điều cần
914 cống hiến và làm cho nhân loại, và vào đúng lúc, điều trở nên rõ ràng cho từng con người đó là những gì mà con người đưa ra cần phải hướng tới sự hoàn thiện của giới thiên thần. Một sự hối thúc lớn lao về sự tiến hóa của các thiên thần hiện đang diễn tiến trùng hợp với sự tiến hóa của nhân loại.
Có một nhóm devas khác mà cho đến nay có nhiều điều không thể được truyền đạt về nhóm này. Họ đã đến từ một hành tinh hệ khác, và là các nhà chuyên môn theo đường lối riêng biệt của họ. Họ đã đạt đến hay đã trải qua giới nhân loại, và có cấp đẳng ngang bằng một số thành viên của Thánh Đoàn, đã chọn để ở lại và làm việc có liên quan đến sự tiến hóa cõi trần. Các thần này không có nhiều, chỉ có mười hai vị.
Bốn vị làm việc trong nhóm thiên thần màu tím, năm vị hoạt động trong nhóm xanh lục, còn hai vị trong nhóm màu trắng, với một thần cai quản có cấp bậc ngang với một Chohan (Đế Quân, sáu lần điểm đạo – ND). Con số của cuộc tiến hóa thiên thần là sáu, cũng như con số cuộc tiến hóa con người hiện giờ là năm, và vì số mười tượng trưng cho con người hoàn thiện, thế nên số mười hai tượng trưng cho sự hoàn thiện trong giới thiên thần. Nhóm này (12 vị thần nói trên – ND) cai quản ba nhóm thiên thần có màu đã nói ở trên. Một số phụ thuộc gồm có :
Dưới quyền nhóm một là các elementals làm việc với các thể dĩ thái của con người, tất cả các elementals này tạo ra các thể dĩ thái mà trong đó là sự sống, và tất cả các elementals (tiểu thần, tinh linh) đều đang làm việc với các đối phần (counterparts) dĩ thái của cái được gọi là các đối tượng không linh hoạt/vô tri giác (inanimate objects). Các đối tượng này được đặt tên theo cấp đẳng và tầm quan trọng của sự phát triển của họ. Các devas màu tím đang ở trên con đường tiến hóa thăng thượng; các elementals đang ở trên con đường tiến hóa giáng hạ, mục tiêu đối với các tiểu thần này là tiến vào giới thiên thần có màu tím.
Dưới quyền nhóm hai là các tiểu tiên (fairies) của sự sống cây cỏ, các thảo tinh linh (elves) đang nắn tạo và tô điểm (build and paint) loài hoa, các sinh linh bé nhỏ rạng rỡ này sống trong các khu rừng và các cánh đồng, các tinh linh tác động tới các loại quả trái, rau cỏ và với tất cả những gì đưa đến việc bao phủ mặt đất bằng cây xanh. Kết hợp với chúng là các devas có từ khí cấp thấp (lesser devas of magnetisation), các tiểu thần này gắn liền với các địa điểm Linh thiêng, với các linh phù và các linh thạch và cũng là một 915 nhóm đặc biệt được tìm thấy chung quanh chỗ ở của các Chân Sư bất cứ nơi nào Ngài ở lại.
Dưới quyền nhóm ba là các tiểu thần/tinh linh của không khí và biển, các phong tinh linh (sylphs), các thủy tiên (water fairies) và các devas bảo vệ mỗi con người.
Ở đây chỉ có các lời bóng gió khái quát được đưa ra. Danh sách này không đầy đủ và không bao gồm các elementals thô thiển (grosser), các tiên nữ phúc hậu (brownies) và các tinh linh sống trong các không gian tối tăm của địa cầu, các đô thị và các địa điểm dưới mặt đất của vỏ địa cầu.
Các devas của chất dĩ thái mang trên trán của họ một biểu tượng mờ nhạt có hình trăng lưỡi liềm, và do vậy họ có thể được phân biệt với các thiên thần cảm dục (astral devas) bởi người có nhãn thông.
Khi xem xét các devas dĩ thái, chúng ta thấy rằng một cách tự nhiên – khi nào xét về mặt biểu lộ - họ rơi vào hai nhóm chính. Mỗi nhóm được tiêu biểu trên mỗi một trong bốn cõi phụ, và việc tạo nhóm này phải được xét như là phương pháp phân biệt duy nhất trong số nhiều nhóm có thể có. Thứ nhất, các nhóm này là các devas nguyên là các tác nhân truyền prana đến mọi hình thức sự sống; các thần này là một nhóm các devas trung gian và có thể được xem như là các tác nhân cung cấp năng lượng trong các biến phân khác nhau của họ; thứ hai, các devas tạo ra các thể dĩ thái của mọi hình hài đang biểu lộ. Các thần này tạo ra đa số các devas cấp thấp.
Dĩ nhiên có nhiều sự thông minh có tổ chức khác nữa trong Đạo Quân Âm Thanh vĩ đại có liên quan với cách phân chia sơ đẳng của cõi trần, nhưng nếu môn sinh xem xét hai nhóm này và cố truy tìm mối liên hệ của chúng với con người và với Hành Tinh Thượng Đế mà chúng nằm trong cơ thể 916 Ngài, y sẽ học hỏi nhiều điều giúp y hiểu được các vấn đề mà từ trước đến giờ được xem như nan giải, và sẽ tìm thấy nhiều điều được tiết lộ sẽ đưa tới cách mạng hóa các phát hiện của khoa học hiện đại, và mang lại các thay đổi trong việc chăm sóc thể xác.
Devas và Năng Lượng. Trước khi xem xét hai nhóm này, ở đây, nên khôn ngoan mà nhấn mạnh điều cần thiết là nhớ lại rằng khi chúng ta nghiên cứu các cõi phụ dĩ thái của cõi trần, chúng ta đang bàn đến các cõi mà hình hài thực sự (true form) có trên đó, và đang tiến đến việc giải cái bí ẩn về Chúa Thánh Thần (Holy Spirit) và Đức Mẹ. Trong nhận thức này và mở rộng nó để bao gồm toàn bộ thái dương hệ, chúng ta sẽ tiến đến việc minh giải sự nối tiếp giữa bốn cõi cao của thái dương hệ với ba cõi thấp của nỗ lực con người. Trong đại thiên địa (macrocosm), chúng ta có bốn cõi của sự sống siêu thức, hay là bốn rung động chính yếu vốn là căn bản của sự sống và năng lượng của thể dĩ thái của một Hành Tinh Thượng Đế và của một Thái Dương Thượng Đế và ba cõi của sự sống hữu thức và của sự sống hữu ngã thức vốn hợp thành hiện thể vật chất trọng trược của Hành Tinh Thượng Đế và của Thái Dương Thượng Đế.
Bằng sự xem xét thật kỹ về các điều kiện này trong đại và tiểu thiên địa, chúng ta sẽ tiến đến hiểu biết về lý do tại sao thể xác không bao giờ được các nhà huyền linh học xem là một nguyên khí (principle : cách để biểu lộ sự sống – Trích Minh Triết Ngàn Xưa, A. Besant, trang 89). Chúa Thánh Thần, Đấng Ứng Linh và là Đấng gieo mầm sự sống trong Đức Mẹ Đồng Trinh đang chờ sẵn tức vật chất (khiến cho bà thức tỉnh và bắt đầu công việc vĩ đại của bà đó là tạo ra việc hóa nhập thiêng liêng) là yếu tố đầu tiên theo quan điểm của thái dương hệ thứ hai. Bằng một cách thức không thể hiểu được đối với những kẻ suy tưởng hiện đại, Đức Mẹ, hay là Người Có Đạo Tâm thiêng liêng đối với các bí ẩn của việc phối ngẫu vũ trụ, là (trong thái dương hệ trước) yếu tố vượt lên trên. Trong thái dương hệ này liên quan với vật chất chính là Chúa Thánh Thần. Do đó, công việc trên các cõi phụ dĩ thái, năng lượng và hoạt động xuất phát từ đó, là các nhân
917 tố mà trước tiên chịu trách nhiệm trên cõi trần cho tất cả những gì hữu hình, ngoại cảnh và được biểu lộ. Sự phát triển dần của vật chất chung quanh thể sinh lực, và sự dày đặc của vật chất chung quanh hạt nhân dĩ thái sinh lực (vital etheric nucleus) trong chính chúng là kết quả của sự tương tác và sự hoán đổi cuối cùng của rung động giữa những gì có thể được gọi là phần sót lại của một kỳ biểu lộ trước kia và sự rung động của kỳ biểu lộ hiện tại này.
Chính ở đây – trong mối liên hệ giữa năng lượng điện dương dưới hình thức phân hóa làm tư của nó với vật chất hạ đẳng âm tính tam phân dễ thụ cảm – mà các nhà khoa học sau rốt sẽ đi đến một số suy diễn rõ ràng và khám phá ra :
a. Cái bí ẩn của chính vật chất, đó là, vật chất theo như
chúng ta biết và thấy nó.
b. Bí quyết cho tiến trình sáng tạo trên cõi trần, và phương pháp mà nhờ đó độ dày đặc (density) và sự cố kết
(concretion) trên ba cõi phụ thấp xảy ra.
c. Các công thức cho sự chuyển hóa có hệ thống, hay là mấu chốt cho các tiến trình mà nhờ đó các yếu tố như chúng ta biết chúng, có thể bị tan rã và tái phối hợp.
Chỉ khi nào các nhà khoa học được chuẩn bị để chấp nhận sự thật rằng có một thể chứa sinh lực (body of vitality), thể này tác động như một điểm tập trung trong mọi hình hài có tổ chức, và chỉ khi nào họ sẵn sàng xem xét mỗi yếu tố và hình hài thuộc mỗi mức độ như là thành phần cấu tạo của một thể sinh lực còn vĩ đại hơn nữa, thì chừng đó các phương pháp đích thực của nữ thần vĩ đại Thiên Nhiên mới trở thành các phương pháp của họ. Muốn làm được điều này, họ phải được chuẩn bị để chấp nhận sự phân hóa bảy lần của cõi trần như huyền linh học Đông Phương đã nói, để nhận biết bản chất tam phân của biểu lộ thất phân.
a. Năng lượng nguyên tử hay năng lượng Shiva, năng
lượng của cõi phụ thứ nhất hay cõi dĩ thái thứ nhất.
b. Năng lượng kiến tạo hình hài thiết yếu của ba cõi phụ
dĩ thái tiếp theo sau.
c. Năng lượng thụ nhận âm tính của ba cõi thuộc hồng 918 trần, đó là cõi chất hơi, cõi chất lỏng và cõi chất đặc thật sự.
Sau rốt, các nhà khoa học cũng sẽ xem xét sự tương tác giữa ba cõi thấp và bốn cõi cao trong nguyên tử vĩ đại đó được gọi là cõi trần. Điều này có thể được thấy sao y lại trong nguyên tử của nhà vật lý hoặc hóa học. Các nhà nghiên cứu khoa học có quan tâm tới các vấn đề này sẽ thấy điều đó có giá trị trong khi xem xét sự tương ứng giữa ba kiểu mẫu năng lượng này và những gì được hiểu theo các từ ngữ atoms, electrons (âm điện tử) và ions (ly tử: một nguyên tử hay nhóm nguyên tử đã mất một hoặc nhiều electrons – gọi là cation – hoặc lấy thêm một hoặc nhiều electrons – lúc đó có tên là anion, hay ion âm và ion dương –Tự Điển Oxford
1994).
Tất cả những gì đang biểu lộ (từ Thượng Đế đến con người)( ) đều là kết quả của ba kiểu mẫu năng lượng hay thần lực này, của kết hợp của chúng, sự tương tác của chúng và tác động với phản tác động về mặt thông linh của chúng. Trong đại chu kỳ xuất hiện của Thượng Đế, chính loại năng lượng thứ hai mới chi phối và chiếm phần quan trọng trong cơ tiến hóa, và điều này giải thích tại sao thể dĩ thái vốn ở sau tất cả những gì hữu hình lại là cái quan trọng nhất. Điều này cũng đúng đối với các thần (gods), đối với con người và đối với các nguyên tử.
Nhiều thì giờ bị tiêu tốn trong việc suy đoán về các cội nguồn của sự sống, về các động cơ/căn nguyên (springs) của hành động và về các thôi thúc nằm dưới tiến trình sáng tạo. Từ trước đến nay khoa học đã hành động có phần mù mờ và đã phí nhiều thời gian xem xét về ba cõi thấp. Khoa học đã bàn chủ yếu đến Mẹ, đến vật chất âm dễ thụ cảm, và chỉ bây giờ mới bắt đầu biết đến trạng thái Chúa Thánh Thần, hay đến năng lượng vốn giúp cho Bà Mẹ đó làm tròn chức năng của Bà và xúc tiến công việc của bà.
Xét cùng vấn đề theo mặt tiểu thiên địa, có thể nêu ra rằng bây giờ con người chỉ mới bắt đầu biết đến các căn nguyên của tác động tinh thần và của các cội nguồn của sự sống tâm linh. Năng lượng của các cõi cao chỉ tự hiển lộ khi con người bắt đầu bước trên Thánh Đạo và tiến vào dưới ảnh hưởng của tuệ giác (buddhi, trực giác) vốn tuôn ra từ cõi dĩ thái thứ tư của vũ trụ.

Thượng Đế đang biểu lộ trong chu kỳ đại khai nguyên này dưới hình thức Manas (các Manasaputras Thiêng Liêng trong tổng thể của các Ngài) đang dùng các lớp vỏ nguyên tử cho các mục tiêu tiến hóa với mục đích trước mắt là phát triển trạng thái thứ hai của buddhi hay minh triết. Minh triết phải có manas, tức là trí sáng suốt (intelligent mind) làm nền tảng cho nó. Thượng Đế là toàn thể Trí Tuệ (Intelligence), đang tiến hóa để phát triển Tình Thương (Love).
Sau cùng khi các nhà khoa học sẵn sàng thừa nhận và hợp tác với các mãnh lực thông tuệ vốn có trên các phân cảnh dĩ thái, và khi họ trở nên tin chắc về bản chất vật hoạt (hylozoistic nature – xem lại nghĩa của vật hoạt ở trang 693 – ND) của mọi vật hiện hữu, thì các khám phá của họ và công việc của họ sẽ được đưa đến một tương ứng chính xác hơn với các sự vật theo thực tướng của chúng. Như trước kia đã có nêu ra, điều này sẽ xảy ra khi nhân loại mở được nhãn thông dĩ thái (etheric vision – loại nhãn thông này chỉ thấy được chất dĩ thái – ND) và sự thật về các quả quyết của nhà huyền linh được chứng minh là vượt quá mọi tranh cãi.
Nên ghi nhận rằng trong bảng liệt kê hai nhóm chính, chúng ta không nhắc đến nhóm lớn các Thần Tạo Tác (Builders) mà về mặt huyền môn, các Thần này được gọi là “Các Thần Truyền Linh Ngôn”. Tôi chỉ bàn đến hai nhóm đang tạo thành “Đạo binh Thanh Âm” (“Army of the Voice”). Sở dĩ gọi thế là do sự kiện rằng, trong đoạn này chúng ta chỉ bàn đến đạo binh đó, hay là bàn đến các thần tạo tác, lớn lẫn nhỏ, họ bị lôi cuốn vào hoạt động khi Linh Ngôn (Word) của cõi trần được phát ra. “Các Thần Truyền Linh Ngôn” trên cõi phụ thứ nhất hay cõi phụ nguyên tử là những kẻ vận dụng rung động của âm thanh khi âm thanh đi đến họ từ cõi cảm dục và – chuyển nó qua thân thể của họ - phóng vào các cõi phụ còn lại. Với mục đích minh giải các Vị Thần Phát (Transmitters) này có thể được xem như gồm có bảy. Toàn thể các vị này hợp thành các thể nguyên tử hồng trần (atomic physical bodies) của Vương Thần Chủ Quản (Raja Lord) của cõi và theo một ý nghĩa huyền linh đặc biệt, bảy vị này hợp thành (trong các biến phân thấp của các Ngài trên các cõi phụ dĩ thái) toàn thể các trung tâm lực dĩ thái của tất cả nhân loại, giống như trên các cõi phụ dĩ thái vũ trụ có các trung tâm lực của một Hành Tinh Thượng Đế.
Sự tiếp nối giữa các trung tâm lực với chất dĩ thái, của thái dương hệ và của con người, mở ra một phạm vi rộng lớn cho
920 tư tưởng. Các “Thần Truyền Linh Ngôn” trên cõi phụ nguyên tử của mỗi cõi là các devas có quyền năng to tát và với đặc quyền, có thể nói là các Ngài được nối kết với trạng thái/ngôi Cha và là các biểu hiện của lửa điện. Tất cả các Ngài đều có ngã thức đầy đủ, đã trải qua giai đoạn làm người trong các thiên kiếp trước (earlier kalpas – Xem định nghĩa kalpa ở trang 39 – ND). Các Ngài cũng là các thành phần kết hợp của bảy bí huyệt đầu nguyên sơ trong cơ thể của một Thái Dương Thượng Đế hoặc một Hành Tinh Thượng Đế.
Mặc dù được nối tiếp với ngôi Cha, tuy vậy các Ngài là thành phần của cơ thể của Con, và mỗi một trong các Ngài, tùy theo cõi mà Ngài truyền năng lượng, là một thành phần cấu tạo của bí huyệt này hoặc bí huyệt khác trong bảy bí huyệt, hoặc của thái dương, hoặc của hành tinh – thuộc hành tinh khi chỉ có trung tâm lực đặc biệt có liên hệ, thuộc thái dương hệ khi trung tâm lực đó được xem như một phần nguyên vẹn của tổng thể.
Mỗi một trong các sự sống vĩ đại này (năng lượng thiên thần đang biểu hiện thuộc cấp độ thứ nhất) là một phân thân (emanation) từ mặt trời tinh thần trung tâm trong trường hợp thứ nhất và từ một trong ba tinh tòa chính trong trường hợp thứ hai. Về phương diện thái dương hệ, các thần này thuộc về ba nhóm: Nhóm một bao gồm các Thần Truyền Linh Ngôn, thuộc về ba cõi phụ thấp của cõi Adi hay là cõi Thượng Đế. Nhóm hai gồm có các Thần Tạo Tác cấp cao, các Ngài truyền Linh Ngôn trên ba cõi kế tiếp của thái dương hệ, tức cõi Chân Thần, cõi Niết Bàn và cõi bồ đề. Nhóm ba được tạo thành bằng các thần thi hành một chức năng tương tự trong ba cõi nỗ lực của con người. Về cơ bản, các thần này cũng là các phân thân từ một trong bảy ngôi sao của Đại Hùng Tinh trong trường hợp thứ ba.
Trong các thần lực phóng phát tam phân này, có thể tìm thấy cội nguồn của tất cả những gì hữu hình và đã biểu lộ, và qua trung gian các Ngài, thái dương hệ chúng ta có vị trí của nó bên trong một cơ cấu vũ trụ vĩ đại hơn, và một lửa vũ trụ căn bản nào đó được tạo thành. Các thần này là toàn thể các trung tâm lực đầu, tim và cổ họng của Thái Dương Thượng
Đế và các tương ứng của các Ngài sẽ được tìm thấy bên trong
921 một Hành Tinh Thượng Đế, một con người và một nguyên tử. Vậy nên khi các nhà khoa học tìm ra bản chất của nguyên tử, họ đang đặt chính mình tiếp xúc với ba loại năng lượng thái dương và đang lần ra manh mối cái bí ẩn chính yếu của thái dương hệ. Khi bản chất tam phân của nguyên tử bộc lộ ra, thì lúc đó bản chất tam phân của con người và của Thượng Đế dần dần cũng được chứng minh. Năng lượng của các nhóm này đi qua mặt trời hồng trần, và từ đó chúng phát ra Linh Từ (Word) cho cõi đặc biệt của nỗ lực riêng biệt của các thần này.
Nhà nghiên cứu đừng nên nhầm lẫn khi nghĩ rằng bảy Thần Truyền Đạt vĩ đại này là bảy Hành Tinh Thượng Đế. Các thần này hợp thành một nửa của bản chất thực sự của các Hành Tinh Thượng Đế. Đây là tất cả những gì có thể được nói về cái bí ẩn trọng đại này, dù có thể thêm rằng theo một góc nhìn khác, các thần này hợp thành một phần ba của bản chất thiêng liêng tam phân của Ngài. Con người vốn nhị nguyên, đó là Tinh Thần và Vật Chất. Trong khi tiến hóa, con người cũng là một tam nguyên, cũng thế đối với một Hành Tinh Thượng Đế, và đó là cái bí ẩn.
Thần Truyền Linh Từ vĩ đại trên cõi trần, vốn là vị thần mà chúng ta xem xét, chính là yếu tố truyền năng lượng của trung tâm lực cổ họng của Brahma. Một liệt kê lý thú về các trung tâm lực tam phân và ba trạng thái thiêng liêng có thể được nêu ra ở đây vốn có thể tỏ ra hữu ích đối với người nghiên cứu, dù y nên thận trọng ghi nhớ rằng các trung tâm lực này được dành cho mục đích phát ra và truyền chuyển năng lượng.
1. Thần truyền dẫn năng lượng trên cõi trần hợp thành trung tâm lực cổ họng trong cơ thể của Brahma, Ngôi Ba.
2. Thần truyền dẫn năng lượng trên cõi cảm dục hợp thành trung tâm lực tim của Brahma.
3. Thần Truyền Linh Ngôn trên cõi trí hợp thành trung tâm lực đầu của Brahma, Ngôi Ba.
Ba Vương Thần Chủ Quản, devas, hay Thần Truyền Dẫn, hợp thành ba trung tâm lực của Thượng Đế lực (logoic force) trong ba cõi thấp. Các Ngài là trạng thái năng lượng thấp nhất của Brahma.
922 4. Thần Truyền Linh Từ trên cõi Bồ đề hợp thành trung tâm lực cổ họng của Vishnu, Ngôi Hai. Từ cõi đó, Linh Từ phát ra vốn tạo thành hình hài vật chất trọng trược của một
Hành Tinh Thượng Đế hoặc của một Thái Dương Thượng Đế.
5. Thần Truyền Dẫn Năng Lượng trên cõi Chân Thần hợp thành trung tâm lực tim của Vishnu, Ngôi Hai.
6. Thần Truyền Dẫn mãnh lực trên cõi Niết Bàn hợp thành trung tâm lực đầu của Vishnu.
Bảng liệt kê này sẽ làm rối trí các nhà nghiên cứu trừ phi người ta hiểu rằng ở đây chúng ta đang xem xét các trạng thái này chỉ với tư cách nhị nguyên và đang bàn đến một trong các thành phần nhị nguyên đó. Điều sẽ rõ rệt là trong trạng thái Vishnu, chẳng hạn, vốn biểu lộ trên cõi thứ nhì, năng lượng của cõi đó sẽ tác động như trung tâm lực đầu đối với các cõi nối tiếp, và nếu hiểu đúng, thì nhận thức này sẽ làm sáng tỏ các điều khác.
Thần Truyền Linh Từ trên cõi thứ nhất, cõi Adi, là biểu hiện của trung tâm lực cổ họng của một thực thể vũ trụ. Từ phát biểu này sẽ đi đến một nhận thức đúng về vị trí của chúng ta trong cơ cấu vũ trụ và về căn bản bản chất vật chất của bảy cõi của thái dương hệ cũng được chứng minh ở đây, bản thể của Brahma, hay là Chúa Thánh Thần (Holy Spirit), trở nên hiện rõ.
Cổ Luận viết :
“Brahma vẫn Độc Nhất, nhưng bao gồm huynh đệ của Ngài. Vishnu vẫn Độc Nhất (One), nhưng hiện tồn không tách biệt với huynh đệ Ngài, non trẻ theo quan điểm thời gian tuy già dặn hơn. Shiva vẫn Độc Nhất và tiền báo cả hai, nhưng Ngài không xuất hiện cũng như không được thấy, cho đến khi cả hai quay vòng theo chu kỳ suốt các cuộc hành trình của các Ngài”.
Theo luật tương ứng, bảng biểu thất phân ở trên có thể cũng được áp dụng cho mọi cõi, vì các Thần Truyền Dẫn và các Thần hành động (workers) trên mỗi cõi đều hợp thành các nhóm tương tự. Cũng hữu ích nếu con người có thể xem biểu liệt kê này liên quan với bảy trung tâm lực của mình, và
923 do việc nghiên cứu cả hai chung với nhau, con người sẽ có được hiểu biết về loại năng lượng đang tuôn đổ qua bất cứ trung tâm lực đặc biệt nào. Các Thần Truyền Dẫn này cũng có thể được nghe phát ra Linh Từ với sức mạnh và khả năng đặc biệt trong cơ cấu hành tinh đó vốn tương ứng với nốt của các Ngài và được điều chỉnh với rung động của các Ngài. Do đó, các hành tinh hệ sẽ rơi vào nhóm tương tự, và việc này sẽ mở ra cho các nhà nghiên cứu một lĩnh vực ức đoán rộng lớn. Bảy Đấng Prajapatis thuộc về hai nhóm ba, với một Đấng cai quản. Các nhà nghiên cứu cần nhớ kỹ khi nghiên cứu thái dương hệ, các cõi, các hành tinh hệ, con người và nguyên tử, đó là việc phân nhóm của các đường hoặc các dòng năng lượng trong các chu kỳ tiến hóa đương nhiên rơi vào bốn phân chia :
1/ 1 - 3 - 3. 2/ 4 - 3. 3/ 3 - 4. 4/ 3 - 1 - 3.
Cách chia 1 có thể được hiểu dưới định luật về các tương ứng khi bản chất của cõi nguyên tử của thái dương hệ, ba cõi dĩ thái vũ trụ, và ba cõi nỗ lực của con người được điều nghiên liên quan với nhau.
Cách chia 2 trở nên dễ hiểu hơn khi sự liên lạc chặt chẽ giữa bốn cõi dĩ thái vũ trụ và ba cõi thấp được hiểu rõ. Việc này có thể trở nên sáng tỏ bằng việc nghiên cứu về bốn chất dĩ thái hồng trần và ba cõi phụ thấp của cõi trần chúng ta.
Cách chia 3 có manh mối đối với bí ẩn của nó trong cấu tạo của cõi trí, với ba cõi phụ vô sắc tướng và bốn cõi phụ hữu sắc tướng của cõi đó.
Cách chia 4 có thể hiểu được khi người nghiên cứu đi đến việc hiểu biết về bản chất riêng của nó như là một Tam Thượng Thể Tinh Thần, một thể chân ngã và một con người tam phân hạ đẳng. Nhà nghiên cứu cũng có thể tiến tới phân chia thứ nhất một cách tương tự và xem chính mình như một mãnh lực đầu tiên hay Chân Thần, một mãnh lực tam phân
924 hay Ego và một năng lượng tam phân hạ đẳng, hay là phàm ngã, nên nhớ rằng ở đây chúng ta chỉ bàn đến năng lượng sáng tạo và bàn đến trạng thái biểu lộ của Brahma khi trạng thái đó tự kết hợp với trạng thái Vishnu.
Các Thần Truyền Chuyển (Transmitters) Prana. Trong một đoạn trước của bộ luận này, chúng ta đã xét qua các devas vốn là các Thần Truyền Chuyển Prana cho thể dĩ thái của con người và của hành tinh. Các Thần này là hình ảnh trên cõi thấp nhất của trạng thái Vishnu của Đấng Thánh Linh (divinity); bảy cõi phụ của cõi hồng trần của chúng ta phản chiếu một cách mờ nhạt và lệch lạc ba trạng thái, và là một cái bóng, tối đen và không lộ ra của Đức Chúa (Godhead). Nhóm Thần Truyền Chuyển này chịu trách nhiệm cho ba hiệu quả chính và linh hoạt theo ba đường chính.
Họ là các thiên thần đem lại sinh khí và tạo ra năng lượng của mọi hình hài của sự sống có tri giác (sentient life). Sự sống của các Ngài là sự sống đang đập nhịp nhàng qua thể dĩ thái của mọi thực vật và động vật và của tất cả mọi hình thức trung gian của sự sống, và nó tạo thành ngọn lửa cuồng nhiệt vốn được thấy chạy quanh mọi thể dĩ thái. Giữa nhiều chức năng khác, các Ngài còn tạo ra hơi ấm của mặt trời và của mọi cơ thể; các Ngài là nguyên nhân của bức xạ thái dương, hành tinh và con người, đồng thời các Ngài nuôi dưỡng và bảo tồn mọi hình hài. Về mặt huyền linh, các thần này làm trung gian giữa Cha và Mẹ trên mỗi cõi, dù là vũ trụ hoặc thái dương hệ. Các Ngài xuất phát trong mặt trời, có liên kết chặt chẽ với bí huyệt đan điền của Thượng Đế và hành tinh, đối với diễn trình tiến hóa, cũng như trong mọi biểu lộ, là kết quả của dục vọng, tác động trên các năng lực sáng tạo và tạo ra những gì biểu lộ ra ngoại cảnh.
Các Ngài là các devas vốn cung cấp năng lượng/kích hoạt vô số các sinh linh bé nhỏ, kiến tạo các thể dĩ thái của tất cả những gì thấy được và hữu hình, và các Ngài là các tác nhân khởi xướng (instigators) các tiến trình sáng tạo trên ba cõi phụ thấp nhất của cõi trần. Về mặt thái dương hệ, các devas dấn thân vào đường lối hoạt động này có thể được chia nhỏ thành hai nhóm:
925 a. Các devas hoạt động trên bốn cõi cao của thái dương hệ và từ đó ảnh hưởng xuống ba cõi thấp, tạo ra qua tác động phản xạ các kết quả mong muốn.
b. Các devas làm việc trong ba cõi nỗ lực của con người,
tạo ra một cách trực tiếp biểu lộ hồng trần trọng trược.
Tất cả các thiên thần giữ nhiệm vụ truyền chuyển năng lượng trên cõi trần, đều tùy thuộc vào phân chi thứ hai được liệt kê ở trên, và tùy theo cõi phụ mà các thần này hoạt động trên đó ở dưới sự dẫn dắt của một vị thần thông tuệ cao cấp hơn trên cõi tương ứng.
Cũng có các devas tạo thành lực hút của mọi hình hài dưới nhân loại, giữ cho các hình hài của ba giới thấp của thiên nhiên ở tình trạng cố kết chung nhau, nhờ thế tạo ra thể biểu lộ của Đại Thực Thể Thông Linh vốn là toàn thể sự sống của giới và của các sinh linh kém cỏi hơn đang đem lại sinh khí cho các hệ tộc và các nhóm khác bên trong bất cứ giới đặc biệt nào.
Các devas của thể dĩ thái. Chủ đề mà hiện chúng ta đang bàn có liên quan đến các devas vốn là các thể dĩ thái của mọi vật đang hiện hữu. Do đó lúc nào cũng có lợi cho đạo sinh sáng suốt, vì việc đó làm hiện ra phương pháp mà nhờ đó mọi hình hài hiện ra trên cõi trần.
Không phải mục tiêu của bộ luận này là tìm ra cách xuất hiện của một hình hài như nó phát sinh trên cõi nguyên hình (xin xem lại định nghĩa của cõi này ở trang 397 – ND), qua môi giới/phương tiện (agency) của tư tưởng thiêng liêng và từ đó (qua các dòng năng lượng thông tuệ có điều khiển) thu được loại vật chất như nó đã sản xuất ra trên mỗi cõi, cho đến khi sau rốt (trên cõi trần) hình hài bộc lộ ra ở mức độ biểu lộ trọng trược nhất của nó. Cho đến nay, không có một hình hài nào được hoàn hảo, và chính vì sự kiện này mà cần phải có sự tiến hóa theo chu kỳ, và việc sản xuất các hình hài liên tục cho đến khi chúng đạt gần được giống như thật trong thực tế và trong hành động. Phương pháp tạo ra hình hài có thể được liệt kê như sau:
926 Tạo ra hình hài (Form production)
1. Tư tưởng thiêng liêng ........... Cõi trí vũ trụ
2. Ước muốn thiêng liêng ........ Cõi cảm dục vũ trụ
3. Hoạt động thiêng liêng ........ Cõi hồng trần vũ trụ
(7 cõi thuộc thái dương hệ của chúng ta).
Linh Khí Thượng Đế… Cõi thứ nhất … Âm (1) A

1 Các Âm của thần chú (Mantric Sounds)
Thần chú là sự phối hợp các âm, các từ và các câu mà nhờ tác dụng của một số hiệu quả nhịp nhàng, sẽ đạt đến kết quả vốn không thể tách rời khỏi chúng. Thần chú linh thiêng nhất trong tất cả các thần chú Đông Phương cho đến nay được đưa ra cho quần chúng là thần chú được lồng trong các từ: “Om mani padme hum”. Mọi vần của câu này có một mãnh lực huyền bí, và toàn thể câu đó có bảy ý nghĩa và có thể mang lại bảy kết quả khác nhau.
Có các hình thức thần chú khác nhau, dựa vào công thức này và dựa vào Thánh Ngữ (Sacred Word), mà khi được phát ra một cách nhịp nhàng và bằng các khóa (keys) khác nhau, sẽ hoàn thành một vài mục đích mong muốn, như là triệu thỉnh (invoking) các thiên thần bảo hộ, và công việc nhất định, hoặc là có tính xây dựng hoặc phá hủy trên các cõi.
Sức mạnh của một thần chú tùy thuộc vào mức tiến hóa của người vận dụng nó. Khi được phát ra bởi một người thông thường, nó dùng để kích thích phần tốt lành bên trong các thể của y, bảo vệ y, và nó cũng sẽ chứng tỏ ảnh hưởng có lợi lên chung quanh người này. Khi được phát ra bởi một adept hoặc điểm đạo đồ, năng lực của nó đối với sự tốt lành càng rõ rệt và có ảnh hưởng sâu rộng.
Có nhiều loại thần chú và nói chung có thể liệt kê như sau:
1. Một số thần chú rất huyền bí, có trong tiếng Senza nguyên thủy, dưới sự giám sát của Thánh Đoàn (Great White Lodge).
2. Một số thần chú bằng tiếng Bắc Phạn được các điểm đạo đồ và các adepts sử dụng.
Đây là sự xuất hiện đầu tiên bằng dĩ thái của thái dương hệ trên cõi phụ nguyên tử của cõi hồng trần vũ trụ. Các mầm sự sống hoàn toàn còn tiềm tàng. Năng lực vốn có từ tinh hoa thái dương hệ trước.
Linh Âm Thượng Đế … Cõi thứ nhì … Âm A U
Đây là thể xác (body) của thái dương hệ trong chất dĩ thái thứ hai. Cõi này là cõi nguyên hình (archetypal plane). Các
927 mầm sự sống đang rung động hay đang nảy sinh. Bảy trung tâm năng lượng lộ rõ. Vị deva duy nhất được nhìn thấy dưới hình thức bảy. Giờ đây hình hài có khả năng hoàn hảo.
Linh Ngôn tam phân của Thượng Đế... Cõi thứ ba... Âm A U M.
Thể xác của thái dương hệ bằng vật chất của cõi dĩ thái thứ ba được nhìn thấy và ba chức năng dưới hình thức một. Năng lượng tam phân của Thượng Đế được phối kết, và giờ đây không gì có thể cản trở công việc tiến hóa. Ba nhóm devas đều linh hoạt, và hình tướng nguyên hình đang ở trong diễn trình cụ thể hóa (materialization, xuất hiện).
Linh từ Thượng Đế thất phân… Cõi thứ tư… Linh Ngôn bảy vần. Các trung tâm dĩ thái của Thượng Đế trở nên linh hoạt.

3. Các thần chú có liên quan với các Cung khác nhau.
4. Các thần chú dùng trong việc chữa bệnh.
5. Các thần chú dùng trong các phần hành của hoặc là Đức Bàn Cổ (Manu), Đức Bồ Tát hoặc Đức Mahachohan.
6. Các thần chú được dùng có liên quan với các thiên thần và các giới tinh hoa chất (elemental kingdom).
7. Các thần chú đặc biệt có liên quan với lửa.
Tất cả các thần chú này có được sức mạnh của chúng là tùy thuộc vào âm thanh và tiết điệu và tùy thuộc sự nhấn mạnh vào âm tiết được truyền cho chúng khi phát ra và ngân lên (intoning). Chúng cũng tùy thuộc vào năng lực của người sử dụng chúng để hình dung (visualise) và để mong mỏi (will) hiệu quả muốn có được.
Thể dĩ thái của thái dương hệ giờ đã đầy đủ, dù nó sẽ không được hoàn chỉnh cho đến cuối kỳ khai nguyên nữa. Thể sinh lực vĩ đại đã sẵn sàng đem lại sinh lực cho thể xác trọng trược. Bảy trung tâm lực với bốn mươi chín cánh hoa chính của chúng trở nên rung động, và tâm thức rung động nhẹ qua mọi nguyên tử trong thái dương hệ.
Một thời gian tạm nghỉ xảy ra ở giai đoạn phát triển này; trong giai đoạn đó các tiến trình phối kết và ổn cố được xúc tiến; năng lượng hay rung động được tăng lên cho đến khi, nhờ một cố gắng kịp lúc, nó trở nên có thể phát xuất từ tất cả ba trạng thái, để đưa tới biểu lộ ngoại cảnh những gì cho đến nay chưa biểu lộ. Điều này diễn ra song song với con người trên cõi trần trong nỗ lực được áp dụng mà con người đã làm để mang lại và thể hiện, những gì mà y đã ấp ủ và mong ước. Lý do có rất nhiều người thất bại trong việc thể hiện ý niệm của họ, và do đó được kể như thất bại là do sự kiện về sự bất lực của họ khi tạo ra một cố gắng được áp dụng có kết hợp, và như vậy khởi động vật chất thuộc ba cõi phụ thấp của cõi
928 trần. Họ thành công trong việc đưa quan niệm của họ vượt qua từ cõi trí (như Thượng Đế đang làm trên các mức độ vũ trụ) cho đến tận phân cảnh dĩ thái thứ tư của cõi trần, và nơi đó năng lượng của họ trở nên cạn kiệt do ba sự việc:
a. Thiếu ý chí chịu đựng hay tập trung,
b. Thiếu sự chỉnh hợp với Chân Ngã,
c. Yếu đuối trong việc phối kết giữa hai phần của thể xác.
Cách diễn đạt của Thượng Đế … Cõi thứ 5… Cõi của thần chú
Thể hơi. Thượng Đế với 35 khổ thơ.
Hình thức thể khí của thái dương hệ bấy giờ xuất hiện, các trung tâm năng lượng trở nên bị che đậy và ẩn giấu. Sự phát triển và cố kết nhanh chóng tiếp nối. Ba nhóm thần tạo tác kết hợp các nỗ lực của họ lần nữa và một luồng nội nhập của năng lượng – có liên quan với các devas từ bí huyệt đầu của Thượng Đế - đổ vào. Các thần kiến tạo cấp thấp đáp ứng với thần chú Thượng Đế lại cất lên ở mỗi kỳ khai nguyên, và bảy dòng năng lượng từ bảy trung tâm lực của Thượng Đế được hướng xuống dưới.
Khúc ca Thượng Đế về … Cõi thứ sáu … Một bài thơ có 42 đoạn
Bác ái hoặc Ước vọng
Thể Lỏng của Thượng Đế (The logoic liquid body)
Ca khúc hay rung động này giúp mang lại một nhóm devas từ bí huyệt tim của Thượng Đế, làm tăng lên các cố gắng của các devas đã linh hoạt. Thể lỏng của Thái Dương Thượng Đế xuất hiện và hình hài hiện hữu trong sáu biến phân của nó. Sự cố kết trở thành rất nhanh chóng và hoạt động trở nên mạnh mẽ hơn một cách đáng kể nhờ mật độ lớn hơn của vật chất tích lũy lại.
Thánh Thư Thượng Đế về Sự Sống … Cõi thứ 7… Có trong 49 chương.
Toàn bộ hình hài bộ lộ ra. Trong lúc tiến hóa, nó phải biểu lộ mục tiêu và bản chất của nó. Một nhóm thiên thần thứ ba
929 từ bí huyệt cổ họng của Thượng Đế xuất hiện và hợp tác với các huynh hữu các Ngài. Tất cả các lửa đều cháy lên, tất cả các trung tâm lực đều linh hoạt, và mỗi cánh hoa, tất cả có 49, trên cõi thứ tư, cõi bồ đề, đều đang tạo ra một hoạt động phản xạ trên cõi vật chất trọng trược. Khi bận tâm để sáng tạo bất cứ cái gì, và trong diễn trình tạo ra hình hài trên địa cầu biểu hiện cho một ý tưởng, con người cũng hoạt động theo các đường lối tương tự. Sự tương đồng vẫn hoàn hảo.
Đối với những người không sáng tạo gì cả, mà họ chỉ bị lôi cuốn vào hành động dưới sự thôi thúc của hoàn cảnh – và những người này chiếm đa số của nhân loại – cần nêu ra rằng họ là thành phần của hoạt động sáng tạo của một số lớn thực thể tiến hóa. Khi sự tiến hóa ngã thức tiếp tục, ngày càng nhiều người của gia đình nhân loại sẽ trở thành những kẻ sáng tạo và những người hoạt động sáng suốt liên quan tới thần chất. Do đó, trong các giai đoạn mở đầu của việc họ tách ra khỏi thái độ thụ động, sẽ có một sự nổi loạn chống lại luật lệ và trật tự, một sự khước từ bị cai quản, và một khả năng bị thuyết phục noi theo một quan niệm cá nhân có hại cho tập thể, lớn hoặc nhỏ. Thiếu sót bề ngoài này, chính sự tiến hóa và kinh nghiệm sẽ sửa chữa lại, và khi tâm thức bắt đầu nhận biết các rung động cao siêu, con người sẽ bắt đầu biết được mục tiêu và kế hoạch của Đấng Thông Tuệ thuộc nhóm của y. Y sẽ thức tỉnh trước cái mỹ lệ của kế hoạch đó và sẽ bắt đầu nhấn chìm các quan tâm riêng của mình vào trong cái vĩ đại hơn và bắt đầu hợp tác một cách sáng suốt. Năng lực sáng tạo mà từ trước có bản chất riêng rẽ, sẽ được xuất hiện dưới hình thức sẵn sàng hy sinh cho năng lượng vĩ đại hơn, còn kế hoạch nhỏ nhoi của y và các ý tưởng của y sẽ bị hòa nhập vào trong các kế hoạch và ý tưởng lớn hơn. Tuy nhiên, y sẽ không còn là một đơn vị thụ động, bị cuốn đi mọi hướng bởi năng lượng của nhóm y, mà sẽ trở thành một mãnh lực tích cực, linh hoạt, tự hủy diệt qua nhận thức sáng suốt của kế hoạch vĩ đại hơn.
Y sẽ trở nên linh hoạt trước sự kiện là có các mãnh lực
930 sinh động trong thiên nhiên. Khi năng lượng vĩ đại hơn kích động qua y, các năng lực tiềm tàng của chính y được khơi hoạt. Y thấy và biết được các mãnh lực của devas và tất nhiên có thể hoạt động với các lực đó một cách sáng suốt. Một vài lực y sẽ kiểm soát và vận dụng, với các lực khác y sẽ hợp tác, còn các lực khác nữa y vẫn sẽ tuân theo.
Chính việc hiểu được các sự kiện này có liên quan với thần chất (deva substance), sức mạnh của âm thanh, định luật rung động, và khả năng tạo ra hình hài phù hợp với định luật này, mà nhà pháp thuật chân chính có thể nhận biết. Ở đây cũng có ẩn tàng một trong các phân biệt phải được tìm thấy giữa các nhà huyền thuật của Chính Phái và với các nhà Hắc Thuật. Nhà huyền thuật chính phái có thể kiểm soát và vận dụng thần chất, và vị này tiếp tục làm điều đó qua sự hợp tác sáng suốt với các thần tạo tác cấp cao. Nhờ sự trong sạch và thánh thiện của đời sống của Ngài, cao độ của rung động của chính Ngài, Ngài có thể tiếp xúc với các thần tạo tác ở cấp này hoặc cấp khác trong các cấp đẳng của họ. Nhà hắc thuật kiểm soát và vận dụng thần chất trên cõi cảm dục và cõi trần và trên các cõi phụ thấp của cõi trí qua mãnh lực của rung động riêng và tri thức riêng của y, mà không qua sự hợp tác với các thần tạo tác chỉ huy (directing builders). Y không thể tiếp xúc với các thần này, vì tính chất của y là không trong sạch do ích kỷ và rung động của y quá thấp kém; do đó năng lực của y bị hạn chế và có tính chất tiêu cực, tuy lại rộng lớn trong một vài giới hạn.
Các devas của thể dĩ thái thuộc về hai nhóm. Đó là các thần kiến tạo cấp thấp, và dưới sự chỉ đạo từ các thần kiến tạo cao cấp, các thần cấp thấp tạo ra các thể dĩ thái của tất cả những gì có thể thấy được và tất cả những gì thuộc vật chất hữu hình (tangible) trên cõi vật chất trọng trược. Họ rất đông đảo và có mặt khắp nơi, họ gom góp và tạo nên chất liệu cần có để tạo thành thể dĩ thái của mọi vật, và họ làm điều này theo một số định luật và làm việc dưới một vài hạn chế. Trong thuật ngữ huyền linh học, họ được gọi là “thiên thần lắng nghe” (“the listening devas”) vì họ là những thần góp nhặt loại nốt và cung bậc (tone) đặc biệt từ các tác nhân
931 truyền dẫn (transmitters) âm thanh cõi trần vốn cần để tập hợp vật chất cho bất cứ hình hài vật chất được hoạch định nào. Lại nữa, họ được nói đến như là “có tai nhưng không thấy”. Họ làm việc trong sự hợp tác chặt chẽ với các elementals của nhục thân. Nhóm thứ hai này được nói đến như là các “tinh linh thấy” (“seeing elemental”), vì họ hiện hữu trong vật chất của ba cõi phụ thấp và do đó có thể thấy được trên cõi biểu lộ (objective plane) theo ý nghĩa huyền linh vốn bao hàm một tương đồng giữa sự thấy với tri thức. Các “thần tạo tác nghe” gom góp chất liệu; các “tinh linh thấy” lấy chất liệu được gom vào đó, rồi kiến tạo nó thành bất cứ hình thể đặc biệt nào. Có nhiều nhóm thần này tùy theo mức tiến hóa, và một số có thể được liệt kê như sau:
1. Các thần kiến tạo hiện thể con người (các “mụ bà”).
Đây là nhóm cao nhất trong số các thần kiến tạo cấp thấp, họ có chuyên môn cao. Các thần này sẽ được bàn đến với ít nhiều chi tiết sau này.
2. Các thần kiến tạo các hình hài trong giới của thiên nhiên với hai phân chi (divisions).
Thứ nhất. Các thần kiến tạo của giới khoáng chất. Đây là các thần hoạt động mà về mặt huyền linh được gọi là “các tinh linh luyện đan” (“the elemental alchemists”). Họ thuộc nhiều nhóm có liên hệ với các tố chất (elements), các kim loại, các hóa chất và khoáng chất khác nhau, và liên hệ với những gì được gọi là các chất linh hoạt và phóng xạ. Các thần này là các tác nhân bảo quản hai bí ẩn, bí ẩn về việc nhập thể vào khoáng chất (immetalisation) của Chân Thần, và cái bí ẩn của việc chuyển hóa (transmutation) của các kim loại.
Thứ hai. Các thần kiến tạo của giới thực vật. Các thần này hiện hữu trong nhiều nhóm và được đặt tên là “các nhà luyện đan mặt ngoài” (“the surface alchemists”) và “các đơn vị bắc cầu (“the bridging units”). Các thần này kiến tạo các bản sao (doubles) của mọi hình hài của sự sống thực vật, và cũng như
“các nhà luyện đan” của giới khoáng chất hầu hết có liên quan tới hoạt động của lửa, các nhà làm công việc luyện đan
932 khác này có liên quan với hoạt động chất lỏng của biểu lộ thiêng liêng. Do đó, các Ngài làm việc kết hợp với các devas của nước, hay chất lỏng, trong khi nhóm nói đến trước hoạt động với các devas chất hơi. Ở đây một ẩn ngôn được nói đến, mà không thể bàn rộng ra được, do cái nguy hiểm của sự hiểu biết được đạt tới. Có ba bí ẩn được che giấu : Một bí ẩn có liên quan với thái dương hệ trước đây hay là thái dương hệ xanh lục; một bí ẩn nữa liên quan đến các định luật bắc cầu hay là sự tương tác giữa các giới của thiên nhiên, và bí ẩn thứ ba có liên quan đến lịch sử của cuộc tuần hoàn thứ hai; bí mật này khi được tiết lộ, sẽ minh giải lý do tại sao con người (theo thiên luật) sẽ là một người ăn thực vật chớ không ăn thịt. Các nhà khoa học đã đang học được một vài điều liên quan đến bí ẩn thứ hai, và họ có thể hy vọng, khi tri thức về ý nghĩa của màu sắc được mở rộng để góp nhặt được các ẩn ngôn về cái bí ẩn thứ nhất. Bí ẩn thứ ba sẽ không được chỉ ra rõ ràng hơn cho đến khi giống dân thứ sáu xuất hiện trên địa cầu.
Thứ ba. Các thần kiến tạo của tất cả các hình hài dĩ thái động vật. Các thần này là một nhóm có liên kết chặt chẽ với các thần kiến tạo hình hài con người. Họ hoạt động từ một nguồn dự trữ năng lượng đang được giữ trong trạng thái tĩnh lặng cho đến khi tình trạng vật chất của bất cứ hành tinh hệ đặc biệt nào được phép hoạt động. Đã xảy ra nhiều phiền toái cho các thần này; điều đó giải thích cho tình trạng tệ hại hiện nay, vì nhiều nỗi sợ hãi, ác cảm và tình trạng hủy diệt được thấy xảy ra trong các động vật là do bởi các thể của động vật được tạo thành, và công việc tiến hóa được xúc tiến bởi “các thần chưa hoàn thiện” (theo cách diễn tả của H.P.B.) hoạt động trong vật chất kém hoàn bị mà cho đến nay được vận dụng một cách không hoàn hảo. Bí ẩn của sợ sệt được ẩn giấu trong thể dĩ thái, và loại vật chất đặc biệt mà thể đó được tạo ra.
3. Các thần kiến tạo lưới dĩ thái hành tinh.
Công việc của các thần này cực kỳ khó hiểu (obscure) và có ba phân chia:
a. Xuất hiện mạng lưới. Việc xuất hiện này chỉ được hoàn thành vào cuộc tuần hoàn thứ tư và được hối thúc một cách có chủ tâm liên hệ đến hành tinh chúng ta do các tình trạng nghiệp quả và theo quy luật tất yếu tinh thần. Một tương ứng cho việc này có thể được thấy trong trường hợp của chính con người. Lưới dĩ thái được phối kết rất lỏng lẻo trong con người vào lúc bắt đầu căn chủng thứ tư. Nhu cầu tâm linh thúc đẩy sự củng cố nhanh chóng của nó và hiện nay nó có kết cấu bền bĩ đến nỗi nó tạo thành một rào chắn giữa cõi trần với cõi cảm dục.
b. Giữ gìn mạng lưới hành tinh: Việc này sẽ được tiếp nối cho đến cuộc tuần hoàn thứ sáu. Trong giai đoạn này, sự tiến hóa tâm linh tiếp diễn với một mức độ an toàn hành tinh nào đó, vì mạng lưới bảo vệ khỏi một vài ảnh hưởng mặt trời, và phần lớn tác động như một cái rây và một tác nhân phân phối các lực thái dương.
c. Hủy diệt mạng lưới. Việc này xảy ra vào cuối cuộc tiến hóa hành tinh, nhờ thế giúp thoát ra sự sống hành tinh bị giam nhốt và việc thu hút tinh hoa sự sống vào cái tổng hợp của nó. Tiến trình hủy diệt chỉ có thể được mô tả bằng các từ ngữ chọc thủng (perforation) và tan rã (disintegration).
4. Các thần kiến tạo thể dĩ thái của Thực Thể hành tinh.
Sự sống tiến hóa giáng hạ vĩ đại này trong nhiều thiên kỷ vẫn là một bí nhiệm. Thể dĩ thái của Ngài, hiện giờ đang trong tiến trình kiến tạo, và chỉ trong một thái dương hệ khác, Ngài mới khoác lấy hình hài vật chất rõ rệt. Tuy nhiên, năng lượng chưa được sinh ra đầy đủ để cho phép Ngài biểu lộ ra ngoại cảnh. Cho đến nay, Ngài vẫn thuộc bên trong (subjective). Ngài có tương ứng về thái dương của Ngài.
934 5. Các thần kiến tạo thể hành tinh.
Điều này diễn ra với cùng định luật như là luật của thái dương hệ và của con người, nhưng, giống như trong thái dương hệ, nó tiếp diễn trên các cõi cao. Ở đây các nhà nghiên cứu được khuyến cáo hãy truy nguyên mối liên hệ giữa các cõi thái dương với cõi vũ trụ trong sự liên hệ đặc biệt này.
6. Thể dĩ thái của mọi vật mà con người tạo ra.
Có một nhóm đặc biệt thần kiến tạo dĩ thái mà, theo karma, các thần này bị bắt buộc hành động phối hợp với con người.
Các nhóm này chỉ là một số ít trong số nhiều nhóm có thể được đề cập đến; không cần bàn rộng thêm ở đây, vì thực ra không có lợi gì nảy sinh do truyền đạt thêm thông tin. Chỉ có các chỉ dẫn vắn tắt nhất mới có thể được đưa ra và nói đến. Cho đến nay, thật là không an toàn cũng như không thích hợp mà truyền đạt cho con người kiến thức liên quan đến các tác nhân hoạt động (workers, nhà tạo tác) trong chất dĩ thái, việc đó giúp cho con người tiếp xúc với các tác nhân hoạt động kia, cũng như cho tới nay, không khôn ngoan khi liên kết một cách chặt chẽ các sự kiện rải rác được đưa ra trong các sách huyền bí học. Khoa học đang bước trên ranh giới khám phá và đã đang xâm phạm vào địa hạt các thiên thần kiến tạo. Cần phải thận trọng. Tuy nhiên, nếu các ẩn ngôn đã đưa ra ở trên được nghiên cứu, nếu các bí ẩn khác nhau của các nhà kiến tạo được suy nghiệm, và nếu khía cạnh nội môn của Hội Tam Điểm (Masonry) được trầm tư một cách thận trọng và kiên trì, thì công việc của các nhà Đại Kiến Trúc và nhiều vị phụ tá của các Ngài sẽ lộ ra dưới một ánh sáng rõ ràng hơn và đầy đủ hơn. Một ẩn ngôn có thể được đưa ra ở đây, đừng quên rằng công việc đó có hai mặt:
Việc kiến tạo thánh điện, hay là tạo nên các hình hài tạm thời là công việc của Thợ Mộc Thiêng Liêng (Divine Carpenter), trong khi việc kiến tạo Thánh Điện Solomon hay là việc tạo ra cấu trúc trường tồn hơn là công việc của Kiến Trúc Sư Giám Sát. Một bên liên quan đến Masonry hoạt động, còn bên kia liên quan đến Masonry thuyết lý theo ý nghĩa thực sự huyền bí của từ ngữ.
935 Các devas tạo ra các bản sao dĩ thái của mọi vật thể nhờ vào chất liệu riêng của các thần này cũng phải được nghiên cứu. Các thần kiến tạo này là toàn thể mọi chất liệu của cõi trần, và tạo ra vật chất của các cõi phụ dĩ thái của cõi trần. Do đó, họ hiện có bốn nhóm và mỗi nhóm có một liên hệ nghiệp quả lạ lùng với một trong bốn giới trong thiên nhiên:
Nhóm Cõi Giới
Thứ nhất ................. Một ................... Nhân loại
Thứ hai ..................... Hai ................... Động vật
Thứ ba ...................... Ba ..................... Thực vật
Thứ tư ...................... Bốn ................... Khoáng vật
Vật chất của hình hài thể chất cao nhất của một con người do đó là vật chất nguyên tử. Thể xác của Chân Sư được làm bằng vật chất nguyên tử, và khi Ngài muốn làm hiện hình vật chất đó trên cõi trần trọng trược, Ngài tạo thành một lớp vỏ/thể (sheath) bằng chất hơi trên vật chất nguyên tử đó, hoàn thiện bản phác thảo của lớp vỏ đó với tất cả những nét đã biết ở cõi trần. Vật chất của hình hài cao nhất của cơ thể động vật là vật chất bằng chất dĩ thái thứ hai, và nơi đây người ta sẽ tìm ra manh mối về sự liên hệ giữa mọi dạng thức của biển và của nước đối với động vật. Hình thức cao nhất của cơ thể có được đối với hình thức sự sống thực vật, là hình thức của chất dĩ thái thứ ba. Các sự thật này sẽ được chứng minh trong cuộc tuần hoàn thứ bảy khi ba giới hiện tại của thiên nhiên – nhân loại, động vật và thực vật sẽ hiện hữu ở ngoại giới trong chất dĩ thái; đối với các giới này chất đó sẽ là biểu lộ dày đặc nhất của chúng. Giới khoáng chất sẽ tìm thấy biểu lộ cao nhất của giới đó trong chất dĩ thái thứ tư, và sự chuyển hóa này đã đang xảy ra, vì mọi chất phóng xạ được khám phá ngày nay đều theo nghĩa đen trở thành vật chất của dĩ thái thứ tư. Giới khoáng chất thì tương đối đến gần mức hoàn thiện của kỳ manvantara có thể có của nó, và vào
936 lúc đạt đến cuộc tuần hoàn thứ bảy, mọi sự sống khoáng chất (không hình hài) đều sẽ được chuyển đổi qua một hành tinh khác. Điều này sẽ không xảy ra như thế với ba giới kia.
Chất dĩ thái thiên thần được tác động bằng hai cách:
Nó được khơi hoạt thành hoạt động đặc biệt bằng việc ngân lên linh từ cõi trần và nó được kiến tạo thành hình hài bởi các thần kiến tạo cấp thấp (lesser builders).
Do đó, điều rõ rệt là nó đến dưới ảnh hưởng của hai loại thần lực hay năng lượng.
Giờ, chúng ta sẽ nói vắn tắt về chủ đề công việc của các devas có nhiệm vụ kiến tạo thể dĩ thái và nhục thể của con người. Bằng cách chia ý tưởng của chúng ta thành hai phần, chúng ta có thể bao hàm đề tài một cách dễ dàng hơn phần nào, trước tiên bàn đến các devas kiến tạo và tiểu thiên địa, kế đó bàn đến các thần kiến tạo cấp thấp của các cõi phụ dĩ thái.
d. Các elementals và tiểu thiên địa.
Con người và các devas tạo tác. Trong diễn trình tiến hóa, khi tiếp tục phương pháp lâm phàm, con người ứng xử với bốn loại thần tạo tác (builders) và ba cấp đẳng chính của tinh hoa chất kiến tạo (building essence) hay thần chất.
Con người liên kết với các devas truyền dẫn, họ được thấy có liên hệ với tiểu thiên địa trên cõi phụ thứ tư của cõi trí, và trên các cõi phụ nguyên tử của cõi cảm dục và cõi trần. Kế tiếp, con người liên kết với các devas có liên hệ với:
1. Vi tử thường tồn hạ trí.
2. Vi tử thường tồn cảm dục.
3. Vi tử thường tồn hồng trần.
Con người hợp tác với công việc của các devas kiến tạo, các thần này tạo ra thể dĩ thái và ảnh hưởng đến các devas kiến tạo của các vật chất trọng trược của cõi trần, sao cho hiện thể vật chất cần thiết cho công cuộc biểu lộ ra bên ngoài của y trở thành hiện thực.
Đây là bốn nhóm devas chính vốn chịu ảnh hưởng của bất
937 cứ Ego đặc biệt nào. Họ cùng nhau tạo ra con người hạ đẳng, và đưa phàm ngã vào biểu lộ, đó là hình ảnh của Ego và là hình bóng của Monad. Ba cấp đẳng của tinh chất kiến tạo vốn được xây đắp thành hình hài thông qua hoạt động của bốn nhóm trên, ở đây được nhận biết vắn tắt như là chất trí, được kiến tạo thành thể trí, chất cảm dục được tạo thành thể cảm dục và vật chất của xác thân. Toàn bộ bảy nhóm này hợp thành cái mà chúng ta có thể gọi là trạng thái Brahma của tiểu thiên địa.
Theo một quan điểm khác, chúng ta có thể được xem như đang nghiên cứu tác động của Solar Angel, hay là Lord, trên các Lunar angels, và tiến trình mà theo đó vị Solar Lord đặt để một số nhịp điệu và rung động lên các trạng thái biểu lộ thấp khác nhau. Về mặt huyền bí, đây là tất cả những gì được ẩn giấu trong các ngôn từ của một tác phẩm rất cổ, có ghi :
“Khi mặt trăng quay, nó phản chiếu. Khi phản chiếu, nó tạo nên đáp ứng trong những gì không tỏa chiếu. Cả ba, Mặt Trời, Mặt Trăng và Mẹ, tạo ra những gì nối tiếp một chu kỳ nhỏ bé, và bùng cháy”.
Giai đoạn đầu tiên của Ego hướng về việc tạo ra một “hình bóng” được diễn tả bằng các ngôn từ “Ego phát ra nốt của mình”. Nó phát ra tiếng nói của nó, và (giống như trong diễn trình của Thượng Đế) “đạo binh âm thanh” bé nhỏ đáp ứng tức khắc với nó. Tùy theo âm điệu (tone) và tính chất của âm thanh (voice), bản chất của các tác nhân đáp ứng cũng thế. Tùy theo độ trầm hoặc là cao của nốt và tùy theo âm lượng (volume) của nó, tình trạng hay cấp độ của deva kiến tạo đáp ứng với tiếng gọi cũng y như thế. Do đó, nốt Chân Ngã này tạo ra một số hiệu quả:
Nó đưa vào hoạt động các devas đang tiếp tục truyền chuyển âm thanh. Các devas này phát ra một linh từ (word). Nó đạt đến các devas đang lắng nghe thuộc cấp đẳng thứ hai, các thần này chọn lấy linh từ đó và tiếp tục tạo nó thành những gì có thể được gọi là một câu chú (mantric phrase).
Tiến trình kiến tạo bắt đầu một cách rõ rệt theo một trình tự
938 có ba phần. Thể hạ trí bắt đầu phối kết theo ba giai đoạn. Mọi giai đoạn kiến tạo đều có trùng lắp. Chẳng hạn, khi sự phối kết của thể hạ trí ở vào giai đoạn thứ hai của thể ấy, thì giai đoạn thứ nhất của sự cố kết của thể cảm dục (astral concretion) bắt đầu. Sự việc được tiến hành theo bảy giai đoạn (ba giai đoạn chính và bốn giai đoạn phụ) chúng trùng lắp theo một dạng phức tạp. Lại nữa khi đạt đến giai đoạn hai, một rung động được tạo ra, nó khơi hoạt sự đáp ứng trong chất dĩ thái trên cõi trần, rồi các thần kiến tạo thể dĩ thái bắt đầu hoạt động. Lần nữa diễn trình được lặp lại. Khi giai đoạn hai của công việc của các devas dĩ thái này được bắt đầu, sự hoài thai (conception) xảy ra trên cõi trần. Đây là một điểm rất quan trọng cần nhớ, vì nó làm cho toàn bộ diễn trình
ra đời của con người đúng theo luật nghiệp quả đặt để. Nó chứng minh sự liên hệ chặt chẽ giữa những gì thuộc bên trong (subjective) với những gì hữu hình và thấy được. Việc kiến tạo thể xác diễn ra giống như việc kiến tạo của ba giai đoạn trong thời kỳ tiền sinh :
a. Công việc của các thần kiến tạo trong ba tháng rưỡi trước khi hiểu rõ sự sống. Giai đoạn này mường tượng giai đoạn thứ ba của việc đưa thể dĩ thái nhập vào.
b. Công việc kiến tạo của ba tháng rưỡi kế tiếp của thai kỳ.
c. Diễn biến cuối cùng của việc cố kết thành khối được
tiến hành suốt hai tháng còn lại.
Ở đây các nhà nghiên cứu sẽ thấy quả là lý thú khi tìm ra sự tương ứng trong phương pháp tạo ra biểu lộ tiến hóa trong một hành tinh hệ với các cuộc tuần hoàn và các giống dân của nó, và trong một thái dương hệ với các chu kỳ khai nguyên (manvantaras) của nó và các chu kỳ lớn hơn.
Tóm lược đường nét rất sơ sài này như sau, công việc của các thiên thần dĩ thái không ngưng nghỉ vào lúc khai sinh con người, nhưng cũng được liên tục trong ba giai đoạn, vốn có một tương đồng chặt chẽ trong chu kỳ sinh hoạt của một thái dương hệ.
939 Thứ nhất, công việc của họ được hướng đến sự tăng trưởng đều đặn hiện thể hồng trần của con người, sao cho thể đó có thể noi theo một cách chính xác các đường lối tăng trưởng của hai thể tinh anh. Việc này được xúc tiến cho đến khi đến tuổi trưởng thành. Giai đoạn kế tiếp là giai đoạn mà trong đó công việc của các thần này gồm phần lớn là việc sửa chữa và giữ gìn thể xác trong những năm trưởng thành đầy đủ để cho thể xác đó có thể thích hợp với mục tiêu của sự sống bên trong (subjective life). Tất nhiên, mục tiêu này thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển của con người. Sau cùng đến
giai đoạn mà công việc kiến tạo ngưng lại. Sức sống trong thể dĩ thái trở nên kém đi (dim), và các tiến trình hủy diệt bắt đầu. Chân Ngã bắt đầu thu hồi các mãnh lực của nó. “Âm thanh” (“sound”) trở nên yếu đi và lu mờ; do đó, ngày càng có ít âm lượng (volume) cho các chủ thể truyển chuyển (transmitters) để truyền đi, và rung động ban đầu trở nên ngày càng yếu. Giai đoạn thoái lui (obscuration, mờ tối) tiến đến. Trước tiên, thể xác trở nên yếu và vô tích sự (useless); kế đó Chân Ngã triệt thoái ra khỏi các trung tâm lực và hoạt động trong một vài giờ trong thể dĩ thái. Đến lượt thể này bị mất sinh lực và thế là tiến trình được xúc tiến cho đến khi lần lượt các lớp vỏ/thể bị tách ra và “hình bóng” Chân Ngã (egoic “shadow”) bị tan rã.
Công việc của các thiên thần kiến tạo (building devas).
Bây giờ chúng ta hãy xem xét công việc của các devas tạo tác trên ba cõi giới, bàn về họ trong hai nhóm :
a. Các devas có liên quan đến các vi tử thường tồn.
b. Các devas có trách nhiệm cho tiến trình tạo tác.
Các devas của các vi tử thường tồn. Nhóm devas đặc biệt này là toàn thể các sự sống vốn tạo thành vi tử thường tồn hạ trí và hai vi tử thường tồn khác. Như chúng ta biết, chúng có vị trí của chúng bên trong phạm vi thể nguyên nhân (causal periphery), và là các điểm tập trung năng lượng Chân Ngã. Các devas này là loại devas tạo tác cao nhất, và tạo thành một nhóm các sự sống vốn có liên kết chặt chẽ với các Solar Angels. Họ ở trong bảy nhóm có liên kết với ba loa tuyến của vi tử thường tồn hồng trần của Thượng Đế. Đối với bảy nhóm sinh linh, ba loa tuyến này có vai trò giống như ba cung chính yếu đối với bảy nhóm cung trên các cõi phụ Chân Ngã của cõi trí. Câu này cần được suy nghiệm, và có thể truyền đạt nhiều hiểu biết cho kẻ suy tư có trực giác. Có một tương ứng giữa vi tử thường tồn của tam thượng thể với sắc tướng/ngoại hiện (appearance) của con người trong căn chủng thứ ba. Một trình tự lý thú lạ lùng của ba tuyến lực có thể được thấy trong:
a. Các tam thượng thể của hồn tập thể tiến hóa giáng hạ.
b. Ngoại hiện của con người có bản chất tam phân trong
căn chủng ba.
c. Các tam thượng thể trong các thể nguyên nhân của bất
cứ đơn vị hữu ngã thức nào.
Các devas kiến tạo này là các thần nhận âm thanh khi Chân Ngã phát ra qua một vài phương tiện truyền chuyển của thiên thần và bằng rung động mà âm thanh này tạo ra, các thần đó đưa vào hoạt động tinh chất thiên thần bao quanh trong hai nhóm của các thần này :
a/ Các thiên thần xây dựng hình hài.
b/ Các thần được đưa vào hình hài (are built into the
form).
Các thần này chỉ tác động đến các thần có rung động tương tự. Các giai đoạn của việc kiến tạo bất cứ loại nào trong bốn hình hài mà con người thấp kém (Tứ hạ thể, Quaternary) tác động qua đó, theo một cách chính xác các giai đoạn tương tự đối với việc tạo ra thể hồng trần trọng trược của một hành tinh hoặc của một thái dương hệ chẳng hạn. Việc này có thể được vạch ra theo mọi cách từ giai đoạn mù mịt và hỗn độn, qua giai đoạn cháy bùng đến giai đoạn rắn đặc, hoặc đến giai đoạn tương đối rắn nơi mà một thể tinh anh có liên quan. Chúng ta không cần bàn rộng thêm nữa. H.P.B. đã phác họa các giai đoạn này trong bộ GLBN (quyển I, 279, 280) và các giai đoạn này đã được bàn đến trong một phần trước của Bộ Luận này.
Chúng ta đã bàn đến rất tỉ mỉ về công việc của các devas 941 truyền chuyển trên ba cõi giới trong ba cõi thấp và bàn đến các devas có liên hệ với điểm tập trung tương đối trường tồn này – các vi tử thường tồn bên trong phạm vi thể nguyên nhân. Bây giờ chúng ta có thể xét đến nhóm các thần tạo tác, mà nhờ đáp ứng với nốt của các tác-lực truyền-chuyển (transmitting agencies) và đáp ứng với rung động ban đầu của nhóm thần kiến tạo thứ hai liên quan với phàm ngã tam phân, bắt đầu công việc tập hợp và uốn nắn vật chất sinh động cần cho biểu lộ chân ngã trên các cõi thấp.
Chúng ta đã thấy rằng ba giai đoạn đầu tiên của công việc của Chân Ngã là :
1. Phát ra (sounding) nốt thích hợp, chính nốt đó biểu thị cho vị trí của một người trong cơ tiến hóa, và của bản chất của “tâm” (“psyche”) của người này, tức Ego.
2. Việc truyền chuyển của nốt này bởi Solar Angel, và ba nhóm devas có liên quan với ba vi tử thường tồn.
3. Rung động được phát khởi bên trong các vi tử này vốn phù hợp với nốt được ngân lên, và nó trở nên rất mạnh để làm cho chính nó được cảm nhận trong thần chất đang bao quanh, nhờ thế khơi hoạt sự đáp ứng.
Các giai đoạn này có thể được xem như là ba giai đoạn sơ khởi và chúng ta thấy được chứng minh (liên quan đến tiểu thiên địa) ba yếu tố, đó là âm thanh, màu sắc và rung động, mà theo Định Luật Tương Tự, phản chiếu ba trạng thái của đại thiên địa. Ở đây cũng có một tương đồng đối với công việc của ba Sephiroths đầu tiên của Thánh Kinh Kabbalah (Do Thái Bí giáo), - giai đoạn biểu lộ sơ khai tìm thấy hình ảnh lờ mờ của nó trong công việc của Ego trong ba cõi thấp.
Hiện nay, giai đoạn hai đang xảy ra, trong đó công việc kiến tạo tiếp diễn cho đến khi tiểu thiên địa (microcosm), tức con người, xuất hiện trên cõi trần. Giai đoạn này được nối tiếp bằng một giai đoạn tiến hóa thứ ba, trong đó bản chất thông linh (psychic nature) của con người muốn biểu lộ qua
942 phương tiện của các hình hài. Kế đó hai nhóm Sephiroth kế tiếp được thấy tạo ra trong con người. Con người được chứng tỏ trở thành chín theo một khía cạnh khác, nhưng trong đoạn này chúng ta chỉ nói tới các thần kiến tạo hình hài.
Có bốn nhóm thần kiến tạo:
1. Các thần kiến tạo thể hạ trí.
2. Các thần kiến tạo thể cảm dục.
3. Các thần kiến tạo thể dĩ thái.
4. Các thần kiến tạo thể xác.
Mỗi nhóm có thể được chia nhỏ thành bốn hoặc bảy hoặc ba, tùy theo cõi liên hệ. Các đạo sinh cần nên nhớ rằng vật chất của hai cõi phụ thấp nhất của cõi trần và cõi cảm dục không bao giờ được đưa vào cơ thể con người như hiện giờ đã được tạo ra (câu này quả khó hiểu –ND); chính vì có mức rung động quá thấp, và thuộc loại quá thô (too coarse) ngay cả đối với hạng người thấp kém nhất trên địa cầu vào lúc này. Cũng cần nêu ra rằng trong người thông thường, vật chất của cõi phụ nào đó sẽ vượt trội hơn tùy theo độ sâu (depth) của bản thể người này và vị trí của y trên thang tiến hóa. “Các thần tạo tác” của cơ thể con người hoạt động dưới sự dẫn dắt của một trong các Nghiệp Quả Thần Quân từ nhóm thấp nhất. Các Thần Quân này (Lords) có trong ba nhóm, và một Thần Quân thuộc nhóm thứ ba có nhiệm vụ là trông coi các thần kiến tạo của con người trên ba cõi. Dưới quyền Ngài có một số thần thừa hành nghiệp quả (karmic agents), các thần này lại được chia thành các nhóm sau :
1. Ba thần thừa hành nghiệp quả chịu trách nhiệm trước các Nghiệp Quả Thần Quân đối với công việc trên ba cõi.
2. Năm Nghiệp Quả Thần Quân đang làm việc trong sự kết hợp chặt chẽ với các Bàn Cổ của các giống dân khác nhau, và các vị này có trách nhiệm cho việc kiến tạo chính xác các loại chủng tộc khác nhau.
3. Các thần thừa hành nghiệp quả có trách nhiệm về các kiểu mẫu giống dân phụ của thời hiện tại.
943 4. Một vài thần thừa hành trung gian tiêu biểu cho (trong vòng ba nhóm này) bảy loại Cung.
5. Các thần thừa hành Luật vi diệu này có liên quan đặc biệt với công việc của các trung tâm lực dĩ thái và sự đáp ứng của các trung tâm này với các trung tâm hành tinh khác.
6. Các thần bảo quản (keepers) các ký ảnh.
Các thần thông tuệ khác nhau này vận dụng các lực kiến tạo qua trung gian các dòng năng lượng, mà các dòng này được khởi động khi Ego phát ra nốt của nó. Cần nên nhớ rằng ở mức độ hoặc ít hoặc nhiều trên cõi riêng của mình, Ego cũng biết đến karma của mình và biết được những gì phải làm để thúc đẩy sự tăng trưởng trong lần luân hồi tới. Do đó Ego hoạt động kết hợp với các Thần Quân này, nhưng chỉ tiếp xúc trực tiếp với một thần thừa hành thuộc nhóm thứ sáu và nhóm thứ tư. Qua hai nhóm này, công việc tiếp diễn chừng nào mà Ego còn liên hệ về mặt cá nhân, và các thần này khởi động cho Ego (sau khi Ego đã phát ra note của mình) bộ máy của Thiên Luật.
Các thần kiến tạo phàm ngã con người lại được chia thành bảy nhóm chính; tất cả các devas này, đúng y như trường hợp đối với Monads con người, ở dưới ảnh hưởng của một trong bảy Cung, và chịu trách nhiệm đối với một trong bảy luồng hỏa năng của Thượng Đế. Loại thần chất nào sẽ có ảnh hưởng là tùy theo Cung Chân Ngã của một người.
Các thần kiến tạo này hoạt động với một số tinh linh (elementals), nhưng chỉ ở trên cõi trần mà bất cứ ý tưởng nào mới có thể được đưa ra đối với bản chất và công việc của họ.
Các elementals này là các thực thể bé nhỏ, tuân theo kế hoạch mà các thần kiến tạo đã thể hiện ra, xây dựng một cách mù mờ kết cấu của cơ thể và tạo hình các thể thấp mà chính Ego biểu lộ qua đó. Trên các cõi dĩ thái, họ tạo nên “hình hài” đích thực bằng chất dĩ thái và tạo ra lớp vỏ với các đường nét
944 phức tạp gồm các sợi nhỏ giống như lửa đan kết nhau, thực ra chính là phần kéo dài của sutratma, hay là sinh mệnh tuyến (life thread). Khi nó được dệt và đan lại, nó được cấp sinh lực bằng sinh năng từ Ego đưa xuống, giống như Shiva, tức Ngôi Cha, ban cho Ngôi Con “bios” thực sự hay là sự sống (life), trong khi Ngôi Mẹ sưởi ấm, kiến tạo và bảo dưỡng cơ thể. Công việc của các elementals dĩ thái đạt đến kết quả mong muốn nguyên sơ khi sutratma được nối lại với ba trung tâm lực của thể xác bên hộp sọ - tuyến tùng quả, tuyến yên và bí huyệt hành tủy. Theo huyền linh học, sự liên lạc quan trọng nhất là việc tiến nhập của sutratma vào bí huyệt ở đỉnh đầu, mà qua đó sự sống của thể dĩ thái triệt thoái vào lúc từ trần. Đây là điểm vô cùng quan trọng. Vào năm lên bảy tuổi, “tuyến”(“thread”) của sự sống nơi đó tự phân chia thành ba nhánh, đến tận ba bí huyệt. Việc nhận biết về sự kiện này sau rốt sẽ chứng tỏ có nhiều lợi ích cho các nhà khoa học. Một số lớn trường hợp đần độn, hay là sự phát triển bị chận lại sẽ được tìm ra có cội nguồn của nó trong việc tiếp xúc dĩ thái với ba bí huyệt này. Theo sát nghĩa, lưới dĩ thái là mạng lưới tinh tế với các tuyến lửa tự trải rộng trên bí huyệt và tạo thành một vùng có các kích cỡ khá lớn. Nó tách biệt hai thể, thể cảm dục và xác thân. Một khu vực tương ứng giống như vậy sẽ được tìm thấy trong thái dương hệ. Các vũ trụ lực phải vượt qua vùng đó để đến các hành tinh hệ khác nhau.
Các nhóm elemental của cõi vật chất trọng trược được đưa vào hoạt động bởi các thần kiến tạo, gồm ba nhóm:
a. Các elementals thuộc chất hơi.
b. Các elementals thuộc chất lỏng.
c. Các elementals thuộc chất đặc hoàn toàn.
Một nhóm tự liên kết với các vận hà lửa, với các Lửa của cơ thể con người và với các chất hơi khác nhau có bên trong phạm vi con người. Một nhóm khác được nhìn thấy đang làm
945 việc liên quan với hệ tuần hoàn và với mọi chất lỏng (liquids), các chất dịch (juices) và các thứ nước (waters) của cơ thể; trong khi nhóm thứ ba phần lớn có liên quan với cấu trúc của bộ xương (frame), qua sự chia lô chính xác (right apportioning) của các chất khoáng và chất hóa học. Một ẩn ngôn liên quan với thuốc men được tìm thấy nơi đây; theo huyền linh học, chính xác là chỉ vì các thiên thần chất lỏng và các tinh linh chất lỏng có liên quan chặt chẽ với giới thực vật và cả hai có liên quan với cõi của các xúc cảm, tức là thể lỏng của Thượng Đế, cũng thế các bệnh của con người có ảnh hưởng đến hệ tuần hoàn, thận, bọng đái và việc làm trơn các khớp xương, sẽ tìm được Cách Chữa Trị bằng các thành phần thực vật và nhất là trong việc điều chỉnh đúng bản chất tình cảm.
Nhiều ảnh hưởng khác hơn là các ảnh hưởng được ghi nhận ở trên phải được cứu xét khi đề tài về công việc của các thần kiến tạo này đối với cơ thể con người được bàn luận đến. Không những chúng bị tác động bởi:
a. Nốt (note) của con người,
b. Sắc thái đưa ra của các thần thừa hành việc truyền đạt,
c. Các thần thừa hành nghiệp quả,
mà các ảnh hưởng đó còn đến theo:
d. Rung động và karma của nhóm vốn sẽ lan tràn vào một nhóm các tác lực và các thần kiến tạo khác, như thế tác động đến nhiều thể của con người,
e. Karma của nhân loại, một mở rộng của phần trên,
f. Các mãnh lực tác động vào hành tinh từ một hệ hành tinh khác, hoặc qua việc tạo thành một tam giác của thái dương hệ,
g. Một tam giác lực vũ trụ thuộc loại đặc biệt, nó có thể đưa vào các thực thể và các năng lượng của bất cứ hành tinh hệ đặc biệt nào vốn gắn liền với karma của Hành Tinh Thượng Đế.
Do đó, rõ ràng là đối với đạo sinh chủ đề này phức tạp biết bao và chính xác biết bao mỗi người là hậu quả của thần
946 lực thuộc loại nào đó – trước nhất thuộc Ego, nhưng cũng thuộc hành tinh và ngay cả thuộc thái dương hệ nữa. Tuy nhiên, ngoài ra, không bao giờ có một ai bị đặt vào các hoàn cảnh không thể vượt qua được, một khi người ấy đã đạt đến điểm mà y đã sáng suốt đặt chính mình bên phía tiến hóa hay là phía của Thượng Đế. Trước khi có được việc đó, y có thể và sẽ bị cuốn đi bởi những cuồng phong của hoàn cảnh; sức ép đối với karma của tập thể và của nhân loại sẽ thúc ép y vào các tình huống cần cho tiến trình đánh thức y đi vào các tiềm năng có sẵn của chính y. Khi mà chính y trở thành kẻ kiến tạo có ý thức, tìm cách kiềm chế các lực và các nhà kiến tạo thuộc bản chất thấp của y và tạo ra Thánh Điện Solomon, bấy giờ y không còn lệ thuộc vào các tình trạng trước kia nữa. Y trở thành kẻ cai quản, kẻ kiến tạo, và kẻ truyền chuyển, cho đến lúc y hợp nhất được với Solar Angels và công cuộc tiến hóa của nhân loại được hoàn tất.
Những gì được nói ở trên còn rất phiến diện, tuy nhiên đó lại là cái truyền đạt được vốn có ý nghĩa sâu xa cho con người vào lúc này. Nhiều điều cần được suy đoán và nhiều điều nữa phải được đạt tới theo Định Luật Tương Ứng. Luôn luôn nhớ rằng ý niệm căn bản của chúng ta là ý niệm về năng lượng của Lửa (fiery energy, hỏa năng), của các trung tâm lực được phát khởi và được giữ trong rung động linh hoạt, bởi sự rung động của các trung tâm lực còn vĩ đại hơn nữa. Mọi hình hài được kiến tạo bằng các nguyên tử lửa (fiery atoms), hay là các sự sống mang năng lượng (energetic lives), qua tác lực của các sự sống vĩ đại hơn và được giữ dưới hình thức cố kết bên trong các vỏ bọc (sheaths) còn vĩ đại hơn, - vỏ bọc lớn đó so với vỏ bọc nhỏ hơn giống như đại thiên địa so với tiểu thiên địa. Tất cả các nhóm sinh linh kiến tạo này có thể được chia thành ba nhóm đơn vị năng lượng, và bản chất của chúng được suy diễn từ các câu :
1. Các nhóm sinh linh được làm linh hoạt bằng năng lượng năng động.
2. Các nhóm sinh linh được làm linh hoạt bằng năng lượng bức xạ.
3. Các nhóm sinh linh được làm linh hoạt bằng năng lượng nguyên tử.
Các sinh linh này lại là toàn bộ ba loại lửa: Lửa điện, Lửa thái dương và Lửa do ma sát. Trình bày theo cõi hồng trần vũ
947 trụ, sự tương ứng với cõi của thái dương hệ có thể được nhận ra trong bảng liệt kê sau :
1. Năng lượng năng động … Lửa điện … Cõi phụ nguyên tử. Chất dĩ thái
(Dynamic energy) thứ nhất. Cõi Tối Đại Niết Bàn (Adi).
2. Năng lượng bức xạ … Lửa thái dương … ba cõi phụ dĩ thái vũ trụ.
(Radiant energy) Thể dĩ thái của Thượng Đế.
3. Năng lượng nguyên tử … Lửa do ma sát … ba cõi chính (planes) của ba (Atomic energy) cõi thấp (3 worlds). Thể trọng trược của Thượng Đế.
Mỗi cõi chính sẽ được thấy phản chiếu đẳng cấp này theo một cách lý thú.
III. Con người với vai trò kẻ sáng tạo trong chất trí.
1. Sáng tạo các hình tư tưởng.
Chủ đề mà chúng ta đang bàn đến hiện nay, không thể được nói tới một cách quá rõ ràng do chỗ các nguy cơ kèm theo. Trong các tiến trình sáng tạo, con người phải đối phó với các hiện tượng về điện thuộc một số loại, đối phó với những gì về cơ bản bị tác động bởi mỗi tư tưởng phát ra từ y, và đối phó với các sự sống thứ yếu này, chúng (cùng tập hợp lại) hợp thành, theo một số quan điểm, một nguồn thực sự rất nguy hại cho con người. Chúng ta có thể thể hiện những gì có thể được nói đến trong vài diễn đạt sau.
a/ Nhiều điều được thấy hiện nay có bản chất đáng buồn trong thế gian, có thể được truy nguyên trực tiếp do việc vận dụng sai trái chất trí của con người; do các ý niệm sai lầm đối với bản chất của chính vật chất, và do các tình trạng nguy hại xảy ra bởi các cố gắng sáng tạo kết hợp của con người suốt nhiều thế kỷ.
Các hiểu lầm đã nảy sinh về mục tiêu của các lưu chất mang sinh lực (vital fluids) của vũ trụ và điều này đã cộng thêm vào nỗi thống khổ, vì có một vài lệch lạc của cảm dục quang, tạo ra huyễn cảm thứ yếu hay phụ thuộc, hoặc ánh
948 sáng được phản chiếu nó làm mạnh thêm ảo lực (maya) đã được tạo ra. Hình ảnh thứ yếu này đã được tạo ra bởi chính con người trong cố gắng tiến hóa để làm quân bình các cặp đối ứng, và đã tạo ra một tình trạng cần phải được vượt qua trước khi sự quân bình huyền bí thực sự bắt đầu. Điều đó có thể được xem như toàn bộ biểu lộ lớn lao (được tạo ra chỉ bởi con người) gọi là “Kẻ Chận Ngõ” (“The Dweller on the Threshol”, Tổng Quả Báo).
Một trong các trở ngại lớn nhất trên Con Đường Hoàn Nguyên và là trở ngại mà con người hiển nhiên có trách nhiệm với nó bên trong các giới hạn huyền linh là các hình hài được làm linh hoạt này mà con người đã tạo ra kể từ giữa căn chủng Atlantis khi yếu tố trí tuệ từ từ bắt đầu nắm giữ sự quan trọng ngày càng nhiều. Tính ích kỷ, các động lực nhỏ nhen, việc đáp ứng nhanh nhạy với các xung lực tà vạy mà nhân loại phân biệt được, đã mang lại một tình trạng các sự việc không đi song song trong thái dương hệ. Một hình tư tưởng khổng lồ lượn lờ trên toàn thể nhân loại, được tạo nên bởi con người ở khắp nơi trong các thời đại, được cấp năng lượng bằng các dục vọng điên rồ và các khuynh hướng tà vạy của tất cả những gì tệ hại nhất trong bản chất của con người và được giữ cho linh hoạt bằng các thôi thúc của các dục vọng thấp kém của con người. Hình tư tưởng này đã bị phá vỡ và xua tan bởi chính con người trong phần sau của cuộc tuần hoàn này trước khi kết thúc chu kỳ, và sự tan biến của nó sẽ là sự tan biến của các thần lực dẫn tới việc tạo ra chu kỳ qui nguyên giữa các hành tinh. Chính mẫu sáng tạo vụng về này, nếu có thể được gọi thế, mà các Đấng Cao Cả đã đang bận tâm hủy diệt. Theo Luật Karma, nó phải bị xua tan bởi những người đã tạo ra nó; do đó công việc của các Chân Sư đã được xúc tiến một cách gián tiếp, và phải khoác lấy hình thức làm giác ngộ các con của nhân loại ở mức độ ngày càng tăng dần, sao cho họ có thể thấy một cách tỏ tường “Tổng Quả Báo” này của kiếp sống mới và kẻ đối kháng đang đứng giữa giới thứ tư của thiên nhiên với giới thứ năm. Bất cứ lúc nào một đứa con của nhân loại cũng đứng trên Con Đường
949 Dự Bị. Công việc của họ trở nên dễ dàng vì nó hàm ý rằng một dòng năng lượng sự sống bé nhỏ được hướng vào nhiều vận hà mới và cách xa dòng sinh năng cũ, dòng này có khuynh hướng đem sinh lực và nuôi dưỡng hình thức tệ hại, và một kẻ tấn công hiểu biết hơn có thể được huấn luyện để hợp tác trong công việc hủy diệt. Bất cứ lúc nào một điểm đạo đồ được kết nạp vào các cấp đẳng của Thánh Đoàn, điều
đó có nghĩa là một nhân viên thừa hành mới và có năng lực đang sẵn sàng để đưa xuống thần lực từ các cõi cao để giúp trong công việc làm tan rã. Với khả năng lĩnh hội về hai phương pháp của việc tấn công này (phương pháp của người tìm đạo và phương pháp của điểm đạo đồ) nhiều quan tâm thiết yếu sẽ xảy đến với đạo sinh biết thận trọng về sự tương đồng. Ở đây có chứa manh mối đối với vấn đề tà lực hiện nay và đối với khả năng tồn tại của ảnh hưởng mà trạng thái vật chất đang có đối với trạng thái tinh thần. Hình tư tưởng khổng lồ này, tức là sản phẩm của sự vô minh và ích kỷ của con người, được giữ sống động và linh hoạt theo ba cách :
Thứ nhất, bằng toàn bộ các dục vọng xấu xa, các ý định độc ác và các mục tiêu ích kỷ của mỗi con người cá biệt. Mọi tư tưởng sai lầm, khi được biểu hiện trong ngôn ngữ hay biểu lộ trong hành động trên cõi trần, làm tăng kích thước của thực thể tà vạy này.
Thứ hai, bằng việc chăm sóc vun trồng các huynh đệ bóng tối và các đại diện của cái có thể được gọi là “tà lực vũ trụ” (theo karma của huyền giai thứ tư, tức nhân loại, trong cuộc tuần hoàn thứ tư này) vốn đảm đương các trách nhiệm kỳ diệu, làm cho có thể xảy ra việc cấp sinh lực phụ của hình tư tưởng và tạo ra các tình huống với cách mô tả khốc hại đến nỗi theo thiên luật, sự kết tinh nhanh chóng xảy đến và sự hủy diệt sau cùng có thể xảy ra. Các đạo sinh nên thận trọng mở rộng ý niệm của mình về mục tiêu của tà lực và vị trí mà tà lực tham dự trong kế hoạch chung.
Thứ ba, bằng năng lượng vẫn còn tồn tại và rung động vẫn còn được cảm nhận, vốn là sự tồn tại của mãnh lực từ
950 thái dương hệ trước, và một sự phóng phát từ những gì không còn được xem như là một nguyên khí trong thái dương hệ này nữa.
Ba yếu tố này là các yếu tố chính cần được xem xét bởi các Đấng Cao Cả trong công việc của các Ngài để giúp nhân loại thoát khỏi ảnh hưởng của hình tư tưởng do tự mình đặt ra này, để hủy diệt những gì mà họ đã tạo ra và để giũ sạch chính mình ra khỏi ảo tưởng do loài ma cà rồng dai dẳng ném ra, loài này đã được nuôi dưỡng và được làm cho mạnh lên trong hàng ngàn năm qua.
Các Đấng Cao Cả đang tạo ra công việc hủy diệt này theo bốn đường lối chính :
1/ Bằng sức mạnh của các tư tưởng và các thiền định kết hợp lại của các Ngài.
2/ Bằng công việc của Thánh Đoàn trong việc huấn luyện và dạy dỗ các cá nhân, nhờ thế các cá nhân đó thoát khỏi hoạt động mù quáng của tập thể, và bắt đầu biết được các trung tâm lực và các người hợp tác trong công việc hủy diệt. Công việc này được tiến hành trên các phân cảnh trí tuệ. Đó là việc huấn luyện các đệ tử cách thiền định và tu tập trong chất trí.
3/ Bằng việc sử dụng một vài thần chú và linh từ, chúng giúp mang lại lực liên hành tinh của huyền giai thứ tư. Lúc đó, lực này được hướng vào sự sáng tạo bị lệch lạc này của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư (giới thứ tư hay giới nhân loại) và có khuynh hướng làm tăng công việc hủy diệt. Nhiều trong số công việc này được tiến hành bởi các Đấng Nirmanakayas (Ứng Thân).
4/ Bằng cách kích thích các Chân Ngã thể của con người, để cho các Solar Angels có thể xúc tiến với độ chính xác cao và thúc ép sự va chạm của các Ngài với các lunar gods (nguyệt thần). Đây là cuộc chiến thực sự ở trên trời (heaven). 951 Vì các Thần Thái Dương (1) luôn luôn xuống gần cõi trần, và trong khi giáng xuống, các Ngài đảm trách việc kiểm soát ngày càng nhiều các bản chất của nguyệt thần, tất nhiên các tư tưởng và dục vọng của con người được tinh lọc và thanh luyện. Các lửa thái dương dập tắt ánh sáng thái âm, nên bản chất thấp sau rốt được thanh lọc và chuyển hóa. Vào đúng lúc, các Solar Angels (Thái Dương Thiên Thần) chiếu diệu với tất cả vẻ huy hoàng của các Ngài qua phương tiện phàm ngã trên cõi trần, phàm ngã đó cung cấp nhiên liệu cho các ngọn Lửa. Thế là “Kẻ Chận Ngõ” đáng ghét dần dần bị diệt vì thiếu thức ăn, và tan rã vì thiếu sinh khí, con người được giải thoát.
b/ Hiện nay, nhiều người vận dụng chất trí và hướng nó vào các hình hài thuộc loại này hoặc loại khác phát xuất từ các phân cảnh

1 Các Solar Gods (Thần Thái Dương, Nhật Thần) là các “Thiên Thần Sa
Đọa” (“Fallen Angels”). GLBN II, 287.
a. Các Ngài làm ấm các bóng tối … các cơ thể con người.
b. Đến lượt các Ngài được làm ấm bằng Monad, hay Atma.
GLBN II, 116, 117.
c. Các Ngài là các Minh Triết Xà. GLBN II, 240.
d. Bản chất các Ngài là Tri Thức và Bác Ái. GLBN II, 527.
e. Các Ngài đến từ cõi trí vũ trụ. GLBN III, 540. Ego tức là Solar Angel bị giam nhốt. GLBN I, 621.
a. Nó phải tự giải thoát khỏi vòng kềm tỏa của tri giác, thuộc giác
quan.
b. Nó phải thấy bằng ánh sáng của Thực Tại duy nhất.
c. Xem GLBN II, 578.
d. Để đền bù cho nhân loại (to redeem humanity). GLBN II, 257.
e. Để phú cho (endow) nhân loại các tình thương (affections) và các
hoài bão. GLBN II, 257
f. Các Ngài trao cho nhân loại trí thông minh và tâm thức.
GLBN I, 204.
thấp, và là kết quả của dục vọng mạnh mẽ dựa trên sự thu hút của vật chất. Thể cảm dục chứ không phải thể trí, của đa số nhân loại là thể mạnh mẽ nhất, và tạo nên một rung động mạnh mẽ (do mãnh lực của hai nhóm Lunar lords) đến nỗi nhóm thực thể thái âm đang tạo ra thể trí được đưa vào một đáp ứng sẵn sàng, và toàn bộ phàm ngã tam phân tức khắc bị đẩy vào tiến trình tệ hại là nuôi dưỡng “Kẻ Chận Ngõ” đáng khiếp. Hướng năng lượng này đi theo con đường ít đối kháng nhất. Theo như chúng ta biết, một trong các công việc sơ đẳng của Chân Ngã là đặt để một nhịp điệu mới lên bóng mờ và hình ảnh của mình, tức phàm ngã, và chính sự đặt để này mà sớm hay muộn sẽ làm lệch năng lượng ra khỏi sự sáng tạo lệch lạc của con người và đưa rung động của con người điều hợp được với rung động của Thái Dương Thiên Thần của mình.
Các devas vốn là toàn bộ năng lượng của chính vật chất, không quan tâm đến hình thức gì mà các Ngài tạo thành. Các
952 Ngài đáp ứng một cách không có ý thức trách nhiệm với các dòng năng lượng, trách nhiệm của họ không phải là vấn đề có liên quan với các nguồn năng lượng. Do đó, vị trí của con người trong kế hoạch vũ trụ trở thành thiết yếu và rõ rệt hơn khi người ta nhận thức rằng một trong các trách nhiệm chính của con người là chỉ đạo các dòng năng lượng từ cõi trí, và việc sáng tạo những gì được ưa thích trên các mức độ cao siêu. Nói chung, con người đang trải qua giai đoạn phát triển tiến hóa để cho họ có thể trở nên các vị sáng tạo có ý thức trong vật chất. Điều này bao hàm :
- Một nhận thức về kế hoạch nguyên hình,
- Một hiểu biết về các thiên luật chi phối các tiến trình kiến tạo của thiên nhiên,
- Một tiến trình hữu thức có sáng tạo tự nguyện, sao cho con người hợp tác với lý tưởng, hành động theo thiên luật và tạo ra những gì phù hợp với kế hoạch của hành tinh, và những gì có khuynh hướng phát huy các lợi ích tốt đẹp nhất của nhân loại,
- Thấu hiểu về bản chất của năng lượng, và có năng lực để điều khiển các luồng năng lượng, để làm phân rã (hay là triệt thoái năng lượng ra khỏi) mọi hình hài trong ba cõi thấp,
- Hiểu rõ về bản chất các devas, cấu tạo và vị trí của họ với cương vị các thần kiến tạo, và hiểu rõ về các linh từ và thanh âm nhờ đó họ được hướng dẫn và điều khiển.
Khi các luồng năng lượng của gia đình nhân loại chỉ được hướng đến các phân cảnh Chân Ngã, khi dục vọng được chuyển hóa,và nguyên khí thứ năm được khơi hoạt, và sau cùng được soi sáng bằng nguyên khí thứ sáu, bấy giờ và chỉ bấy giờ sức mạnh của xung lực xuất phát từ các phân cảnh thấp mới tàn tạ và “Kẻ Chận Ngõ” (hiện giờ nó đang ám ảnh gia đình nhân loại) cũng tiêu tan. Nói khác đi, khi thể hồng trần trọng trược của Hành Tinh Thượng Đế (gồm có vật chất của ba cõi nỗ lực của con người) được thanh lọc hoàn toàn và được cấp sinh khí bởi mãnh lực của sự sống tuôn tràn từ các phân cảnh dĩ thái, và khi tất cả các trung tâm lực của Ngài
(được tạo thành bằng các đơn vị nhân loại) được khơi hoạt
953 đầy đủ, lúc bấy giờ các trung tâm lực này sẽ trở thành các vận hà cho thần lực trong sạch, và một thực thể như là “Kẻ Chận Ngõ” trở thành cái không thể có được.
Tất cả những gì mà tôi nói ra ở đây liên quan đến “Kẻ Chận Ngõ” này của Thánh Đạo giữa hai giới lớn, giới thứ tư và thứ năm, có thể được đạo sinh nghiên cứu với một áp dụng cá biệt. Đối diện với mỗi người tìm đạo thành tâm đi đến các Bí Pháp là hình hài được truyền sinh lực đó mà chính con người đã tạo ra và nuôi dưỡng trong quá trình của các lần luân hồi trước của con người, và nó tượng trưng cho toàn bộ các dục vọng xấu xa, các động lực và các tư tưởng không lành mạnh của con người. Qua bao thiên kỷ, nó đã rút rỉa con người, trong bao thiên kỷ nó tiêu biểu cho những gì mà con người đã không đạt được. Không những nó ảnh hưởng đến chính con người mà còn ảnh hưởng đến tất cả các đơn vị mà con người đang tiếp xúc và gặp gỡ. Khi hủy diệt nó, con người phải theo đuổi các phương pháp giống với phương pháp mà các Đấng Cao Cả noi theo và nhờ sức mạnh ngày càng tăng của Solar Angel của y, qua sức mạnh của Chân Ngã của y, và nhờ việc nghiên cứu thiên luật, hiểu biết về mãnh lực của âm thanh và kiểm soát ngôn từ, sau rốt y sẽ làm tan rã Kẻ Chận Ngõ. Cổ Luận có nói:
“Solar Angel (Dương Thần) phải dập tắt ánh sáng của các lunar angels (âm thần) và rồi vì thiếu hơi ấm và ánh sáng, những gì đã dùng để cản trở không còn nữa”.
c/ Cho đến nay chỉ một ít gia đình nhân loại làm việc một cách có
cân nhắc và một cách hiểu biết trong chất trí. Năng lượng được con người áp dụng hầu hết là kama-manasic hay là dục vọng (desire) kết hợp với hạ trí, với một sự vượt trội về sức mạnh dục vọng như người ta có thể thấy. Điều này được rút ra từ phát biểu thứ hai. Toàn bộ khuynh hướng tiến hóa là để mang lại năng lực kiến tạo trong chất trí, và hai sự việc ở trước mắt nhân loại :
Thứ nhất. Sự tan rã từ từ của các khối không xác định của chất trí-cảm hầu như đang bao quanh mọi đơn vị của gia đình nhân loại, tạo ra một tình trạng tối tăm và sương mù
954 bên trong và chung quanh mỗi hào quang. Dần dần sương mù này sẽ tan đi và con người sẽ được thấy bị bao quanh bởi các hình tư tưởng sắc nét, được đặc trưng bởi một rung động riêng biệt và được phân biệt bởi một tính chất đặc biệt gắn liền với cung của một người và do đó gắn liền với loại thể trí của y.
Thứ hai. Toàn bộ các hình tư tưởng của con người mà ngày nay đều có đặc tính con người, đang chuyển động chung quanh mỗi con người như các hành tinh chuyển động (vibrate) quanh mặt trời, sẽ có khuynh hướng tiến gần đến một trung tâm tập thể (a group centre). Năng lượng của tư tưởng mà hiện nay đang tỏa ra từ mỗi con người dưới hình thức một luồng tương đối yếu của khối bất định bằng chất trí, không có tính chất đặc biệt, không tạo thành một dạng thức rõ ràng đặc biệt nào và tồn tại dưới các hình thức sinh động này chỉ trong một thời gian ngắn, sẽ được hướng đến việc tạo ra những gì được ưa thích bởi tập thể, chớ không đơn độc hướng đến những gì được ưa thích bởi cái đơn lẻ. Phần lớn đây là nền tảng cho sự đối kháng mà mọi chủ thể suy tư có tính xây dựng và những người làm việc cho tập thể hay gặp phải. Luồng năng lượng mà họ phát ra, và những gì tạo ra các hình tư tưởng sinh động, đi ngược lại với luồng năng lượng của đa số con người, khơi dậy sự đối kháng, và tạm thời tạo ra hỗn độn. Những nhà hoạt động và các tư tưởng gia nổi bật của nhân loại, dưới sự hướng dẫn của Thánh Đoàn, đang chú mục vào ba sự việc:
a. Áp đặt nhịp điệu mới mẻ và cao siêu hơn lên con người.
b. Xua tan các đám mây u ám của các hình tư tưởng mập mờ chứa sinh lực một nửa đang bao quanh hành tinh chúng ta, như vậy để cho lực liên hành tinh và lực từ các phân cảnh cao của cõi trí tiến vào.
c. Khơi hoạt bên trong con người năng lực suy tưởng rõ ràng, để truyền năng lượng cho các hình tư tưởng của con người một cách chính xác và giữ trong hình hài sinh động đó các kiến trúc tư tưởng này mà nhờ đó họ có thể đạt được mục
955 tiêu của họ, và mang lại các tình trạng mong muốn trên cõi trần.
Ba mục tiêu này cần một sự hiểu biết rõ ràng trong số các chủ thể suy tưởng và các kẻ phụng sự, về mãnh lực của tư tưởng; về phương hướng của các dòng tư tưởng, về khoa học của việc kiến tạo tư tưởng, về việc vận dụng theo thiên luật và đẳng cấp của chất trí và về tiến trình biểu lộ tư tưởng qua hai yếu tố âm thanh và cách làm cho sống động. Điều đó cũng bao hàm năng lực làm tiêu tán hoặc làm cho không hiệu quả mọi xung lực phát sinh từ phàm ngã vốn thuộc về một trạng thái tập trung và thuần túy cá nhân, và năng lực hoạt động dưới hình thức tập thể, mỗi tư tưởng được đưa ra dựa vào nhiệm vụ rõ rệt là gia thêm phần đóng góp (quota) về năng lượng và vật chất cho một dòng duy nhất nào đó có tính đặc thù và được biết rõ. Điểm cuối cùng này rất quan trọng, vì không một kẻ phụng sự nhân loại nào trở thành một sự trợ giúp thực sự cho đến khi y (một cách thực tâm và với sự hiểu biết đầy đủ về công việc của mình) dứt khoát điều khiển năng lượng tư tưởng của mình hướng vào một vận hà phụng sự đặc biệt nào đó cho nhân loại.
d/ Do đó, trong mọi việc kiến tạo tư tưởng thuộc đẳng cấp cao,
con người có nhiều điều cần làm có thể liệt kê như sau:
Thứ nhất, thanh lọc các dục vọng thấp kém của họ sao cho họ có thể thấy một cách minh bạch theo ý nghĩa huyền linh. Không một ai có được cái nhìn sáng suốt nếu người đó bị ám ảnh với các nhu cầu, các hoạt động và các lợi lộc của riêng mình, và không biết đến những gì cao siêu và thuộc hoạt động tập thể. Cái nhìn sáng suốt này đem lại một năng lực, ngay cả nếu lúc đầu không hiểu biết, đọc được các tiên thiên ký ảnh (akashic records), và nhờ thế xác định được điểm khởi đầu cho các xung lực tư tưởng mới mẻ đang đi đến, một năng lực để bỏ qua tư lợi trong lợi ích tập thể, nhờ thế hợp tác với thiên cơ, và một năng lực giúp cho y bắt đầu biết đến chủ điểm của nhân loại, đồng thời cũng biết đến “tiếng kêu của nhân loại”.
Kế đến, đạt được cách kiềm chế thể trí. Điều này có liên
956 quan đến một vài sự việc quan trọng: Hiểu rõ về bản chất của thể trí và bộ óc qua sự định trí, hiểu rõ về mối liên hệ vốn hiện hữu giữa bộ óc xác thịt với Con Người, tức Chủ Thể Suy Tưởng thực sự trên cõi trần, một khả năng được phát triển từ từ một khi thể trí được đưa vào sự kiểm soát nhờ định trí, đến thiền định theo ý nghĩa huyền linh, và như vậy mang lại qua thiên cơ từ các phân cảnh cao, xác định được phần đóng góp của cá nhân trong thiên cơ, và kế đó hợp tác trong công việc của một nhóm các Đấng Nirmanakayas riêng biệt. Điều này được nối tiếp bằng việc xem xét các luật về năng lượng. Con người tìm ra cách tạo nên một hình tư tưởng có tính chất và sắc độ đặc biệt, để kích hoạt nó với sự sống riêng của mình, và thế là có được – trên các phân cảnh trí tuệ - một sáng tạo nhỏ, đứa con của ý chí mà y có thể sử dụng như một sứ giả, hoặc là như một phương tiện để biểu lộ một ý tưởng. Các đạo sinh sẽ hành động có hiệu quả khi xem xét các điểm này một cách thận trọng, nếu họ tìm cách trở thành những người hành động (operators) có ý thức.
Sau cùng, nhờ tạo được một hình tư tưởng, việc kế tiếp mà kẻ phụng sự nhân loại phải học là làm cách nào đưa hình tư tưởng đó vào nhiệm vụ của nó, bất luận nhiệm vụ đó có thể là gì, duy trì nó bằng năng lượng sinh động của chính mình dưới hình thức đúng của nó, giữ cho nó rung động theo mức độ riêng của nó, và sau rốt hủy diệt nó khi nó đã làm tròn nhiệm vụ. Một người bậc trung thường là nạn nhân của các hình tư tưởng của chính mình. Y tạo ra chúng, nhưng không đủ mạnh để đưa chúng ra đảm đương công việc của chúng, cũng không có đủ hiểu biết để đánh tan chúng khi cần. Điều này đã mang lại đám sương mù dày đặc xoáy vòng có các dạng thức bán hình hài (half-formed), linh-hoạt một nửa (semi-vitalised) mà 85% nhân loại bị bao vây trong đó.
Trong công việc của mình với vai trò kẻ tạo ra tư tưởng, con người đã lộ ra các đặc điểm của Thượng Đế, vị Đại Kiến Trúc Sư hay là Đấng Tạo Lập vũ trụ. Con người đã đi song song với công việc của Ngài như Kẻ nhận ý tưởng.
Kẻ khoác (clothes) vật chất cho ý tưởng.
957 Kẻ đem năng lượng cho ý tưởng, và như thế giúp cho hình hài duy trì đường nét của nó và thi hành nhiệm vụ của nó.
Kẻ – trong thời gian và không gian – nhờ ham muốn và ưa thích, điều khiển hình tư tưởng đó, liên tục đưa sinh lực cho nó, cho đến khi mục tiêu được đạt tới.
Kẻ mà, khi mục tiêu ưa thích đã hoàn thành, sẽ hủy diệt hoặc làm tan rã hình tư tưởng bằng cách rút năng lượng của mình ra (theo huyền linh học là “sự chú ý bị thu hồi” hay là “mắt không còn đặt vào nữa”), để cho các sự sống thứ yếu (sự sống đã tạo ra hình hài ưa thích) tan biến và trở về kho chứa chung của thần chất.
Thế nên, trong mọi công trình sáng tạo bằng chất trí, con người cũng được xem như là Tam Vị Nhất Thể (Trinity) đang hoạt động; con người là kẻ sáng tạo, bảo tồn và là kẻ hủy diệt.
e/ Trong mọi công trình huyền linh bằng chất trí vốn phải hiện ra trên cõi trần, và như vậy đạt được biểu lộ ngoại cảnh, con người phải hoạt động dưới hình thức một đơn vị. Do đó, điều này hàm ý năng lực của phàm ngã tam phân phải được xem nhẹ hơn là Ego, thế nên ý chí mạnh mẽ của Ego có thể được áp đặt vào bộ óc xác thịt.
Phương pháp của con người trên cõi trần, tức là kẻ đã lao vào công việc hữu thức trong chất trí, cần phải được xét theo hai phân chi: một là tiến trình khởi đầu của sự chỉnh hợp với Ego, sao cho kế hoạch, mục tiêu và cách thành tựu có thể được ghi vào bộ óc xác thân, và kế đó tiến trình phụ thuộc mà trong đó con người, khi vận dụng bộ óc phàm trần một cách hữu thức, tiếp tục xúc tiến kế hoạch, tạo ra qua ý chí và mục tiêu, hình hài cần thiết, và lúc đó, nhờ đã tạo ra và cấp năng lượng cho hình hài, “giữ con mắt của mình trên hình hài đó”. Nói theo huyền linh học, đây là chân lý quan trọng ở sau mọi tiến trình đem lại năng lượng. “Con mắt của Chúa” được nói đến nhiều trong Thánh Kinh Cơ Đốc, và được hiểu về mặt huyền bí, con mắt là những gì đem lại sức mạnh cho kẻ công bộc của nó, tức là hình tư tưởng. Các nhà khoa học đang bắt
958 đầu quan tâm đến sức mạnh của mắt người, và năng lực kiểm soát và nhận thức đó, được nhìn thấy ở bất cứ nơi nào hiện đang có được cách giải thích theo khoa học và theo huyền bí học của nó khi nó được nghiên cứu như một dụng cụ của năng lượng mở đầu.
Do đó, hiển nhiên một hình tư tưởng là kết quả của hai loại năng lượng:
Trong trường hợp thứ nhất, đó là năng lượng phát xuất từ Ego trên các phân cảnh trừu tượng.
Trong trường hợp thứ hai, đó là năng lượng xuất phát từ con người trên cõi trần qua phương tiện bộ óc.
Những người đó không biết rằng, theo qui luật chung, yếu tố thứ nhất là cái chịu trách nhiệm cho đa số những gì xấu xa. Khi “Khoa Học về Bản Ngã“ có được các tỉ lệ đúng, con người sẽ trở nên thận trọng để nhận biết các xung lực của Chân Ngã trong mọi tiến trình tư tưởng và vận dụng năng lượng Chân Ngã xác thực trước khi họ bắt đầu vận dụng thần chất, và kiến tạo các hình hài với các sự sống thiên thần (deva lives).
2. Tạo hình tư tưởng trong ba cõi thấp.
Tôi xin nói thêm vài lời về đề tài con người với vai trò Kẻ Sáng Tạo trong chất trí. Các lời này được gửi cho tất cả các đạo sinh nào mà – nhờ năng lực định trí của họ - đã phát triển được một mức độ kiểm soát tư tưởng nào đó, và kẻ nào muốn hiểu tiến trình sáng tạo một cách chính xác và khoa học hơn. Do đó chúng ta sẽ xem xét hai yếu tố trong tiến trình tạo hình tư tưởng:
a. Yếu tố chỉnh hợp với Ego (Alignment: Xem Thư về Tham Thiền Huyền Linh, trang 1 – 7).
b. Tiến trình tạo ấn tượng, tức ý muốn của Chân Ngã, lên bộ óc xác thịt, hoặc là (nói cách khác) cách vận dụng ban đầu của năng lượng Chân Ngã.
959 Chúng ta hãy xét từng điểm một:
a. Chỉnh hợp với Chân Ngã. Như chúng ta biết, điều này chỉ có thể xảy ra với người đã đạt đến Con Đường Dự Bị, hoặc là một mức độ tiến hóa rất rõ rệt nào đó. Qua sự hiểu biết và thực hành, quyền năng sẽ đạt được khi sử dụng một cách tự động và khoa học sutratma (tức là vận hà, channel) như một phương tiện tiếp xúc. Khi năng lực này được gia thêm vào năng lực vận dụng dễ dàng antaskarana (tức là nhịp cầu giữa Triad với phàm ngã) lúc đó chúng ta có được tác nhân thừa hành mạnh mẽ của Thánh Đoàn trên cõi trần. Chúng ta có thể khái quát hóa theo cách thức sau đây đối với các giai đoạn tăng trưởng và năng lực theo sau đó để trở thành tác nhân với các sức mạnh luôn tăng thêm, khai thác các nguồn năng lượng năng động trong ba cõi thấp.
Các hạng nhân loại thấp kém dùng sutratma (sinh mệnh tuyến) khi tuyến này đi qua thể dĩ thái.
Kẻ thường nhân vận dụng hầu như toàn thể mọi phần của sutratma đang đi qua cõi cảm dục. Các phản ứng của họ phần lớn được dựa vào dục vọng và thuộc về tình cảm.
Những người có trí tuệ (intellectual men) dùng sutratma khi nó đi qua các phân cảnh thấp của cõi trí, xuyên qua cõi cảm dục đến cõi trần theo hai chặng đường. Các hoạt động của họ được kích hoạt bằng trí chớ không bằng ham muốn như trong các trường hợp trước.
Những người tìm đạo trên cõi trần dùng sutratma khi nó đi qua hai cõi phụ thấp của các cõi phụ trừu tượng của cõi trí, và đang bắt đầu từ từ tạo ra antaskarana, hay là nhịp cầu giữa Tam Thượng Thể với phàm nhân. Sức mạnh của Ego có thể bắt đầu làm cho chính nó được cảm nhận.
Các ứng viên điểm đạo (Applicants for initiation) và các điểm đạo đồ lên đến điểm đạo ba dùng cả sutratma lẫn antaskarana, vận dụng chúng như một đơn vị. Sức mạnh của
960 Triad bắt đầu tuôn đổ qua, nhờ thế kích hoạt mọi hoạt động của con người trên cõi trần và đưa sinh lực với mức độ luôn luôn tăng lên cho các hình tư tưởng của con người. Bí quyết cho việc tạo thành Mayavirupa (huyễn thể) nằm trong việc hiểu đúng tiến trình.
Nếu đạo sinh muốn thận trọng nghiên cứu các biến thái nói trên, nhiều ánh sáng sẽ được đưa ra dựa vào tính chất của năng lượng được dùng trong việc tạo hình tư tưởng.
Trong các giai đoạn chỉnh hợp ban đầu, điều đó phải xảy ra nhờ định trí và thiền định. Về sau, khi sự nhịp nhàng đã được tạo ra trong các thể, và sự thanh luyện các thể đã được theo đuổi một cách nghiêm nhặt, hoạt động song đôi sẽ thực sự xảy ra lập tức, và đạo sinh lúc đó có thể chuyển sự chú tâm của mình vào công việc kiến tạo và kích hoạt đầy hiểu biết; lúc đó mức độ định trí của y sẽ không bị giao cho việc đạt được sự chỉnh hợp nữa.
Việc chỉnh hợp chính xác bao hàm,
Tĩnh lặng của thể trí, hay rung động ổn định,
Ổn định của thể tình cảm, đưa đến kết quả hình ảnh trong sáng,
Thăng bằng của thể dĩ thái, tạo ra một tình trạng trong bí huyệt đầu, tình trạng này giúp cho việc áp dụng trực tiếp sức mạnh đến bộ óc phàm trần xuyên qua bí huyệt đó.
b. Ấn tượng của bộ óc phàm trần. Việc nhận thức chính xác của não bộ xác thịt về cái mà Ego đang tìm cách truyền đạt liên quan đến công việc cần làm chỉ có thể xảy ra khi hiểu rõ được hai điều:
Chỉnh hợp trực tiếp.
Truyền năng lượng Chân Ngã hay ý chí đến một trong số ba bí huyệt hồng trần trong đầu:
Tuyến tùng quả (tuyến giống hình quả thông – ND).
Tuyến yên (tuyến giống hình yên ngựa – ND).
Bí huyệt hành tủy, hay trung tâm thần kinh ở đỉnh xương sống, nơi mà hộp sọ và cột sống gần như tiếp xúc nhau. Khi
962 đám thần kinh này phát triển đầy đủ, nó tạo thành một trung tâm giao thông giữa năng lượng sinh động của cột sống (luồng hỏa xà) với năng lượng của hai bí huyệt trên đầu đã kể ở trên. Đó là sự tương ứng hồng trần với antaskarana trên các cõi phụ cao.
Tuyến yên (trong tất cả các trường hợp phát triển đúng bình thường) tạo thành trung tâm nhận luồng sinh lực tam phân tuôn đổ qua sutratma từ cõi hạ trí, cảm dục và cõi dĩ thái. Tuyến tùng quả bắt đầu hoạt động khi tác động này được làm mạnh thêm bằng việc tuôn đổ năng lượng từ Ego ở trên cõi riêng của nó. Khi antaskarana ở trong tiến trình sử dụng thì bí huyệt hành tủy cũng được dùng đến, và ba bí huyệt vật chất trong đầu bắt đầu hoạt động đồng loạt, thế là tạo thành một loại tam giác. Vào lúc đạt được Điểm Đạo thứ ba, tam giác này được khơi hoạt đầy đủ và luồng lửa (hay năng lượng) được luân lưu tự do.
Do đó, hiển nhiên là năng lực của con người để sáng tạo trong chất trí tăng lên khi người ấy bước trên Thánh Đạo. Y cần nhớ rằng (theo quan điểm mà chúng ta đang nghiên cứu) chúng ta không xét năng lực của Chân Ngã khi tạo ra hình hài trên cõi trí, mà là xét năng lực của con người cõi trần để tạo ra trên cõi trí các hiện thể dành cho năng lượng mà – khi được khởi động bằng ý chí hữu thức của y – sẽ tạo ra một vài hiệu quả đặc biệt trên cõi trần. Điều này xảy ra do năng lượng Chân Ngã chuyển xuống sutratma đến não bộ xác thân, và truyền trở lại cõi trí, cộng thêm hoặc trừ đi những gì đã thu lượm hoặc đã mất đi trong tiến trình. Vị Adept chân chính, nhờ hiểu biết, mà bảo tồn được mọi năng lượng trong khi ở trong tiến trình truyền chuyển, và tăng thêm nó bằng năng lượng tiếp xúc được. Do đó, chính năng lượng của ý chí, cộng thêm năng lượng của dục vọng, được cung cấp bởi năng lượng của bộ óc xác thịt. Do đó, theo sát nghĩa, đó là một tóm tắt tiến trình sáng tạo của Thượng Đế (Godhead), vốn là năng
963 lượng của Ba Ngôi hợp nhất và được xét theo quan điểm của cõi trần. Đó là sự nhất quán của ba luồng hỏa trong con người, thật sự chính là:
a. Loại lửa tinh thần, hay lửa điện mà bất cứ Ego đặc biệt nào đang biểu hiện (tương đối ít trước cuộc điểm đạo ba) hay có thể truyền chuyển, được kết hợp với,
b. Loại lửa của Solar Angel (lửa thái dương) hay là trạng thái Chân Ngã mà Ego có thể truyền đi. Lửa này chỉ có ít nơi người trung bình, có nhiều nơi người ở trên đường dự bị, và được tuôn xuống đầy đủ vào lúc đạt được Điểm Đạo ba.
c. Loại lửa vật chất dưới trạng thái được thanh luyện của nó vốn có thể nhập vào. Lửa này tùy thuộc vào sự tinh khiết của ba thể, và trong trường hợp của người tiến hóa cao chính là hỏa xà khi nó tăng thêm độ sáng do hai lửa kia tạo ra.
Do đó, khi sự chỉnh hợp được hiệu chỉnh các bí huyệt ở đầu được khơi hoạt, con người có thể trở thành một tác nhân sáng tạo hữu thức trong chất trí.

IV. Con người và các Thần Lửa hay Thần Kiến Tạo.
Trong đoạn này chúng ta sẽ xét có phần chi tiết hơn đoạn trước, vì nó liên hệ đến nhiều giá trị thực tiễn hiện có với con người. Điều này sẽ được thấy rõ đặc biệt là khi chúng ta nghiên cứu về các hiệu quả của ngôn từ và ý nghĩa huyền bí của ngôn từ được thốt ra.
1. Trạng thái ý chí và sự sáng tạo.
Trong một phần trước, chúng ta bàn ít nhiều về sự truyền đạt ý chí của Ego cho bộ óc xác thân, và chúng ta đã thấy làm thế nào mà chỉ trong những người (do mở mang tiến hóa) có được sutratma và antaskarana được liên kết lại, đồng thời họ có được ba bí huyệt nơi đầu ít nhiều được khơi hoạt, nên ý chí của Chân Ngã có thể truyền đi. Trong các trường hợp khác, chẳng hạn như hạng thường nhân và kẻ ít phát triển, ý
964 định có ảnh hưởng đến bộ óc hồng trần được phát ra từ các cõi phụ cảm dục hoặc các cõi phụ thấp của cõi trí, và do đó rất có thể là xung lực của Lunar Lord (Nguyệt Thần) nào đó, dù là thuộc đẳng cấp cao hơn là ý chí thiêng liêng của Solar Angel (Nhật Thần), vốn là con người thực sự.
a/ Tình trạng của Nhà Thuật Sĩ (Magician). Thật hữu ích mà nhớ rằng khi các bí huyệt vật chất trong đầu được khơi hoạt (nhờ sự chỉnh hợp của các trung tâm lực dĩ thái) chúng ta có trạng thái thấp nhất của ảnh hưởng chân ngã. Do ba trung tâm lực này, trên Con Đường Dự Bị và mãi đến Cuộc Điểm Đạo thứ ba, con người điều khiển và kiềm chế được thể thấp (sheath) của mình, và từ nơi chúng, sự giác ngộ lan truyền đi, chính sự giác ngộ này mới soi sáng sự sống cõi trần. Vào lúc đạt đến Điểm Đạo ba, tam giác bên trong ở vào tiến trình truyền chuyển tuần hoàn hoàn mãn, và toàn bộ sự sống của phàm ngã chịu lệ thuộc vào ý chí của Chân Ngã. “Ngôi Sao thu hút ánh sáng của mặt trăng, để cho các tia sáng Mặt Trời có thể được phản chiếu trở lại”, đó là cách diễn tả huyền bí chân lý liên quan đến trình độ tiến hóa này. Ở đây cũng có thể là hữu ích khi nêu ra tình trạng của các trung tâm lực dĩ thái trong tiến trình kiểm soát trực tiếp của thái dương này.
Trước khi ba bí huyệt xác thân ở đầu được khơi hoạt, phần lớn con người bị lệ thuộc vào mãnh lực tuôn chảy qua bốn bí huyệt dĩ thái nhỏ; sau đó ba bí huyệt lớn – đầu, tim và cổ họng – bắt đầu rung động, dần dần đảm nhiệm một phạm vi hoạt động lớn hơn, cho đến khi năng lượng của chúng có khuynh hướng làm tiêu tán năng lượng của các bí huyệt thấp thu hút sinh lực của chúng và làm lệch hướng sinh lực của chúng, cho đến khi ba luân xa cao đi vào hoạt động của chiều đo thứ tư đầy đủ. Khi việc này xảy ra, ba bí huyệt hồng trần ở đầu thức tỉnh ra khỏi trạng thái hôn thụy (dormancy) tiến vào hoạt động, hiệu quả được cảm thấy như sau:
a. Khi bí huyệt chính ở đầu khơi hoạt, tuyến tùng quả bắt
đầu hoạt động.
b. Khi bí huyệt tim trở nên linh hoạt đầy đủ, tuyến yên đi vào hoạt động.
965 c. Khi bí huyệt cổ họng đảm nhận đúng vị trí của nó trong diễn trình tiến hóa, bí huyệt hành tủy rung động một cách thích hợp.
Khi tam giác lực mà ba bí huyệt hồng trần này hợp thành, ở vào hiệu ứng tuần hoàn, tam giác lớn hơn được thấy đang chạy vòng; lúc đó nó trở thành “một luân xa quay trên chính nó”. Các bí huyệt dĩ thái chính yếu đang hoạt động đầy đủ và con người đến gần thời điểm giải thoát.
Trong công cuộc sáng tạo, khi được xúc tiến về mặt huyền linh, tất cả ba bí huyệt hồng trần này phải được vận dụng, và do việc xem xét vấn đề, điều sẽ trở nên rõ rệt là tại sao cần bàn đến chúng trong trình tự này.
Nhờ vào tuyến tùng quả, (1) cơ quan nhận thức tâm linh, con người xác định được ý chí và mục tiêu của Ego, và từ nơi

1 Tuyến tùng quả. Mắt thứ Ba. GLBN III, 548.
1. Mục tiêu tiến hóa để phát triển nội nhãn thông (inner vision).
2. Ý nghĩa huyền bí của mắt. GLBN III, 577.
3. “Con mắt của Taurus (Chòm Sao Thiên Ngưu), Sao Ngưu Lang (the Bull)” (Đối chiếu với mắt bò – bull’s eye).
Chòm Sao Taurus được gọi là Mẹ của Thiên Khải và là chủ thể diễn dịch (interpreter) Tiếng Nói thiêng liêng. GLBN I, 721.
4. Các cơ quan của nội nhãn thông:
a/ Cơ quan ngoài … Tuyến tùng quả … bằng vật chất. b/ Cơ quan trong … mắt thứ ba … bằng dĩ thái.
Ghi chú: Các đạo sinh nên cẩn thận phân biệt giữa mắt thứ ba với tuyến tùng quả - Xem GLBN II, 308. “Mắt thứ ba đã chết và không còn hoạt động nữa”. Nó đã bỏ lại sau một chứng nhân cho sự hiện hữu của nó trong tuyến tùng quả.
5. Tuyến tùng quả là một khối nhỏ giống hình hạt đậu chứa chất thần kinh màu xám dính liền vào phía sau của thất thứ ba.
6. Tuyến yên có vị thế so với tuyến tùng quả giống như manas có vị thế so với Buddhi, hay là trí tuệ (mind) so với minh triết. GLBN III, 504.
966 đó, y rút được năng lượng cần thiết từ các phân cảnh cao, xuyên qua bí huyệt đầu và sutratma (sinh mệnh tuyến).
Nhờ vào tuyến tùng quả, yếu tố thứ hai của dục vọng hay của năng lượng tạo hình, trở nên sẵn sàng để dùng, và theo định luật hút, y có thể đúc nắn và kiến tạo trong thần chất.

7. Tuyến tùng quả đạt đến mức phát triển cao nhất của nó tương xứng với mức phát triển thể chất thấp nhất. GLBN II, 308, 313.
8. Con mắt thứ ba tồn tại trong chất dĩ thái.
a/ Đàng trước đầu. b/ Ngang với hai mắt.
9. Đó là một trung tâm năng lượng được tạo bởi tam giác lực gồm:
a/ Tuyến tùng quả.
b/ Tuyến yên. c/ Bí huyệt hành tủy.
10. Con mắt được khai mở hay là con mắt thứ ba không đưa tới nhãn thông trực tiếp mà là cơ quan qua đó tri thức trực tiếp và chắc chắn được thu nhận. GLBN I, 77.
a/ Điểm đạo đồ hướng con mắt về phía bản thể (essence, cốt lõi) của
sự vật.
b/ Con mắt thứ ba phải đạt được bằng khổ hạnh trước khi con người thành một cao đồ/Chân Sư (adept). GLBN II 651.
11. Đạo sinh huyền linh học nên biết rằng mắt thứ ba nối liền bền bĩ với karma. GLBN II, 312, ghi chú. GLBN II, 316, 320.
a/ Do quá khứ thời Atlantis của nó, căn chủng thứ năm đang trang
trải các nhân của căn chủng thứ tư.
b/ Vì nó tiết lộ những gì thuộc về quá khứ của nó. GLBN II, 297.
12. Đệ tam nhãn là gương soi (mirror) của Linh hồn. GLBN II, 312.
13. Đối với con mắt tâm linh, các Thần (Gods) không còn là khái niệm trừu tượng hơn là linh hồn và thể xác chúng ta đối với chúng ta nữa.
GLBN I, 694.
a/ Nội nhãn có thể nhìn xuyên qua bức màn vật chất. GLBN I, 694.
b/ Mắt tâm linh (spiritual eye) khám phá các trạng thái siêu giác quan. GLBN II, 561.
14. Nơi người tâm linh được sinh trở lại, con mắt thứ ba vẫn linh hoạt.
GLBN II, 458.
Khi trung tâm lực hành tủy, nơi tổng hợp những gì có thể được gọi là năng lượng thần kinh, được khơi hoạt, đối với y, nó trở nên có thể làm hiện ra và kích hoạt hình hài được ưa thích mà, do năng lượng thu hút, y ở trong tiến trình kiến tạo.
Do đó, điều hiển nhiên là, tại sao chính vì đó mà rất ít người có bao giờ tạo ra các hình tư tưởng, có cấu tạo bền bĩ có lợi cho nhân loại, và cũng là lý do giải thích tại sao mà Các Đấng Cao Cả (khi các Ngài hoạt động qua các đệ tử của các Ngài) bị bắt buộc phải làm việc với các nhóm, vì ít khi có thể tìm được một người nam hoặc nữ có đủ ba trung tâm lực thuộc xác thân ở trong đầu được linh hoạt cùng lúc. Các Ngài thường phải làm việc với một nhóm lớn trước khi có phần đóng góp năng lượng được cung cấp cho Các Ngài để cho việc hoàn thành những mục tiêu của Các Ngài đạt được những gì cần thiết.
Điều cũng sẽ hiển nhiên là năng lực của đệ tử dùng để phụng sự cho nhân loại, phần lớn tùy thuộc ba điều:
967 a/ Tình trạng của các thể của đệ tử và sự chỉnh hợp với Chân Ngã của các thể đó. b/ Tình trạng hoạt động hiện có trong các trung tâm lực
thuộc xác thân ở trong đầu.
c/ Hoạt động tuần hoàn của việc truyền thần lực trong
tam giác.
Các yếu tố này lại tùy thuộc vào các yếu tố khác, trong số đó có thể liệt kê:
1. Năng lực của đệ tử khi thiền định.
2. Khả năng mà y lộ ra để mang lại thật chính xác từ các phân cảnh tinh anh, các kế hoạch và các mục tiêu mà Ego của đệ tử nhận biết được.
3. Sự tinh khiết của các động lực của đệ tử.
4. Năng lực của đệ tử để “giữ một trạng thái thiền định”, và trong khi ở vào trạng thái đó, y bắt đầu tạo hình cho ý tưởng của y và như vậy thể hiện được kế hoạch của Ego của y.
5. Số năng lượng mà sau đó y có thể tuôn đổ vào hình tư tưởng của y và như vậy đem đến cho nó một giai đoạn hiện tồn, hay là “ngày của Brahma” vô cùng nhỏ của nó.
Các yếu tố phụ này lại tùy thuộc vào: a/ Vị trí của y trên nấc thang tiến hóa. b/ Tình trạng các thể của y. c/ Tình trạng nghiệp quả của y. d/ Độ mảnh mai của lưới dĩ thái.
e/ Phẩm chất của thể xác của y, và sự tinh tế tương đối của
nó.
Ở đây, cần cảnh báo nhà nghiên cứu chống lại sự lầm lẫn khi tạo ra bất cứ qui luật cứng rắn hoặc vững bền nào liên quan với trình tự phát triển của các trung tâm lực thuộc xác thân ở trong đầu và việc đem lại sinh lực cho các trung tâm lực đó. Tiến trình này vốn gắn liền với nhiều sự việc, như là Cung mà Chân Thần có thể thuộc về, và bản chất của sự phát triển trong các lần luân hồi đã qua. Trong mọi phần hành của sự sống hợp nhất của nó, bản thể (nature, thiên nhiên) đi song song với các nỗ lực của nó và trùng lắp lên các diễn tiến
968 khác nhau của nó, và việc đó cần đến một người sáng suốt có minh triết và kinh nghiệm rộng lớn để trình bày chính xác giai đoạn mà bất cứ đơn vị đặc biệt nào của gia đình nhân loại có thể trải qua. Kẻ có minh triết đều luôn luôn tự chế/cố tránh (refrains from) việc xác nhận cho đến khi y biết rõ. Giờ, chúng ta hãy xét:
b/ Tạo ra, đem lại sinh khí và kích hoạt hình tư tưởng. Do đã tạo ra một tình trạng dễ tiếp nhận, hay tình trạng nhận thức trong bộ óc xác thân của con người, Chân Ngã đã rút tỉa từ con người sự đáp ứng cần thiết, do đó tiến trình thành lập được bắt đầu.
Tiến trình đáp ứng ở cõi trần này được dựa vào – giống như mọi tiến trình khác trong thiên nhiên – sự liên hệ của các đối cực. Các trung tâm ở thể xác dễ thụ cảm với ảnh hưởng tích cực của các trung tâm lực. Não bộ hồng trần thì đáp ứng với ảnh hưởng tích cực của phàm ngã trong các giai đoạn tiến hóa trước kia, hoặc là đáp ứng với các phản ứng của vật chất của các thể thấp (lớp vỏ), ấn tượng của các Lunar Lords. Nó đáp ứng trong các giai đoạn sau đối với ảnh hưởng tích cực của Ego hay là ấn tượng của Solar Lord.
Hiển nhiên, diễn trình kiến tạo này được chia thành ba phần, nó trùng lắp lên và mang một vẻ đồng thời. Như ở trường hợp đối với đa số con người, khi đó là một tiến trình không có chủ tâm, được tạo ra bởi tác động phản xạ và phần lớn được dựa trên việc hoàn thành ham muốn, tất cả đều diễn ra rất nhanh và dẫn đến các kết quả mau chóng – các kết quả này chính là hiệu quả của việc thành tựu tùy theo năng lực của con người khi đưa sinh lực và giữ cho ý tưởng của mình ở dạng cố kết. Hầu hết các hình tư tưởng được đưa ra bởi thường nhân đều chỉ tương đối có hiệu quả, và việc đó ở trong các giới hạn lớn và chỉ có một phạm vi hạn chế. Khi con người học được cách sáng tạo một cách có chủ ý (consciously), những gì mà y đang làm qua việc cấu tạo tư tưởng, định trí và thiền định, y tiếp tục chậm chạp hơn, vì y có hai điều sơ khởi phải làm trước khi tiến trình sáng tạo có thể được tiến hành qua:
969 a/ Tiếp xúc hoặc giao tiếp với Ego hay Solar Angel.
b/ Nghiên cứu tiến trình sáng tạo và làm cho tiến trình đó dần dần phù hợp với Luật tiến hóa tự nhiên.
Tất nhiên trên đây chẳng qua chỉ là một cách khác để định rõ việc tham thiền và mục tiêu của nó mà thôi.
Về sau, khi một người trở thành chuyên gia tham thiền, công việc sáng tạo của tư tưởng tiếp diễn ngày càng nhanh hơn, cho đến khi y vượt trội hơn (trên một vòng xoắn cao hơn) hoạt động của giai đoạn không có chủ tâm trước kia.
Do đó, khởi đầu với nhận thức của ý định Chân Ngã trong bộ óc xác thịt, con người tiếp tục tạo hình cho ý tưởng của mình. Trước tiên, y bắt đầu tạo ra vật liệu cần có trên cõi trí. Chính trên cõi đó mà xung lực đem vào cho chính nó hình hài ban đầu. Trên cõi dục vọng hay cõi cảm dục, qui trình cấp sinh khí được theo đuổi ở mức độ lớn, vì độ dài của sự sống của bất luận hình tư tưởng nào (cho dù một hình tư tưởng như là thái dương hệ của chúng ta) cũng tùy thuộc vào độ bền của ham muốn và sức mạnh của dục vọng.
Trên các phân cảnh dĩ thái của cõi trần, tiến trình kết khối vật chất diễn ra; khi hiện thể vật chất có được các tỉ lệ cần thiết, hình tư tưởng đó bắt đầu tách rời khỏi hình tư tưởng vốn đem lại cho nó hình hài. Bất luận ý tưởng nào có đủ sức mạnh, tất nhiên cũng sẽ hiện thành chất đặc của cõi trần, nhưng công việc chính của kẻ sáng tạo chất đó ngưng lại khi y đã tác động với nó trên các phân cảnh trí tuệ, cảm dục và dĩ thái. Đáp ứng ở cõi vật chất thô trược có tính cách tự động và không thể tránh khỏi. Một vài ý tưởng có bản chất bao quát và hệ trọng đã phát sinh trong tâm thức của Các Đấng Dẫn Dắt nhân loại, đạt tới biểu lộ đầy đủ chỉ qua trung gian của nhiều kẻ thừa hành, và các xung lực mạnh mẽ của nhiều trí tuệ. Một vài kẻ thừa hành hoạt động một cách có chủ tâm, khi xảy ra trường hợp này, vào lúc tạo ra hình hài cần thiết; còn
970 nhiều kẻ thừa hành khác bước vào hoạt động và bổ túc sự trợ giúp của họ qua chính tính chất tiêu cực của các bản thể của
họ; họ “bị bắt buộc” phải quan tâm bất chấp chính họ, và bị “lôi cuốn vào hoạt động”, không phải qua bất cứ nhận thức trí tuệ nào hoặc “ham muốn cấp thiết” nào, mà vì lẽ đó là điều phải làm. Trong việc này có thể nhận thấy một trường hợp về năng lực của Các Đấng Cao Cả khi vận dụng các tình trạng trì trệ và tiêu cực bề ngoài (do kém phát triển), và nhờ thế tạo được các quả lành.
Ở đây chúng ta sẽ chỉ bàn đến người đang học cách kiến tạo bằng hiểu biết, và sẽ không xem xét tiến trình mà vị adept theo đuổi, hay là các cố gắng hỗn độn của kẻ ít tiến hóa. Nhờ hiểu được ý tưởng, và nhờ thận trọng phân biệt động cơ nằm bên dưới ý tưởng, như thế đảm bảo được các mục tiêu thực dụng của nó, và giá trị của nó đối với tập thể trong việc phụng sự nhân loại, con người có một số điều cần làm, để minh giải, chúng ta có thể tóm tắt trong vài diễn đạt sau:
Trước tiên, y phải giữ cho ý tưởng đủ lâu bền, để cho nó được ghi lại một cách trung thực trong bộ óc xác thân. Thường thường Ego sẽ “truyền đạt” đến bộ óc một ý niệm nào đó, một phần nào đó của kế hoạch, và tuy thế sẽ phải lặp lại diễn trình một cách liên tục suốt một thời kỳ dài trước khi có sự đáp ứng vật chất để cho Solar Angel có thể chắc chắn là việc đó được sáng suốt ghi nhận và giữ lại. Có lẽ không cần nói rằng toàn bộ tiến trình được làm cho dễ dàng phần lớn, nếu “cái bóng” (“shadow”), tức con người, theo đuổi việc tham thiền đều đặn, vun trồng thói quen nhớ tưởng hằng ngày và hằng giờ đến Chân Ngã, và trước khi đi ngủ vào ban đêm, hãy cố “duy trì việc tưởng nghĩ” để nhớ lại vào lúc thức càng nhiều càng tốt bất cứ ấn tượng nào của Chân Ngã. Khi phản ứng giữa hai yếu tố, tức Chân Ngã và bộ óc tiếp nhận ở cõi trần, được thiết lập, sự tương tác có tính chất hỗ tương, và cả hai được điều chỉnh hoặc điều hợp với nhau, giai đoạn hai được bắt đầu. Ý tưởng được hình dung ra.
971 Lúc bấy giờ, giai đoạn ấp ủ được theo đuổi, chính nó được chia thành nhiều giai đoạn khác nhau. Con người ấp ủ ý tưởng, y trầm tư về ý tưởng đó, nhờ vậy tạo ra hoạt động trong chất trí, và thu hút vào ý tưởng mầm mống của mình chất liệu cần thiết để làm lớp áo của nó. Y hình dung cho chính mình cái đường nét của hình tư tưởng, khoác cho nó bằng sắc thái, và tô vẽ nó bằng các chi tiết của nó. Do đó, người ta sẽ được chứng kiến giá trị lớn lao của một tưởng tượng thực sự và công dụng khoa học đã được sắp xếp của nó. Trí sáng tạo (imagination) có nguồn gốc thuộc về trí cảm (kama-manasic), vốn không thuần là dục vọng, cũng không thuần là trí tuệ, và là một sản phẩm thuần túy của con người, vốn được thay thế bằng trực giác trong con người hoàn hảo, và trong các Đấng Thông Tuệ cao siêu của Thiên Nhiên.
Khi ý chí con người hay là xung lực ban đầu đủ mạnh, và khi trí sáng tạo, hay là năng lực hình dung, trở nên linh hoạt đầy đủ, phần thứ hai của giai đoạn ấp ủ được bắt đầu, và việc đem sinh khí bằng dục vọng cũng được bắt đầu. Sự tương tác của xung lực trí tuệ với dục vọng tạo ra cái có thể được gọi là một rung động trong hình thức cấu tạo của ý tưởng và nó trở nên sống động. Tuy nhiên, nó vẫn còn không rõ ràng và độ thanh mảnh của nó lại lớn, nhưng nó lộ ra các dấu hiệu cấu tạo và đường nét của hình hài của nó. Các nhà nghiên cứu phải nhớ rằng toàn bộ diễn trình này đang được xúc tiến hiện nay trong giai đoạn này mà chúng ta đang xét từ bên trong não bộ. Như vậy, có một tương ứng rõ rệt với công việc của chín Sephiroth:
Ba vị lúc bắt đầu tương ứng với xung lực Chân Ngã mà trước đây chúng ta có bàn đến.
Nhóm Sephiroth thứ hai tìm thấy sự tương đồng của các Ngài trong công việc được theo đuổi trong giai đoạn mà hiện giờ chúng ta đang bàn đến, hay là xung lực của trí-dục vọng, phát ra một cách hữu thức từ bộ óc con người.
Công việc của ba nhóm cuối cùng được hoàn tất khi hình tư tưởng, vốn dĩ được khoác trong chất trí và chất cảm dục, đi vào biểu lộ ngoại cảnh trên cõi trần.
(Sephiroth: Các phân thân thiêng liêng từ Ain-Soph, tức nguyên khí đại đồng, vô ngã, tức Đấng Tuyệt Đối Vô Biên của Do Thái giáo. Thượng Đế - Ain Soph tức No-Thing - ND).
972 Giai đoạn sau trong thời kỳ ấp ủ ý tưởng được theo đuổi khi hình tư tưởng, vốn dĩ được khoác/bao phủ bằng chất trí và đã bắt đầu được truyền sinh khí bằng dục vọng, nhận vào chính nó một lớp vật liệu bằng chất cảm dục (astral matter), và vì thế có thể hoạt động trên cõi cảm dục cũng như cõi trí. Đến đây, sự tăng trưởng của nó trở nên nhanh chóng. Cần thận trọng ghi nhớ rằng diễn trình tạo lập trong chất trí tiếp diễn cùng một lúc và sự phát triển bây giờ là gấp đôi. Đến đây, nhà kiến tạo hiểu biết phải thận trọng để duy trì sự quân bình và không để cho sự tưởng tượng quá mức chiếm các tỷ lệ quá lớn. Yếu tố trí tuệ và yếu tố dục vọng phải được điều chỉnh thật đúng, nếu không người ta sẽ thấy biểu lộ quá thông thường xảy ra, đó là một ý tưởng được ôm ấp và nuôi dưỡng một cách sai trái, và như thế không thể giữ đúng vai trò của nó trong cơ tiến hóa, chỉ vì một sự méo mó lố bịch.
Hiện giờ ý tưởng đang tiến tới một giai đoạn nguy cấp, và nên được sẵn sàng chiếm giữ bằng chất liệu hồng trần (physical matter) và khoác vào chính nó một dạng thức dĩ thái (etheric form). Khi ở trên các cõi phụ dĩ thái, nó thu nhận động cơ thúc đẩy cuối cùng đó, chính động cơ này đưa đến những gì có thể được gọi là “sự kích hoạt” (“actuating”) của nó, hay là sự tiếp nhận của nó đối với xung lực cổ vũ đó vốn sẽ dẫn dắt nó đến chỗ tách ra khỏi chủ thể sáng tạo của nó, và gửi ra ngoài để khoác lấy 1. Một hình thức trọng trược
2. Một sự sống tách biệt.
Nên nhớ rằng, lúc bấy giờ hình tư tưởng đã vượt qua khỏi cõi trí, chiếm lấy cho chính nó một lớp vỏ cảm dục, và cũng đang gom vào chính nó một thể bằng chất dĩ thái. Khi nó đã đạt đến giai đoạn này, việc cấp sinh lực tiếp diễn một cách nhanh chóng, và thời điểm của sự sống riêng rẽ của nó đang được đưa đến gần.
Việc cấp sinh khí này được tiến hành một cách hữu thức bởi người – tùy theo ý định ban đầu hoặc sự thúc đẩy lúc đầu – điều khiển năng lượng của hình tư tưởng thuộc loại nào đó. Năng lượng này được điều khiển từ một trong ba bí huyệt cao, tùy theo tính chất của ý tưởng được biểu hiện, và sẽ
973 được thấy đang tuôn tràn về hướng ý tưởng đang thể hiên cụ thể một cách nhanh chóng từ bí huyệt đặc biệt có liên quan. Chúng ta đừng nên quên rằng chúng ta đang xem xét hình tư tưởng của kẻ kiến tạo có ý thức. Hình tư tưởng của đa số con người không được tiếp sinh lực từ cội nguồn nào cao như thế, mà thấy xung lực linh hoạt của chúng phát ra từ bí huyệt đan điền hoặc là từ các cơ quan còn thấp hơn nữa, đó là cơ quan sinh sản.
Chính dòng năng lượng tình cảm hay năng lượng tính dục này mới chịu trách nhiệm cho các tình trạng hỗn mang của ngày nay; sự quân bình không được duy trì, sự tương tác giữa hai và vô số các hình tư tưởng tất nhiên được tạo ra, có đẳng cấp và rung động thấp kém đang gây ra một tình trạng, nó sắp đòi hỏi mọi nỗ lực của các nhà hoạt động tinh thần để vô hiệu hóa, hóa giải và chuyển hóa. Các hình tư tưởng này, vốn dĩ ít xứng đáng với tiếp đầu ngữ “tư tưởng” (“thought”), phần lớn thuộc về dục vọng (kamic) với một sự pha trộn chất trí thuộc loại thấp nhất, chịu trách nhiệm cho đám sương mù hay lớp bao phủ có rung động hay nhịp đập nặng nề, chậm chạp vốn đang bao bọc gia đình nhân loại và đang tạo ra sai trái, tội ác và thiếu sinh khí (mụ mẫm) về trí óc. Như chúng ta biết, phần lớn con người đều an trụ (polarised) trong thể cảm dục, và các trung tâm lực thấp lại linh hoạt nhất; khi một bầu khí hoặc vùng xung quanh của hình tư tưởng có chủ âm (key) thấp và được truyền sinh lực bằng mọi hình thức thấp kém của năng lượng cảm dục được kết hợp với hình tư tưởng này, điều sẽ trở nên rõ ràng kỳ diệu biết bao chính là nhiệm vụ nâng nhân loại lên một bầu không khí trong sáng hơn, thanh khiết hơn và lành mạnh hơn, và dễ dàng biết bao đối với các trạng thái thấp kém và các ham muốn để phát triển và tăng trưởng.
Khi việc chuyển sinh khí được theo đuổi và năng lượng được tuôn đổ từ một trong các bí huyệt vào hình tư tưởng, nhà kiến tạo hữu thức bắt đầu mở rộng ảnh hưởng này ngõ hầu gởi nó ra từ y để hoàn thành nhiệm vụ của nó, bất cứ những gì có thể có, để làm cho nó “phát xạ” (“radiant”) về mặt huyền linh để cho các rung động của nó sẽ phát tán ra và làm cho chính chúng được cảm nhận, và sau cùng làm cho nó
974 có sức thu hút, để cho một cái gì đó trong hình tư tưởng sẽ gợi ra sự đáp ứng từ các hình tư tưởng khác hoặc là từ các thể trí mà nó có thể tiếp xúc.
Khi cả ba mục tiêu này đã được đạt tới, sự sống của chính hình tư tưởng bây giờ mạnh đến nỗi nó có thể theo đuổi chu kỳ sống nhỏ bé của riêng nó và làm tròn nhiệm vụ của nó, chỉ được liên kết với kẻ sáng tạo ra nó bằng một sợi dây nhỏ có chất liệu tỏa sáng, vốn là một tương ứng với sutratma. Mọi hình tư tưởng đều có một sutratma (sinh mệnh tuyến) như thế. Nó nối liền các thể của một người với Chủ Thể bên trong, hoặc là với dòng từ lực, phát ra từ Chủ Thể thực sự, tức Thái Dương Thượng Đế, dòng từ lực này nối liền Đấng Sáng Tạo của thái dương hệ với hình tư tưởng vĩ đại của Ngài bằng một dòng năng lượng từ Mặt Trời Tinh Thần trung ương với một điểm trong tâm của Mặt Trời vật chất.
Bao lâu mà sự chú ý của kẻ sáng tạo về bất cứ hình tư tưởng nào, lớn hoặc nhỏ, được hướng về phía nó, khoen nối từ điện đó còn tồn tại, hình tư tưởng được cấp sinh lực và công việc của nó vẫn trôi chảy. Khi công việc được hoàn thành, và hình tư tưởng đã đáp ứng được mục đích của nó, mọi tác nhân sáng tạo, dù cố ý hoặc vô tâm, chuyển sự chú ý của mình ra nơi khác, hình tư tưởng của y liền tan rã.
Vì thế, ý nghĩa huyền linh của mọi tiến trình có liên quan đến huyền học ở trong tầm nhìn, có thể được nhìn thấy. Bao giờ mà con mắt của Đấng Sáng Tạo còn đặt vào những gì được tạo ra, thì chừng đó nó còn tồn tại; nếu Đấng Sáng Tạo rút lại “ánh sáng tán thành của Ngài” thì cái chết của hình tư tưởng tiếp theo sau, vì sinh lực hoặc năng lượng đi theo con đường của mắt. Do đó, khi một người trong khi thiền định, xem xét công việc của mình và tạo ra hình tư tưởng của mình để phụng sự, thì về mặt huyền linh, y đang nhìn xem và tất nhiên là mang lại năng lượng; y bắt đầu vận dụng mắt thứ ba ở khía cạnh phụ của nó. Đệ tam nhãn hay là nhãn quang tâm linh có nhiều chức năng. Trong số các chức năng khác, đó là cơ quan soi sáng, con mắt không bị che lấp của linh hồn, nhờ đó ánh sáng và sự giác ngộ đi đến thể trí, và thế là toàn bộ sự sống thấp kém trở nên được rọi chiếu. Đó cũng là cơ quan mà năng lượng có chỉ đạo (directing energy) đang tuôn đổ qua 975 đó, mà dòng lưu xuất từ vị cao đồ sáng tạo hữu thức đi đến các khí cụ đùng để phụng sự, tức các hình tư tưởng của Ngài.
Dĩ nhiên những người kém tiến hóa không vận dụng được con mắt thứ ba để kích hoạt các hình tư tưởng của họ. Trong đa số các trường hợp, năng lượng mà họ dùng xuất phát từ huyệt đan điền, và hoạt động theo hai hướng, hoặc là xuyên qua các cơ quan sinh sản, hoặc là qua các con mắt hồng trần. Nơi nhiều người, ba điểm này – các cơ quan thấp kém, huyệt đan điền, và đôi mắt nhục thân – hợp thành một tam giác lực mà dòng năng lượng tuôn chảy chung quanh đó trước khi đi ra hình tư tưởng được biểu lộ bên ngoài. Nơi người tìm đạo, và người mở mang trí tuệ, tam giác có thể đi từ huyệt đan điền đến bí huyệt cổ họng và từ đó đến hai mắt. Sau này khi người tìm đạo tăng thêm hiểu biết và có động lực trong sạch, tam giác năng lượng sẽ có quả tim là điểm thấp nhất thay vì là huyệt đan điền, còn mắt thứ ba sẽ bắt đầu làm công việc của nó, dù cho đến nay còn bất toàn.
Bao lâu mà “Con Mắt” còn hướng đến hình hài được sáng tạo, luồng thần lực sẽ được chuyển đến nó và con người càng nhất tâm (one-pointed), thì có thể năng lượng này càng được tập trung và có hiệu lực. Nhiều tình trạng kém hiệu năng của con người là do sự kiện các lưu tâm của họ không những kém tập trung, mà còn rất phân tán, và không có một điều gì thu hút sự chú tâm của họ cả. Họ đặt tản mát năng lượng của họ và đang cố làm thỏa mãn mọi ham muốn vô định của họ, và làm qua loa mọi việc đang xảy đến với họ. Do đó không hề có một ý tưởng nào mà họ từng nghĩ đến khoác được một hình dáng thực sự nào, hoặc được làm cho mạnh mẽ đúng mức bao giờ. Tất nhiên, chúng được bao quanh bởi một đám mây dày đặc của các hình tư tưởng được tạo ra bởi một nửa hình đang tan rã và các đám mây bằng vật chất được làm cho mạnh mẽ (được tiếp sinh lực) chỉ một phần đang trong tiến trình tan rã. Về mặt huyền linh, việc này tạo ra một tình trạng tương tự với việc phân rã của một hình hài vật chất, và cũng là một điều khó chịu và có hại cho sức khỏe và tinh thần (unwholesome). Việc đó giải thích rất nhiều về tình trạng bệnh hoạn của gia đình nhân loại vào lúc này.
Thất bại trong việc sáng tạo tư tưởng cũng do sự kiện là
976 các định luật về tư tưởng không được dạy ra, và con người không biết làm thế nào, qua thiền định, để tạo ra những đứa trẻ với hoạt động của họ điều khiển được công việc của họ. Các kết quả trên cõi trần đạt được nhanh chóng hơn nhiểu nhờ sáng tạo tư tưởng có khoa học hơn qua phương tiện cõi trần một cách trực tiếp. Điều này đang trở nên hiện thực hơn, nhưng cho đến khi nhân loại đã đạt đến một mức độ thanh khiết và không vị kỷ nhiều hơn, việc giảng giải tỉ mỉ hơn về diễn trình tất nhiên phải được che giấu.
Một lý do khác đối với việc không hiệu quả trong sáng tạo là do các luồng sinh lực phát ra từ đa số con người vốn thuộc về một đẳng cấp thấp, nên các hình tư tưởng không bao giờ đạt đến một trình độ hoạt động độc lập, ngoại trừ qua công việc tập thể chồng chất. Chỉ khi nào vật chất của ba cõi phụ cao của cõi cảm dục và hồng trần tìm được vị trí của nó trong hình tư tưởng, nó đã được cấp năng lượng chính yếu bằng năng lượng hỗn loạn (mob energy). Khi chất liệu cao siêu bắt đầu tìm được lối vào hình tư tưởng, lúc bấy giờ nó có thể được thấy đang hoạt động một cách độc lập, vì Chân Ngã cá biệt của người có liên hệ có thể bắt đầu hoạt động qua vật chất – một điều mà trước đây không thể xảy ra. Ego không thể hoạt động một cách tự do trong phàm ngã cho đến khi vật chất thuộc cõi phụ thứ ba được tìm thấy trong các thể của phàm ngã đó; sự tương ứng tất nhiên vẫn đúng.
Một khi hình tư tưởng đã được truyền sinh khí và dĩ thái hình của nó trở nên được hoàn bị hay được “phong kín” (“sealed”) như người ta thường gọi, nó có thể đạt đến hình thức vật chất trọng trược nếu muốn. Điều này không có nghĩa là các hình tư tưởng cá nhân của mọi người chiếm lấy vật chất trọng trược trên cõi dĩ thái, mà là chúng sẽ trở nên hoạt động được trên cõi trần. Ví dụ một người đang suy tưởng đến một tư tưởng thân ái; y đã tạo nên hình tư tưởng và cấp sinh lực cho nó; nó lộ ra bên ngoài đối với người có nhãn thông và tồn tại trong chất dĩ thái sát gần với con người. Do đó, nó sẽ tìm cách biểu lộ ở cõi trần bằng một hành động thân ái hoặc là một sự vuốt ve/âu yếm xác thân. Khi tác động đã qua, sự âu yếm đã xong, sự chú ý của con người vào hình tư tưởng đặc thù đó kết thúc và hình tư tưởng tan biến. Đối
977 với một tội lỗi cũng thế – hình tư tưởng đã được tạo ra và tất nhiên nó sẽ tìm cách biểu lộ ở cõi trần bằng một hành vi nào đó. Mọi hoạt động thuộc mỗi loại đều là kết quả :
a/ Của các hình tư tưởng được tạo ra một cách hữu ý hoặc
vô tình.
b/ Của các hình tư tưởng tự tạo hoặc của ảnh hưởng của
các hình tư tưởng của những kẻ khác.
c/ Của sự đáp ứng với các xung lực bên trong của chính mình, hoặc là của sự đáp ứng với các xung lực của những kẻ khác, và do đó đáp ứng với các hình tư tưởng tập thể.
Do đó, điều hiển nhiên thiết yếu biết bao và có ảnh hưởng biết bao đến những người cả nam lẫn nữ là bởi các hình tư tưởng mà chính họ tạo ra, tức là những đứa con bằng trí của những người khác.
c. Ý nghĩa huyền bí của ngôn từ. Thánh Kinh cổ xưa có nói:
“Lắm lời sẽ sinh nhiều lỗi” (“In the multitude of words there wanteth not sin”. Thánh Kinh Cựu Ước, Châm Ngôn 10:19 – Đa ngôn đa quá), vì trong lượn sóng các lời nói ở giai đoạn này của trình độ tiến hóa con người, nhiều lời được phát ra không có mục đích hoặc từ các động lực mà (khi được phân tích) sẽ thấy là hoàn toàn dựa vào phàm ngã. Sự tiến bộ nếu được tạo ra theo đường lối tiếp cận với các Bí Pháp càng lớn thì sự thận trọng mà người tìm đạo phải giữ càng nhiều. Điều này cần thiết vì ba lý do:
Thứ nhất, do trình độ tiến hóa của y, y có thể tăng thêm sức mạnh cho các ngôn từ của mình theo một cách thức mà sẽ khiến cho y kinh ngạc nếu y có thể thấy được trên cõi trí. Y tạo được chính xác nhiều hơn là kẻ thông thường, hình tư tưởng th